Một số vấn đề về quyền tham chính của phụ nữ trong lĩnh vực lập pháp ở Việt Nam

Một số vấn đề về quyền tham chính của phụ nữ  
trong lĩnh vực lập pháp ở Việt Nam  
Phan Thanh Hà(*)  
Tóm tắt: Bài viết phân tích khái niệm “quyền tham chính của phụ nữ trong lĩnh vực lập  
pháp“ dưới góc độ bình đẳng giới và góc độ quyền, trên cơ sở đó, chỉ ra thực trạng của  
vấn đề hiện nay. Đồng thời, tác giả cũng làm rõ một số tồn tại cần được khắc phục trong  
quá trình thực hiện quyền tham chính của phụ nữ trong lĩnh vực lập pháp ở Việt Nam.  
Từ khóa: Quyền tham chính, Lập pháp, Quyền của phụ nữ, Bình đẳng giới, Việt Nam  
Abstract: The paper analyzes the concept of “women’s right to participate in the legislative  
process” in terms of gender equality and human rights, based on which identify the  
current situation in Vietnam. It concurrently reveals a number of shortcomings that await  
solutions in the process of exercising women’s rights to participate in the legislation in  
Vietnam.  
Keywords: Political Right, Legislation, Women’s Rights, Gender Equality, Vietnam  
1. Khái niệm quyền tham chính1(*)  
Thứ nhất, mức độ tham chính của phụ  
Về mặt thuật ngữ, “tham chính” có thể nữ là một trong những thước đo tốt nhất  
hiểu là “tham gia vào chính quyền ở một đánh giá vai trò của họ và về thực trạng bình  
công việc nào đó” (Xem: Vietlex Trung đẳng giới trong đời sống chính trị nói riêng  
tâm Từ điển học, 2011: 1416). Để hiểu rõ và trong xã hội nói chung. Thời khắc phụ nữ  
hơn, cần xem xét quyền này dưới nhiều được trực tiếp cầm lá phiếu tham gia bầu cử,  
góc độ.  
Quyền tham chính của phụ nữ là thước đất nước, hay tự đứng ra ứng cử… chính là  
đo quan trọng về mức độ bình đẳng giới lúc lịch sử ghi nhận vai trò và tiếng nói của  
thể hiện ý kiến về một vấn đề quan trọng của  
Dưới góc độ lịch sử và xã hội, tham họ, đồng thời, khẳng định sự tôn trọng, bảo  
chính, thực hiện các quyền chính trị là đảm và bảo vệ giá trị, phẩm giá của phụ nữ.  
những phương thức quan trọng góp phần Phụ nữ tham chính cũng tức là tham gia vào  
xác lập năng lực pháp lý bình đẳng giữa quá trình ra quyết định những vấn đề lớn của  
phụ nữ với nam giới trong việc tham gia xã hội, đất nước, bằng chính năng lực của  
quản lý nhà nước và xã hội.  
mình, trong quan hệ bình đẳng với nam giới.  
Điều này thực sự có ý nghĩa trong tiến trình  
phát triển của lịch sử nhân loại.  
Thứ hai, quyền tham chính của phụ nữ  
phản ánh bản chất dân chủ và bình đẳng  
(*)  
TS., Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm  
Khoa học xã hội Việt Nam;  
Thông tin Khoa học xã hội, số 2.2020  
18  
của xã hội. Bình đẳng giới, trong đó có bình thông qua các tổ chức đại diện và họ được  
đẳng giới về tham chính được bảo đảm thì lựa chọn (Điều 21).  
các quyền con người, quyền cơ bản của  
Ở Việt Nam, quyền chính trị đã được  
công dân mới được thực hiện đầy đủ. Khi khẳng định từ Hiến pháp năm 1946. Theo  
các quyền con người, quyền cơ bản của đó, quyền chính trị quan trọng hàng đầu  
công dân được bảo đảm, bảo vệ trong thực được Hiến pháp năm 1946 quy định là  
tế, không phân biệt giới tính, tuổi tác, giai quyền “được tham gia chính quyền và công  
cấp, dân tộc, thì tính chính đáng của Nhà cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức  
nước mới thực sự được khẳng định, dân hạnh của mình” (Điều 7)1, tiếp tục được  
chủ mới thực sự được phát huy. Do đó, có phát triển và hoàn thiện qua các bản Hiến  
thể nói sự tham chính của phụ nữ là một pháp năm 1959, năm 1980, 1992 và Hiến  
thước đo phản ánh dân chủ trong xã hội.  
Quyền tham chính là một quyền  
chính trị  
pháp năm 2013 (Hiến pháp hiện hành).  
Hiến pháp năm 2013 đã phát triển, quy  
định cụ thể, chặt chẽ hơn các quyền chính  
Dưới khía cạnh quyền, tham chính là trị của công dân gồm: quyền bầu cử và  
một quyền chính trị. quyền ứng cử (Điều 27); quyền tham gia  
Quyền chính trị của con người hay quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo  
quyền con người về chính trị là những nhu luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về  
cầu, lợi ích chính trị tự nhiên, vốn có và các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước  
khách quan của con người, được ghi nhận, (Điều 28); quyền biểu quyết khi Nhà nước  
bảo đảm và bảo vệ trong luật pháp quốc tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29); quyền  
tế và pháp luật quốc gia (Xem: Võ Khánh tự do ngôn luận, báo chí, quyền tiếp cận  
Vinh, 2011: 24-26). Bảo đảm quyền của thông tin (Điều 25); quyền tự do hội họp,  
phụ nữ trong lĩnh vực chính trị có vai trò lập hội, biểu tình (Điều 25); quyền tự do tín  
đặc biệt quan trọng trong bảo đảm vị thế ngưỡng và tôn giáo (Điều 24); quyền bình  
của phụ nữ trong xã hội.  
đẳng của các dân tộc (Điều 5) (Xem: Hiến  
Quyền chính trị của con người đã pháp năm 2013, https://thuvienphapluat.  
được nhắc đến trong các văn bản pháp lý vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/Hien-  
quốc tế như Hiến chương Liên Hợp Quốc phap-nam-2013-215627.aspx).  
năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về quyền  
Như vậy, có thể thấy quyền tham chính  
con người (UDHR) năm 1948, Công ước nếu hiểu theo nghĩa hẹp, sẽ là quyền chính  
quốc tế về quyền chính trị của phụ nữ năm trị, trong đó, chủ thể quyền tham gia vào  
1952 và đặc biệt, được thể hiện tập trung chính quyền dưới các hình thức như: bầu  
trong Công ước quốc tế về các quyền dân cử và ứng cử, tham gia quản lý nhà nước  
sự và chính trị (ICCPR) năm 1966.  
Các quyền chính trị được chỉ ra trong  
1 Tiếp đó là các quyền: Quyền bầu cử và quyền ứng  
UDHR năm 1948 và tiếp tục được khẳng  
định, ghi nhận, cụ thể hóa trong ICCPR  
năm 1966 (Xem: Khoa Luật - Đại học  
Quốc gia Hà Nội, 2011: 76-96). Theo đó,  
mọi người đều có quyền tham gia quản  
lý đất nước mình một cách trực tiếp hoặc  
cử của công dân (Điều 18); Quyền bãi miễn đại biểu  
mà mình đã bầu ra của công dân (Điều 20); Quyền  
phúc quyết về hiến pháp và những việc quan hệ đến  
vận mệnh quốc gia (Điều 21) (Xem: Hiến pháp năm  
hanh-chinh/Hien-phap-1946-Viet-Nam-Dan-Chu-  
Cong-Hoa-36134.aspx).  
Một số vấn đề…  
19  
và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị người phụ nữ tham gia vào quá trình làm  
với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ luật và sửa đổi luật, theo một quy trình, thủ  
sở, địa phương và cả nước.  
tục chặt chẽ theo luật định, từ phân tích  
Còn hiểu theo nghĩa rộng, quyền tham chính sách, sáng kiến lập pháp, soạn thảo,  
chính là quyền chính trị, trong đó, chủ thể thẩm định, thảo luận, thông qua luật cho  
quyền tham gia vào chính trị dưới các hình đến khi ban hành luật.  
thức như: bầu cử và ứng cử; tham gia quản  
Với tư cách là các đại biểu nhân dân  
lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận ở Trung ương, tại cơ quan quyền lực nhà  
và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các nước cao nhất, phụ nữ phát huy được tối  
vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; đa ý nghĩa của quyền tham chính, với các  
biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu nội dung: bầu cử và ứng cử; tham gia quản  
ý dân; thực hiện tự do ngôn luận, báo chí, lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận  
tiếp cận thông tin; thực hiện quyền tự do và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các  
hội họp, lập hội, biểu tình; thực hiện quyền vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước;  
tự do tín ngưỡng và tôn giáo…  
biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu  
Có thể nói, các quyền chính trị (trong đó ý dân.  
có quyền tham chính) cùng với các quyền 2. Thực trạng tham chính của phụ nữ  
dân sự, quyền kinh tế - văn hóa - xã hội là trong lĩnh vực lập pháp ở Việt Nam  
những quyền con người, quyền cơ bản của  
Trong vòng hai thập kỷ gần đây, sự  
công dân, là thước đo trình độ phát triển tham gia và đại diện chính trị của nữ giới  
văn minh, dân chủ ở mỗi quốc gia. Việc bảo trong nghị viện ở Việt Nam tuy có dấu hiệu  
đảm vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực chính giảm nhưng vẫn xếp thứ hạng cao trên thế  
trị, nâng cao năng lực tham chính của phụ giới. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, tỷ lệ nữ  
nữ là một vấn đề mang tính thời đại, có vai đại biểu quốc hội là 27,6%, cao nhất trong  
trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao 2 nhiệm kỳ gần đây, xếp thứ 63 trong Liên  
vị thế của phụ nữ, phát huy dân chủ, bảo minh nghị viện thế giới. Ở trong nước, “dù  
đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội chưa đạt so với  
dân trong xã hội.  
Quyền tham chính của phụ nữ trong chất lượng và vị thế của nữ đại biểu đã có  
Trong lĩnh vực lập pháp, quyền tham vn/congtaccanbonu/...).  
chỉ tiêu 30% mà Trung ương đề ra nhưng  
chính được phát huy tối đa, bởi ở địa hạt  
a) Các bảo đảm pháp luật về quyền  
này, chủ thể quyền thực hiện vai trò của tham chính của phụ nữ trong lĩnh vực  
người đại biểu nhân dân, tham gia quản lập pháp  
lý nhà nước, thông qua việc thực hiện  
Về thể chế, bảo đảm các quyền chính  
các quyền chính trị quan trọng và cơ bản trị, trong đó có quyền tham chính của phụ  
nhất, dưới những hình thức khác nhau. nữ luôn được ưu tiên nhất quán trong chủ  
Ở đây, quyền tham chính của phụ nữ thể trương, chính sách và pháp luật ở Việt Nam.  
hiện thông qua vai trò của các nữ đại biểu Quan điểm của Đảng được chỉ rõ trong  
Quốc hội.  
Nghị quyết số 11/NQ-TW: “Phấn đấu đến  
Có thể hiểu quyền tham chính của phụ năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng  
nữ trong lĩnh vực lập pháp là quyền của các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc  
Thông tin Khoa học xã hội, số 2.2020  
20  
hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh  
đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng  
từ 30% trở lên nhất thiết có cán bộ lãnh đạo cách giới trong lĩnh vực chính trị. Trong đó,  
chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao chỉ tiêu 1 của mục tiêu này là: Phấn đấu đạt  
của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ  
có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng 2016-2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ Đại biểu  
giới”1. Trước khi có chủ trương này, Quyết Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các  
định số 19/2002/QĐ-TTg ngày 21/01/2002 cấp nhiệm kỳ 2011-2015 từ 30% trở lên và  
của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt nhiệm kỳ 2016-2020 trên 35%3.  
chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ  
Thể chế hóa các chủ trương chính sách  
nữ Việt Nam đến năm 2010 cũng đã đặt ra này, Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa  
các chỉ tiêu cụ thể như: “Phấn đấu đạt tỷ lệ đổi, bổ sung phù hợp. Để tạo lập sự bình  
50% cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ đẳng thực sự, khoản 1 và khoản 3 Điều 26  
chức chính trị - xã hội ở Trung ương và địa của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công  
phương có nữ tham gia ban lãnh đạo vào dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà  
năm 2010”2.  
nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ  
Tuy nhiên, cho đến năm 2007, tỷ lệ hội bình đẳng giới” và “Nghiêm cấm phân  
phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý vẫn rất biệt đối xử về giới”. Để tạo lập quyền được  
thấp, bị hẫng hụt, sụt giảm về số lượng. ưu tiên, khoản 2 Điều 26 Hiến pháp năm  
Đến năm 2017, theo Báo cáo tóm tắt 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội và gia  
việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn  
chinhphu.vn/portal/page/...), trong 22 chỉ hội”. Từ đạo luật cơ bản này, sự bình đẳng  
tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng và quyền được ưu tiên của phụ nữ đã được  
giới giai đoạn 2011-2020 (Chiến lược thiết lập. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc  
quốc gia 2011-2020), chỉ có 08 chỉ tiêu dự nhất cho mọi hoạt động lập pháp và thực thi  
kiến sẽ đạt vào năm 2020 và có “02 chỉ pháp luật trong bảo đảm bình đẳng và bảo  
tiêu thực hiện theo nhiệm kỳ 2016-2021 đảm sự ưu tiên đối với phụ nữ trên thực tế.  
không đạt gồm: Chỉ tiêu nữ tham gia các  
Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp,  
cấp ủy Đảng, Đại biểu Quốc hội và Hội hàng loạt văn bản pháp luật của Nhà nước  
đồng nhân dân các cấp và chỉ tiêu lãnh đạo đã được ban hành nhằm thực hiện bình  
chủ chốt là nữ”.  
đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ trong  
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới xã hội, như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao  
giai đoạn 2011-2020 đã đặt ra 7 mục tiêu, động, Luật Hôn nhân và Gia đình, Pháp  
với mục tiêu đầu tiên là tăng cường sự tham lệnh Dân số, Luật Phòng chống bạo lực gia  
đình, Luật Bình đẳng giới…  
1 Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ  
Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
Điều 11, Chương II, Luật Bình đẳng  
giới quy định bình đẳng giới trong lĩnh  
2
Chỉ tiêu 4 Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg của  
Thủ tướng Chính phủ ngày 21/01/ 2002 Phê duyệt 3 Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 của  
chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc  
Nam đến năm 2010.  
gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020.  
Một số vấn đề…  
21  
vực chính trị: nam, nữ bình đẳng trong hợp với Công ước CEDAW, cũng như  
tham gia quản lý nhà nước, tham gia truyền thống pháp lý tốt đẹp của dân tộc  
hoạt động xã hội, xây dựng và thực hiện nhằm hướng tới đạt mục tiêu và các chỉ  
hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc tiêu bình đẳng giới thực chất giữa nam và  
quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức; nữ mà Chiến lược quốc gia về bình đẳng  
Bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới đã đặt ra.  
giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại  
Về thiết chế, Nhà nước cũng lập nên  
biểu Hội đồng nhân dân, tự ứng cử và các cơ quan chuyên trách chăm lo, bảo vệ  
được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh quyền lợi hợp pháp cho phụ nữ như Vụ  
đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính Bình đẳng giới (Bộ Lao động - Thương  
trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề binh và Xã hội), Vụ Gia đình (Bộ Văn hóa,  
nghiệp... (Luật số 73/2006/QH11 của Quốc Thể thao và Du lịch), Vụ Sức khoẻ bà mẹ  
vn/portal/chinhphu/hethongvanban?class- gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam được  
id=1&mode=detail&document-id=28975). thành lập từ năm 1985 với tổ chức từ Trung  
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật ương đến địa phương, có chức năng, nhiệm  
Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp vụ giúp Thủ tướng Chính phủ giải quyết  
cũng quy định phụ nữ có quyền bầu cử, ứng các vấn đề liên ngành liên quan đến sự tiến  
cử cũng như các cơ chế để bảo đảm phụ nữ bộ của phụ nữ.  
được thực hiện những quyền đó.  
Bên cạnh đó, các quy định trong Công của phụ nữ trong lĩnh vực lập pháp  
ước quốc tế về Xoá bỏ mọi hình thức phân Theo số liệu bầu cử Đại biểu Quốc hội  
b) Thực trạng thực hiện tham chính  
biệt đối xử chống lại phụ nữ (Công ước Việt Nam, tỷ lệ nữ đại biểu liên tục tăng lên  
CEDAW)1 đã được từng bước nội luật hóa trong thời gian qua và duy trì ở mức cao.  
trong quá trình xây dựng pháp luật và các  
chính sách có liên quan đến phụ nữ. Trong  
- Về số lượng tham chính  
Nhìn chung, tỷ lệ đại diện của nữ giới  
hệ thống pháp luật Việt Nam xuất hiện trong Quốc hội khá cao so với chuẩn khu  
ngày càng nhiều các luật có liên quan đến vực. Tuy tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội giảm  
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ từ 27,31% (136/498) nhiệm kỳ khóa XI  
nữ như: Luật Bình đẳng giới năm 2006; (2002-2007) xuống 25,76% (127/493)  
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm trong nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011) và  
2007; Luật Hôn nhân và gia đình năm 24,4% (122/500) trong nhiệm kỳ khóa  
2014; Bộ luật Hình sự năm 2015 và sửa XIII (2011-2016), nhưng đến nhiệm kỳ  
đổi, bổ sung năm 2017; Luật Ban hành khóa XIV (2016-2021), con số này đã  
văn bản quy phạm pháp luật năm 2015… tăng lên 27,01% (Xem: http://quochoi.vn/  
và nhiều luật khác. Trong các văn bản luật tulieuquochoi/tulieu/baucuquochoi/...; Bùi  
trên đây, quyền của phụ nữ, trẻ em gái đã Ngọc Thanh, 2019). Đây là tỷ lệ tương  
được ghi nhận, về cơ bản đảm bảo sự phù đối cao qua các kỳ bầu cử Quốc hội và đã  
đưa Việt Nam thuộc nhóm các nước có tỷ  
lệ nữ đại biểu trong cơ quan lập pháp cao  
nhất châu Á và cũng như trên thế giới (trên  
25%). Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt  
1
Cong-uoc-ve-xoa-bo-moi-hinh-thuc-phan-biet-doi-  
xu-chong-lai-phu-nu-1979-269872.aspx  
Thông tin Khoa học xã hội, số 2.2020  
22  
Nam cao hơn hẳn so với Trung Quốc, Ấn nghĩa với việc giảm chất lượng ý kiến đóng  
Độ, Nhật Bản và nhiều nước trong khu vực. góp hay khả năng chất vấn Chính phủ của  
Cũng trong nhiệm kỳ 2016-2021, lần đầu họ về các vấn đề khác. Đồng thời, đại biểu  
tiên Việt Nam có đại biểu nữ nắm giữ vị trí nữ sẵn sàng tham gia thảo luận nhiều hơn  
Chủ tịch Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà so với đại biểu nam trong mọi vấn đề.  
nước cao nhất.  
- Về năng lực chuyên môn  
Trong hoạt động nghị trường, nữ đại  
biểu Quốc hội trong thời gian qua đã có  
Theo dõi biểu đồ qua các nhiệm kỳ, có những nỗ lực đáng ghi nhận trong quá trình  
thể thấy trình độ chuyên môn của nữ đại tham chính ở lĩnh vực lập pháp. “Các nữ  
biểu Quốc hội ngày càng nâng cao.  
đại biểu Quốc hội ngày càng nâng cao chất  
Quốc hội khóa XIV có 100% nữ đại lượng, tham gia nhiều ý kiến sâu sắc, xác  
biểu có trình độ đại học và đại học trở lên. đáng, có trách nhiệm, có trình độ, năng  
Nhiều nữ đại biểu giữ trọng trách cao trong lực. Những đóng góp của nữ đại biểu Quốc  
bộ máy Nhà nước. Lần đầu tiên có 3 nữ hội góp phần làm tốt chức năng của Quốc  
đại biểu Quốc hội là Ủy viên Bộ Chính trị hội là cơ quan giám sát tối cao, nâng cao  
và lần đầu tiên Quốc hội Việt Nam có nữ chất lượng hoạt động của Quốc hội; hoàn  
Chủ tịch Quốc hội. Bên cạnh đó luôn có nữ thành tốt trách nhiệm mà cử tri cả nước  
Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội giao phó” (Dẫn theo: https://moha.gov.vn/  
gov.vn/congtaccanbonu/...).  
kiến lập pháp liên quan đến dự án Luật  
Về chất lượng kỹ thuật trong bài phát Hành chính công của Đại biểu Quốc hội  
biểu, có thể thấy: Số đại biểu nam không có Trần Thị Quốc Khánh, Ủy viên Thường  
kiến thức chuyên môn là 5%, cao gấp đôi trực Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi  
nữ (2,5%); Số đại biểu nam có chút kiến trường của Quốc hội, người trình sáng kiến  
thức chuyên môn là 39,5% trong khi nữ dự án luật - làm trưởng ban soạn thảo. Điều  
là 30%; Số đại biểu nam có chuyên môn này được xem như một dấu ấn rất mới trong  
sâu là 59,5%, còn đại biểu nữ là 60%. Qua công tác lập pháp của Việt Nam, trong bối  
đó, nghiên cứu đã kết luận: ít có sự khác cảnh hầu hết các dự luật do Chính phủ trình  
biệt giữa nam giới và nữ giới về trình độ và bộ trưởng làm trưởng ban soạn thảo.  
chuyên môn trong các cơ quan lập pháp (ở  
Mặt khác, dù đảm nhiệm nhiều cương  
Việt Nam) (Xem: Biểu đồ về chất lượng vị khác nhau, nhưng đại đa số nữ đại biểu  
kỹ thuật trong bài phát biểu, trang 4, http:// Quốc hội đều được đánh giá là “giữ vững  
lanhdaonu.vn/profiles/...).  
phẩm chất là người đại biểu nhân dân, là  
nữ lãnh đạo gắn bó với cử tri, phản ánh  
- Về chất lượng tham chính  
Nghiên cứu về năng lực chuyên môn được tâm tư nguyện vọng của cử tri đến với  
của nữ đại biểu Quốc hội (Chương trình Quốc hội, các cơ quan Đảng, Nhà nước,  
Phát triển Liên Hợp Quốc và Bộ Ngoại Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bản thân các  
giao Việt Nam, 2014) cho thấy, các nữ đại nữ đại biểu đã vươn lên trong công tác.  
biểu thường đề xuất các vấn đề liên quan Nhiều nữ đại biểu đã phát huy trí tuệ, kinh  
đến phụ nữ và ủng hộ các chính sách vì phụ nghiệm công tác, dành nhiều thời gian,  
nữ hơn. Nữ đại biểu Quốc hội quan tâm công sức nghiên cứu, đóng góp vào thành  
hơn đến các vấn đề của nữ giới không đồng công chung của Quốc hội, tích cực tham  
Một số vấn đề…  
23  
gia ý kiến trên các lĩnh vực y tế, an ninh điểm chưa phù hợp trong quy định của pháp  
quốc phòng, đối ngoại…, nhất là vấn đề luật đã dẫn tới những hạn chế về điều kiện,  
bình đẳng giới, bảo vệ quyền lợi của phụ cơ hội tham chính bình đẳng của phụ nữ  
vn/congtaccanbonu/...).  
3. Một số vấn đề đặt ra  
dẫn đến áp lực và hạn chế trong quy hoạch  
và các điều kiện về thời gian làm việc, cống  
Có thể thấy, liên quan đến quyền tham hiến; chính sách thai sản còn chưa thực sự  
chính của phụ nữ nói chung và quyền tham đầy đủ, đặc biệt là khi liên quan đến các khu  
chính của phụ nữ trong lĩnh vực lập pháp vực phi nhà nước, các dịch vụ công hỗ trợ  
nói riêng, đang tồn tại một số vấn đề cần cho phụ nữ làm việc...  
khắc phục như sau:  
Mặt khác, liên quan đến các cam kết  
a) Về nhận thức  
quốc tế mà Việt Nam tham gia, vẫn còn  
Hiện nay, rào cản lớn nhất đối với năng những cam kết quốc tế chưa được thực thi  
lực tham chính của người phụ nữ chính đầy đủ. Cụ thể: chưa tiến hành tất cả các  
là các định kiến, những chuẩn mực đóng biện pháp thích hợp nhằm xoá bỏ sự phân  
khung về vai trò, trách nhiệm của người phụ biệt đối xử chống lại phụ nữ trong đời sống  
nữ trong xã hội (đàn bà xây tổ ấm, phụ nữ chính trị và công cộng của đất nước, như  
giỏi việc nước nhưng vẫn phải đảm cả việc chưa đảm bảo quyền: “... giữ các chức vụ  
nhà…), tư tưởng trọng nam khinh nữ…  
trong các cơ quan công cộng và thực hiện  
Có thể thấy, tàn dư của chế độ phong tất cả chức năng công cộng ở mọi cấp chính  
kiến, chế độ gia trưởng, trọng nam khinh quyền” (điểm b Điều 7 Công ước CEDAW)  
nữ, tư tưởng Nho giáo vẫn còn rơi rớt lại và quyền “tham gia các tổ chức và hiệp hội  
và ảnh hưởng đến tư duy, chuẩn mực và phi chính phủ liên quan đến đời sống công  
các định kiến giới vô hình của con người cộng và chính trị của đất nước” (điểm c  
Việt Nam. Những định kiến này tuy vô Điều 7 Công ước CEDAW). Chính quyền  
hình nhưng tạo ra những áp lực và những chưa “thực hiện tất cả các biện pháp thích  
khó khăn không hề nhỏ đối với quyền tham hợp, kể cả về mặt pháp lý, nhằm sửa đổi  
chính của người phụ nữ. Những định kiến hoặc xoá bỏ các luật và văn bản pháp luật  
này đến từ xã hội, cả trong gia đình, và còn hiện hành, các tập quán và phong tục tạo  
xuất phát từ chính quan niệm, nhận thức nên sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ”  
của người phụ nữ về năng lực, khả năng (Điểm f Điều 2 Công ước CEDAW). Đồng  
tham chính của bản thân mình.  
thời, cũng chưa có sự thực thi nhằm đảm  
Do đó, việc bồi dưỡng, nâng cao nhận bảo “quyền thăng chức” (Điểm c Điều  
thức về các quyền con người, quyền công 11 Công ước CEDAW) của phụ nữ trong  
dân, bình đẳng giới, ý thức về vai trò của công việc, chưa “thúc đẩy việc thiết lập  
phụ nữ trong xã hội không chỉ là nhiệm vụ và sự phát triển của hệ thống các cơ sở  
của riêng Nhà nước, mà còn cần có sự tham chăm sóc trẻ em” (Điểm c Khoản 2 Công  
gia rộng rãi, tích cực của các tổ chức, đoàn ước CEDAW) để tạo điều kiện cho nữ cán  
thể và cá nhân trong xã hội.  
bộ, công chức, viên chức có đủ điều kiện  
tham chính. Như vậy, nhìn chung các giới  
b) Về thể chế  
Một trong những lý do hạn chế quyền chức và cơ quan chính quyền cũng chưa có  
tham chính của phụ nữ, đó là vẫn còn những những hành động phù hợp với công ước  
Thông tin Khoa học xã hội, số 2.2020  
24  
quốc tế CEDAW (điểm d khoản 2 Công tuyển chọn, quy hoạch, bồi dưỡng và sử  
ước CEDAW). dụng cán bộ, làm giảm ý nghĩa và vai trò  
Mặt khác, cần ấn định trong Luật tỷ của phụ nữ trong việc tham chính, nhất là  
lệ phụ nữ tham chính trong tổ chức chính khi, quyền tham chính ấy được thực hiện  
quyền nhà nước, trong đó có lĩnh vực lập với tư cách là người đại biểu nhân dân.  
pháp. Cần nghiên cứu tỷ lệ Đại biểu Quốc  
hội thích hợp với mục tiêu quốc gia về bình  
d) Về nguồn lực  
Ở Việt Nam hiện nay, bộ máy giúp việc  
đẳng giới với tỷ lệ % nữ đại biểu Quốc hội cho Đại biểu Quốc hội có thể kể đến: các  
tương ứng (35% hay 40%).  
thiết chế ở Quốc hội, gồm: Văn phòng Quốc  
c) Về chính sách cán bộ  
hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ  
Như trên đã trình bày, chính sách quy Quốc hội (Ban Dân nguyện, Ban Công tác  
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng đại biểu, Viện Nghiên cứu lập pháp, Tổng  
cán bộ nữ đôi khi vướng mắc từ chính độ Thư ký Quốc hội, Văn phòng giúp việc  
tuổi nghỉ hưu hay chế độ thai sản đối với Đoàn đại biểu Quốc hội). Tuy vậy, Đại biểu  
phụ nữ, dẫn đến những thiệt thòi và thiếu Quốc hội chưa có bộ máy giúp việc riêng.  
hợp lý trong lĩnh vực này. Trong hoạt động Mọi công tác phục vụ đại biểu liên quan  
của Quốc hội, cần phải thừa nhận rằng, khi đến chuyên môn, cung cấp và xử lý thông  
một người trở thành Đại biểu Quốc hội thì tin chủ yếu do các đơn vị trong Văn phòng  
chắc chắn là hiệu quả công việc gắn với Quốc hội (nòng cốt là bộ máy chuyên viên  
nghề nghiệp của họ ít nhiều bị ảnh hưởng. thuộc các Ủy ban của Quốc hội), Viện  
Mặc dù tại Điều 47 của Luật Tổ chức Quốc Nghiên cứu lập pháp đảm trách. Trên thực  
hội 2001 đã quy định “cơ quan, tổ chức, tế, các cơ quan này mới đáp ứng được một  
đơn vị nơi đại biểu làm việc có trách nhiệm phần nhu cầu hỗ trợ cung cấp thông tin,  
tạo điều kiện để đại biểu thực hiện nhiệm xử lý thông tin và dịch vụ nghiên cứu của  
vụ”1, nhưng về lý thuyết, khó có thể bảo Đại biểu Quốc hội. Hiện nay, bộ máy Văn  
đảm rằng họ không thể bị mất việc từ sự phòng Quốc hội được cho là “đang có sự  
ảnh hưởng trên. Chính vì lý do đó, Đại biểu mất cân đối giữa cơ cấu cán bộ nghiên cứu,  
Quốc hội không chuyên trách được đảm tham mưu về chuyên môn và đội ngũ phục  
bảo rằng sẽ “không thể bị cơ quan, đơn vị vụ” (Viện Nghiên cứu lập pháp - Ủy ban  
nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi thường vụ Quốc hội, 2016: 85) , do đó, việc  
việc, nếu không được Ủy ban Thường vụ cung cấp thông tin mới chỉ ở dạng thô, chưa  
Quốc hội đồng ý”.  
được xử lý.  
Điều này đối với Đại biểu Quốc hội là  
Mặt khác, cần xác định lại về tư duy  
cơ cấu trong quy hoạch, bổ nhiệm, bầu cử nữ lại càng tạo ra những rào cản, khó khăn  
cán bộ. Cần phải bảo đảm tính hợp lý và cho họ khi người phụ nữ phải gánh vác công  
chất lượng của cơ cấu, tránh tình hình thức, việc xã hội, vừa đảm nhiệm chức năng của  
lấy được dẫn đến những hạn chế trong khâu người vợ, người mẹ trong gia đình.  
e) Về năng lực của nữ đại biểu Quốc hội  
Từ ngày 06/01/1946 đến nay, vai trò,  
vị thế và năng lực hoạt động của đại biểu  
Quốc hội nữ ở Việt Nam ngày càng được  
khẳng định và phát huy. Tuy vậy, trong thời  
1
Luật số 30/2001/QH10 của Quốc hội: Luật Tổ  
page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1  
&mode=detail&document_id=10440  
Một số vấn đề…  
25  
gian tới, các nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam tiêu đặt ra, có sự chênh lệch khá lớn giữa  
cần tiếp tục tự trau dồi và được bồi dưỡng, tỷ lệ Đại biểu Quốc hội nam và nữ; việc  
nâng cao hơn nữa năng lực tham chính nói thực hiện quyền tham chính vẫn còn thụ  
chung, cũng như về hoạt động đại biểu dân động, hình thức và chưa thật sự hiệu quả,  
cử nói riêng. Đặc biệt, các nội dung cần nhất là trong việc thực hiện vai trò đại diện;  
được tập trung quan tâm hiện nay gồm: ý thức trách nhiệm, năng lực chuyên môn  
cung cấp thông tin, nâng cao kiến thức về chưa thật sự được phát huy vào công việc  
những vấn đề có liên quan đến nội dung tham chính.  
hoạt động Quốc hội theo từng kỳ họp, theo  
Trong thời gian tới, để bảo đảm và phát  
chương trình nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, huy vai trò của mình, nữ đại biểu Quốc  
kỹ năng lồng ghép vấn đề bình đẳng giới hội Việt Nam cần tiếp tục đổi mới, nâng  
trong xây dựng pháp luật, việc thực hiện cao chất lượng hoạt động tham chính. Nhà  
các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, nước và xã hội cũng cần có nhiều chính  
phân tích chính sách, tiếp xúc cử tri, phát sách thiết thực và chiến lược dài hơi để bảo  
biểu ý kiến, quan hệ báo chí, nâng cao kỹ đảm quyền tham chính của phụ nữ trong  
năng giám sát, về rà soát CEDAW trong lĩnh vực lập pháp, tạo điều kiện hơn nữa  
các dự án luật…  
để nữ đại biểu tham gia các hoạt động của  
Về cơ chế, cần tạo diễn đàn cho nữ Quốc hội, nâng cao toàn diện chất lượng  
đại biểu Quốc hội giao lưu, trao đổi kinh của nữ đại biểu Quốc hội trong hoạt động  
nghiệm hoạt động, xây dựng cơ chế phối tham chính  
hợp hoạt động có hiệu quả giữa nhóm nữ  
đại biểu Quốc hội Việt Nam với Hội Liên Tài liệu tham khảo  
hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban quốc gia vì 1. Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc  
sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là sự  
phối hợp trong việc tăng cường sự tham gia  
của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị.  
Riêng đối với các nữ đại biểu dân  
cử, cần tiếp tục thực hiện những khóa bồi  
dưỡng nâng cao năng lực của nữ giới về  
tham chính nói chung, cũng như về hoạt  
động đại biểu dân cử nói riêng.  
và Bộ Ngoại giao Việt Nam (2014),  
Tóm tắt kết quả Dự án “Nâng cao năng  
lực lãnh đạo của cán bộ nữ phục vụ  
triển khai Hội nhập Quốc tế”: Đại biểu  
nữ trong Quốc hội Việt Nam - từ tham  
gia đến đại diện, http://lanhdaonu.vn/  
profiles/lanhdaonuvn/uploads/attach  
/1425877592_dbqhthamgiadendaidien.  
pdf, truy cập ngày 15/12/2019  
Kết luận  
Có thể nói, về mặt hình thức và số 2. Bùi Ngọc Thanh (2019), “Nữ đại biểu  
lượng, mức độ tham chính của phụ nữ  
trong lĩnh vực lập pháp ở nước ta là khá  
cao so với khu vực và thế giới. Tuy nhiên,  
cần phải thừa nhận rằng bên cạnh những  
thành tựu, những mặt tích cực, quyền tham  
Quốc Hội khoá XIV - tiềm năng và hoạt  
động thực tiễn”, Báo Người đại biểu  
defaultaspx?tabid=76&New-Id=417578,  
truy cập lần cuối ngày 29/01/2019  
chính của phụ nữ trong lĩnh vực lập pháp ở 3. Võ Khánh Vinh (2011), Những vấn đề  
Việt Nam vẫn còn nhiều vướng mắc, hạn  
chế, như: tỷ lệ bầu cử, ứng cử và trúng cử  
Đại biểu Quốc hội nữ chưa cao như mục  
4lý luận và thực tiễn của nhóm quyền  
dân sự và chính trị, Nxb. Khoa học xã  
hội, Hà Nội.  
Thông tin Khoa học xã hội, số 2.2020  
26  
4. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội  
Chu-Cong-Hoa-36134.aspx, truy cập  
ngày 29/01/2019.  
(2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế  
về quyền con người, Nxb. Lao động - 10. Hiến pháp năm 2013, https://thuvien  
Xã hội.  
phapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh  
/Hien-phap-nam-2013-215627.aspx  
5. Viện Nghiên cứu lập pháp - Ủy ban  
thường vụ Quốc hội (2016), Quốc 11. Luật số 73/2006/QH11 của Quốc hội:  
hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam - Kế thừa, đổi mới và phát  
triển, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật,  
Hà Nội.  
Luật Bình đẳng giới, https://chinhphu.  
vn/portal/chinhphu/hethongvanban?  
class-id=1&mode=detail&document  
-id=28975  
6. Vietlex Trung tâm Từ điển học (2011), 12. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014,  
Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng,  
Hà Nội.  
7. Báo cáo tóm tắt về việc thực hiện mục  
tiêu bình đẳng giới quốc gia của Chính  
may-hanh-chinh/Luat-To-chuc-Quoc-  
hoi-2014-259784.aspx, truy cập ngày  
29/01/2019.  
phủ, http://www2.chinhphu.vn/portal/ 13. Nữ đại biểu Quốc hội đang dần nâng  
page/portal/chinhphu/hethongvanban/  
baocaochinhphu/chitietbaocao?catego-  
ryId=100003670&articleId=10058636,  
truy cập ngày 29/01/2020.  
cao vị thế, hoàn thành tốt nhiệm vụ,  
tintucsukien/nu-dai-bieu-quoc-hoi-  
dang-dan-nang-cao-vi-the-hoan-thanh-  
tot-nhiem-vu-38365.html, truy cập ngày  
29/01/2019.  
8. Đại biểu nữ trong Quốc hội Việt Nam  
từ tham gia đến đại diện, https://  
www.undp.org/content/dam/vietnam/ 14. Tư liệu bầu cử Đại biểu Quốc hội các  
docs/Publications/10%20DBQHtham  
giadendaidien.pdf, truy cập ngày  
29/01/2019  
tulieu/baucuquochoi/Pages/bau-cu-  
quoc-hoi.aspx?ItemID=23986&fbclid=  
IwAR1eASpwvsA5NqDX9H4rUIn0aK  
6O93dGPGPEda6SbD-ronf766diOYq_  
Rkk, truy cập ngày 29/01/2019  
9. Hiến pháp năm 1946, https://thuvien  
phapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-  
chinh/Hien-phap-1946-Viet-Nam-Dan-  
pdf 10 trang Thùy Anh 13640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về quyền tham chính của phụ nữ trong lĩnh vực lập pháp ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_ve_quyen_tham_chinh_cua_phu_nu_trong_linh_vuc.pdf