Phương hướng hoàn thiện lý luận về chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay

PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG  
BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY  
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG*  
Trong các chức năng tố tụng, chức năng buộc tội xuất hiện trước, là cơ sở xuất hiện chức năng  
bào chữa và chức năng xét xử. Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng lý luận về chức năng buộc  
tội trong tố tụng hình sự Việt Nam cũng như đưa ra phương hướng xây dựng cấu trúc lý luận của  
chức năng này để phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.  
Từ khóa: Chức năng buộc tội, tố tụng hình sự, chức năng tố tụng.  
Ngày nhận bài: 25/3/2021; Biên tập xong: 05/4/2021; Duyệt đăng: 17/4/2021  
Among procedural functions, the accusing function comes first which is premise and  
followed by the defense and judicial ones. This article clarifies and evaluates the theoretical  
status of the accusing function in Vietnameses criminal proceedings; then brings out the  
direction to set up its theoretical framework to be fit with the spirit of current judicial reform.  
Keywords: Accusing function, criminal proceedings, procedural functions.  
uộc tội là một trong những chức năng  
cơ bản trong tố tụng hình sự (TTHS),  
có vai trò rất quan trọng, là chức năng  
Một số nội dung lý luận được đề cập  
về CNBT trong TTHS có quan điểm cho  
rằng:“Buộc tội là ghép cho ai một việc bị luật hình  
sự trừng phạt hay buộc tội là luận tội”1 hay “buộc  
tội là buộc ai vào một tội nào đó, bắt phải nhận  
tội, chịu tội”2. Theo tác giả, nhìn nhận dưới góc  
độ ngôn ngữ học thì rõ ràng buộc tội không  
phải là ghép tội bởi ghép tội là khi một người  
không thực hiện hành vi phạm tội mà bị cho  
là thực hiện hành vi phạm tội. Buộc tội cũng  
không đồng nhất với luận tội, luận tội chỉ là  
sự thể hiện nội dung buộc tội diễn ra tại phiên  
tòa hình sự. Trong khi đó, buộc tội xuất hiện  
sớm hơn và tổng hợp nhiều hoạt động hướng  
tới việc buộc tội ở các giai đoạn tố tụng khác  
nhau. Quan điểm khác lại cho rằng:“CNBT  
còn gọi là chức năng truy cứu TNHS, là một dạng  
hoạt động tố tụng nhằm phát hiện kẻ phạm tội,  
chứng minh lỗi của người đó, bảo đảm phán xử và  
hình phạt đối với người đó”3. Đây là quan điểm  
B
tiền đề và có tính chất quyết định cho sự vận  
hành TTHS. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn  
nhiều ý kiến không thống nhất khi nhận thức  
về chức năng này. Nội dung, kết quả của các  
công trình nghiên cứu trong và ngoài nước  
đã giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản  
về chức năng buộc tội (CNBT) trong TTHS  
Việt Nam như: Xác định vị trí của chức năng  
tố tụng nói chung, trong đó có CNBT trong  
TTHS; xác định địa vị pháp lý của các chủ thể  
tham gia quan hệ pháp luật TTHS; mối quan  
hệ giữa chức năng tố tụng với các thành tố  
khác, xác định chính xác vị trí pháp lý của các  
chủ thể tố tụng trong thực hiện chức năng  
tố tụng; đưa ra được khái niệm chức năng  
tố tụng, phân tích các chức năng tố tụng cơ  
bản, mối quan hệ giữa chúng… Đây là những  
công trình có ý nghĩa trong việc xây dựng lý  
luận chung về vấn đề chức năng TTHS, làm  
nền tảng cho việc hoàn thiện lý luận về CNBT  
trong TTHS Việt Nam. Tuy nhiên, các công  
trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu  
trên bình diện chung về chức năng tố tụng,  
trong đó có CNBT mà chưa đi vào nghiên cứu  
một cách toàn diện, thấu đáo về CNBT.  
* Đại úy, Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Luật, Học viện An  
ninh nhân dân  
1ꢀ Từ điển Luật học, Nxb Quốc gia, tr.47.  
2ꢀ Từ điển Tiếng việt, Nxb Văn hóa Sài gòn, Tp Hồ Chí  
Minh, tr.181.  
3ꢀ Nguyễn Thái Phúc (1999), Một số vấn đề về quyền  
công tố của Viện kiểm sát, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp  
Bộ của Viện khoa học kiểm sát, Viện kiểm sát nhân  
dân tối cao.  
1. Thực trạng lý luận về chức năng buộc  
tội trong tố tụng hình sự Việt Nam  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 29  
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG...  
được thừa nhận một cách rộng rãi trong khoa khi chưa có đối tượng bị buộc tội và tồn tại  
học luật TTHS Việt Nam cũng như TTHS Xô cho đến thời điểm mà ở đó việc chứng minh  
Viết trước đây. Định nghĩa này đã đề cập  
một cách khá đầy đủ mục đích, nội dung, đối  
tượng tác động của CNBT. Theo quan điểm  
này, đồng nhất “buộc tội” với “truy cứu trách  
nhiệm hình sự”. Tuy nhiên, quan điểm này  
chưa chỉ rõ phạm vi tồn tại CNBT cũng như  
những chủ thể nào thực hiện chức năng này.  
Bên cạnh đó, còn tồn tại quan điểm đồng nhất  
CNBT với chức năng công tố và gắn chức năng  
này với chức năng thực hành quyền công tố:  
“Công tố, buộc tội, với tư cách là một chức năng  
TTHS luôn nhằm vào một cá nhân cụ thể và thực  
chất đó chính là hoạt động truy cứu trách nhiệm  
hình sự đối với người phạm tội.”4  
Trong khoa học pháp lý hiện nay, xác định  
thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của  
CNBT tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.  
Theo tác giả Nguyễn Thái Phúc, CNBT xuất  
hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết  
định khởi tố bị can và kết thúc bằng bản án  
kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.  
Quan điểm khác cho rằng, CNBT chỉ xuất  
hiện ở giai đoạn xét xử sơ thẩm tại phiên tòa,  
trong giai đoạn điều tra tồn tại chức năng  
điều tra5. Có quan điểm khẳng định:“CNBT  
thông thường bắt đầu kể từ khi Cơ quan điều tra  
(CQĐT) khởi tố bị can, tuy nhiên trong một số  
trường hợp thời điểm này xuất hiện sớm hơn – kể  
từ khi một người bị tạm giữ; CNBT sẽ kết thúc  
khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt hoặc  
áp dụng các biện pháp miễn hình phạt (toàn bộ)  
hoặc được đại xá hay ân xá”6. Có quan điểm  
cho rằng: CNBT xuất hiện từ khi khởi tố vụ  
án, thậm chí trước khi khởi tố vụ án (trường  
hợp khám nghiệm hiện trường…), CNBT sẽ  
kết thúc khi bản án kết tội có hiệu lực pháp  
luật của Tòa án hoặc kết thúc khi tại phiên tòa,  
Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố7.  
Theo tác giả, những quan điểm này hoặc là  
quá mở rộng phạm vi CNBT (buộc tội ngay  
buộc tội đã được Tòa án chấp nhận); hoặc là  
quá thu hẹp phạm vi CNBT (chỉ xuất hiện ở  
giai đoạn xét xử phủ nhận CNBT ở giai đoạn  
điều tra); thậm chí đánh đồng CNBT với việc  
“thực hành quyền công tố”.  
Chủ thể thực hiện CNBT cũng là một vấn  
đề tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến  
cho rằng CNBT là chức năng riêng của Viện  
kiểm sát (VKS): “Buộc tội là kết tội của VKS  
trước phiên tòa về hành vi phạm tội của bị cáo,  
dựa trên cơ sở phân tích chứng cứ, vận dụng các  
điều, khoản pháp luật đã quy định”8. Quan điểm  
này khẳng định phạm vi thực hiện CNBT của  
VKS cũng bó hẹp trong giai đoạn xét xử. Việc  
đánh đồng giữa buộc tội và kết tội là không  
chính xác, “kết tội” là kết quả của việc thực  
hiện chức năng xét xử của Tòa án, không phải  
là nội dung của CNBT. Quan điểm này cũng  
đã thu hẹp phạm vi của CNBT là CNBT chỉ  
tồn tại trong giai đoạn xét xử. Bên cạnh đó,  
cũng có những quan điểm mở rộng về phạm  
vi chủ thể thực hiện CNBT. Bên cạnh VKS là  
chủ thể buộc tội còn có sự tham gia của người  
bị hại trong các vụ án khởi tố theo yêu cầu của  
người bị hại.9  
Tuy nhiên, nếu chỉ bó hẹp ở hai chủ thể  
này thì chưa chính xác. Bởi lẽ, bên cạnh VKS,  
người bị hại xuất phát từ bản chất, mục đích,  
nội dung, phạm vi của CNBT thì bất cứ chủ  
thể có thẩm quyền nào thực hiện một trong  
các nội dung của CNBT đều được coi là chủ  
thể buộc tội. Pháp luật đã quy định cho CQĐT,  
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một  
số hoạt động điều tra những quyền năng nhất  
định trong giai đoạn điều tra để phát hiện,  
thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh làm  
rõ tội phạm và người thực hiện hành vi phạm  
tội theo chức năng, nhiệm vụ được giao như:  
Quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, đề nghị  
truy tố… Những hoạt động này là nội dung  
của CNBT. Vì vậy, chỉ nhấn mạnh đến ý nghĩa  
quyết định trong truy cứu trách nhiệm hình  
sự mới là chủ thể của CNBT là không hợp lý.  
4ꢀ Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Các chức năng trong tố  
tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực  
tiễn, Luận án tiến sĩ, Học viện khoa học xã hội.  
5ꢀ V.M.Xavitxki (1971), Buộc tội Nhà nước tại phiên tòa,  
Nxb Khoa học Matxcơva.  
Sự không thống nhất trên trong các nội  
6ꢀ Phạm Hồng Hải (1998), Mấy suy nghĩ về vấn đề bảo vệ 8ꢀ Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Thuật ngữ pháp lý, Nxb  
quyền con người trong tố tụng hình sự ở nước ta, Tạp chí Chính trị quốc gia – Sự thật.  
Nhà nước và pháp luật số 3.  
9ꢀ Nguyễn Đức Thái (2015), Quyền buộc tội của người  
7ꢀ Lê Tiến Châu (2003), Một số vấn đề về chức năng buộc bị hại trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học pháp  
tội, Tạp chí Khoa học pháp lý số 3.  
lý số 1.  
30 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG  
dung lý luận về CNBT trong TTHS Việt Nam hiện hành vi phạm tội, tội phạm đã thực hiện,  
đã chỉ ra những hạn chế nhất định, đòi hỏi những tình tiết thể hiện tính chất và mức độ  
phải có những nghiên cứu hoàn thiện về hệ nguy hiểm của hành vi phạm tội, chứng minh  
thống lý luận CNBT trong TTHS Việt Nam, lỗi của những người đã thực hiện tội phạm,  
đủ khả năng làm cơ sở sáng tỏ thực tiễn thực động cơ mục đích cũng như những tình tiết  
hiện CNBT, làm mới lý luận cũ theo quan tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Có  
điểm đổi mới và cải cách tư pháp trong tình thể nói, nội dung CNBT chính là nội dung các  
hình hiện nay.  
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể buộc tội  
theo quy định của pháp luật.  
Một là, để góp phần hoàn thiện lý luận về  
nội dung CNBT, pháp luật TTHS cần công  
nhận quyền công tố và thực hành quyền công  
tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra cho CQĐT.  
Hai là, bên cạnh việc công nhận chức năng  
buộc tội của CQĐT, luật TTHS cũng cần có  
các quy định cụ thể về cơ chế buộc tội và gỡ  
tội của CQĐT. Thông thường, một chủ thể  
vừa thực hiện chức năng gỡ tội, vừa thực hiện  
chức năng buộc tội sẽ không đạt hiệu quả cao  
bằng việc hai chủ thể thực hiện hai chức năng  
một cách độc lập. Do đó, pháp luật TTHS  
cần quy định thêm một lực lượng trực thuộc  
CQĐT làm nhiệm vụ gỡ tội để phản biện lại  
bên buộc tội là một giải pháp cần thiết nhằm  
giải quyết vụ án hình sự đúng đắn, khách  
quan, tránh làm oan người vô tội. Việc làm  
này còn giúp CQĐT định hướng trước những  
2. Phương hướng xây dựng cấu trúc lý  
luận về chức năng buộc tội trong tố tụng  
hình sự Việt Nam  
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng lý luận  
về CNBT trong TTHS Việt Nam hiện nay, cần  
xác định phương hướng cụ thể xây dựng cấu  
trúc lý luận về CNBT trong TTHS như sau:  
Thứ nhất, xác định cấu trúc của CNBT trong  
TTHS  
Việc làm rõ những vấn đề này có ý nghĩa  
quan trọng, cho phép chủ thể nghiên cứu  
có được cái nhìn toàn cảnh về đối tượng  
nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng  
nghiên cứu, qua đó phát hiện những thiếu  
sót về mặt lý luận để tiếp tục nghiên cứu, bổ  
sung, hoàn thiện. Lý luận về CNBT có thể  
được xác định bao gồm khái niệm, nội dung,  
phạm vi, chủ thể của CNBT trong TTHS.  
Thứ hai, hoàn thiện khái niệm CNBT trong khả năng mà người bào chữa có thể tranh biện  
TTHS  
Buộc tội là hoạt động của các chủ thể có  
thẩm quyền do pháp luật quy định, đưa ra sự  
khẳng định trong việc truy cứu trách nhiệm  
để giúp CQĐT chủ động hơn trong giai đoạn  
điều tra, đặc biệt là trong giai đoạn xét xử khi  
CQĐT được mời tham gia phiên tòa.  
Ba là, cần hoàn thiện quy định pháp luật tố  
hình sự đối với một chủ thể cụ thể thực hiện tụng đảm bảo tính độc lập của những người  
hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội tiến hành tố tụng trong CQĐT, VKS. Bổ sung,  
phạm theo trình tự, thủ tục luật định. Trên cơ hoàn thiện các quy định liên quan đến việc  
sở phân tích các quan điểm khoa học, tác giả xác định nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT,  
cho rằng: CNBT là phương diện hoạt động cơ VKS trong việc thực hiện chức năng buộc tội.  
bản của TTHS bắt đầu từ khi khởi tố bị can  
Bốn là, pháp luật TTHS cần tăng thẩm  
(trong một số trường hợp bắt đầu từ khi bắt,  
quyền của CQĐT và những người tiến hành  
tạm giữ người) cho đến khi bản án của Tòa án  
tố tụng trong CQĐT. Thực tế trong giai đoạn  
tuyên có hiệu lực pháp luật được các chủ thể  
khởi tố, điều tra, VKS là chủ thể giám sát hoạt  
có thẩm quyền (VKS, CQĐT, Cơ quan được  
động điều tra của CQĐT, hỗ trợ về mặt pháp  
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động  
lý để CQĐT thực hiện chức năng buộc tội. Do  
điều tra, bị hại trong trường hợp khởi tố theo  
đó, ở các giai đoạn này, VKS thực hiện chức  
yêu cầu của bị hại) sử dụng các quyền năng tố  
năng kiểm sát hoạt động buộc tội của CQĐT  
tụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối  
là chủ yếu. Còn Thủ trưởng, Phó thủ trưởng  
với người hoặc pháp nhân thực hiện hành vi  
CQĐT là người cùng với Điều tra viên chịu  
mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.  
trách nhiệm trước pháp luật về kết quả điều  
Thứ ba, hoàn thiện lý luận về nội dung CNBT tra vụ án hình sự, là chủ thể chính trong việc  
trong TTHS  
Nội dung CNBT bao gồm những hoạt  
động tố tụng nhằm phát hiện người đã thực  
đưa ra các quyết định thực hiện chức năng  
buộc tội đối với người bị buộc tội.  
Năm là, để xây dựng lý luận về nội dung  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 31  
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG...  
CNBT cần hoàn thiện quy định pháp luật  
Để hoàn thiện lý luận về phạm vi CNBT  
tố tụng về quan hệ giữa CQĐT với VKS. Để trong TTHS, tác giả đưa ra quan điểm sau:  
đảm bảo nâng cao hiệu quả việc thực hiện  
chức năng buộc tội của CQĐT và VKS trong  
các giai đoạn tố tụng, Bộ Công an, Bộ Quốc  
phòng cùng với Viện kiểm sát nhân dân tối  
cao căn cứ trên đường lối chủ trương, chính  
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong  
đấu tranh phòng, chống tội phạm, cần ký kết  
các Thông tư liên tịch để hướng dẫn công  
tác kiểm sát, phối hợp trong các hoạt động  
tố tụng thực hiện chức năng buộc tội, trong  
việc thực hiện các hoạt động thu thập chứng  
cứ, củng cố chứng cứ, đánh giá chứng cứ, áp  
dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện CNBT.  
Đồng thời, CQĐT và VKS các cấp cần ký kết  
các quy chế phối hợp công tác để nâng cao  
hiệu quả buộc tội trong TTHS góp phần giải  
quyết vụ án hình sự nhanh chóng, hiệu quả,  
chính xác, không làm oan người vô tội, không  
bỏ lọt tội phạm.  
Việc xác định phạm vi của CNBT phải dựa  
vào các yếu tố nhất định như bản chất, nội  
dung của CNBT, đối tượng của CNBT và chủ  
thể tiến hành cũng như xem xét những yếu  
tố mang tính nguyên lý về mối quan hệ của  
chức năng tố tụng với mô hình tố tụng và các  
chức năng tố tụng với nhau. Xét ở góc độ bản  
chất, CNBT có thể kết thúc sớm hơn tùy từng  
vụ án, tùy từng giai đoạn tố tụng; có thể vụ án  
bị đình chỉ ở giai đoạn điều tra, truy tố hoặc  
tiền xét xử thì CNBT cũng chấm dứt ở đó. Mặt  
khác, CNBT tồn tại từ giai đoạn điều tra và sẽ  
kéo dài cho đến khi bản án hoặc quyết định  
của Tòa án có hiệu lực pháp luật, tức là nó  
phải trải qua giai đoạn điều tra và giai đoạn  
xét xử. Tất nhiên, việc buộc tội trong giai  
đoạn điều tra và giai đoạn xét xử có những  
nội dung khác nhau.  
Thứ năm, hoàn thiện lý luận về chủ thể chức  
năng buộc tội trong tố tụng hình sự  
Thứ tư, hoàn thiện lý luận về phạm vi CNBT  
trong TTHS  
Chủ thể buộc tội là các cơ quan và cá nhân  
được pháp luật quy định chịu trách nhiệm  
trong việc thực hiện truy cứu trách nhiệm  
hình sự đối với chủ thể thực hiện hành vi có  
dấu hiệu vi phạm và bảo đảm thuyết phục  
Tòa án bằng việc ra một bản công nhận một  
người đã thực hiện hành vi phạm tội theo  
pháp luật hình sự quy định. Để xác định đúng  
đắn, chủ thể thực hiện chức năng buộc tội cần  
xuất phát từ mục đích, bản chất, vị trí, vai trò,  
phạm vi tồn tại và nội dung của CNBT. Ở mỗi  
mô hình tố tụng khác nhau, chủ thể buộc tội  
được pháp luật quy định khác nhau.  
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra  
quan điểm: CNBT do nhiều chủ thể thực hiện  
ở những mức độ và phạm vi khác nhau. Chủ  
thể đó bao gồm VKS, CQĐT, Cơ quan được  
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động  
điều tra, người bị hại và người đại diện hợp  
pháp của họ.  
Phạm vi CNBT hiện nay trong tố tụng có  
nhiều quan điểm tồn tại. Có những trường  
hợp, CNBT trong TTHS xuất hiện sớm hơn,  
khi mà các cơ quan có thẩm quyền có những  
cáo buộc bằng văn bản thông qua các biện  
pháp cưỡng chế TTHS như bắt, tạm giữ. Sau  
khi xuất hiện, các hoạt động tố tụng sẽ diễn ra  
nhằm làm sáng tỏ sự buộc tội của các chủ thể  
có thẩm quyền. Tuy nhiên, việc này được tiến  
hành ở các mô hình tố tụng khác nhau cũng  
có sự khác nhau. Ở mô hình thẩm vấn hoặc  
mô hình tố tụng pha trộn thiên về thẩm vấn,  
sau sự buộc tội là quá trình điều tra, truy tố,  
xét xử. Trong mô hình tố tụng tranh tụng, các  
chủ thể buộc tội tiếp tục có hoạt động thu thập  
chứng cứ để bảo vệ quan điểm buộc tội của  
mình và đưa vụ án ra Tòa án để xem xét. Vì  
vậy, phạm vi của CNBT xuất hiện và kéo dài  
tùy thuộc vào từng mô hình tố tụng. Hầu hết  
các quan điểm đều cho rằng CNBT kết thúc  
khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.  
Có thể nói, quá trình xét xử tại phiên tòa là  
quá trình các chức năng tố tụng được thể hiện  
một cách đầy đủ và rõ nét nhất. Các CNBT và  
gỡ tội đều được thực hiện để bảo đảm cho Tòa  
án ra phán quyết cuối cùng kết luận bản chất  
của vụ án. Khi Tòa án ra bản án và bản án của  
Tòa án có hiệu lực pháp luật thì mọi cơ quan,  
VKS là chủ thể chính thực hiện CNBT. Tất  
cả các quan điểm khoa học đều thừa nhận  
đây là chủ thể buộc tội. VKS thông qua các  
quyền năng pháp lý của mình tham gia buộc  
tội từ khi bắt người, tạm giữ, khởi tố thông  
qua việc phê chuẩn các quyết định này của  
CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến  
hành một số hoạt động điều tra. Có một số  
tổ chức, cá nhân đều có nghĩa vụ tôn trọng và trường hợp, VKS còn trực tiếp ra các quyết  
nghiêm chỉnh chấp hành.  
định buộc tội đó. Trong giai đoạn điều tra,  
32 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG  
VKS tiếp tục cùng với CQĐT thu thập, củng vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc  
cố các chứng cứ để phát hiện người thực hiện  
hành vi phạm tội cũng như làm rõ hành vi  
phạm tội, lỗi của bị can trong vụ án. Trong  
giai đoạn truy tố, sự củng cố tài liệu, chứng  
cứ tiếp tục được thực hiện nhằm ra bản cáo  
trạng làm cơ sở đưa bị can ra tòa xét xử về  
hành vi phạm tội mà cơ quan này đã khẳng  
định. Ở giai đoạn xét xử, VKS tiếp tục duy trì  
sự buộc tội tại phiên tòa thông qua phần việc  
xét hỏi, luận tội, tranh tụng tại tòa để bảo vệ  
quan điểm buộc tội của mình và thuyết phục  
Tòa án đưa ra phán quyết về hành vi phạm tội  
của bị cáo. Như vậy, có thể thấy, với các nội  
dung buộc tội trong các giai đoạn đó thì VKS  
luôn giữ vai trò là chủ thể chính trong việc  
thực hiện CNBT.  
người đại diện hợp pháp của bị hại thực hiện  
CNBT thông qua yêu cầu khởi tố vụ án hình  
sự. Yêu cầu khởi tố của bị hại là căn cứ để khởi  
tố vụ án hình sự. Đối với các vụ án khởi tố  
theo yêu cầu của bị hại, pháp luật chính thức  
thừa nhận họ có quyền buộc tội công khai tại  
phiên tòa. Đây là điểm nhấn mạnh vai trò chủ  
thể buộc tội của bị hại trong các vụ án khởi tố  
theo yêu cầu. Mặt khác, việc rút yêu cầu khởi  
tố vụ án của bị hại cũng trong các vụ án này  
cũng chính là căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ  
án, có nghĩa là sự tồn tại của CNBT đã chấm  
dứt. Vì vậy, có thể khẳng định bị hại trong các  
vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại là  
một trong các chủ thể buộc tội trong TTHS.  
Tóm lại, chức năng TTHS là những mặt,  
những phương diện hoạt động chủ yếu nhằm  
thực hiện trình tự, thủ tục TTHS. Đây là nội  
dung quan trọng trong TTHS Việt Nam; do  
đó, bài viết là quan điểm khoa học của tác giả  
nhằm góp phần xây dựng cấu trúc lý luận  
hoàn chỉnh về CNBT theo tinh thần cải cách  
tư pháp của nước ta trong giai đoạn hiện nay./.  
CQĐT là chủ thể thực hiện CNBT. Để  
xác định CQĐT là chủ thể buộc tội cần phải  
khẳng định CNBT tồn tại trong giai đoạn điều  
tra và điều tra không phải là chức năng độc  
lập trong TTHS. Trong giai đoạn điều tra,  
CNBT của CQĐT được thể hiện thông qua tất  
cả những gì CQĐT thực hiện theo quy định  
của pháp luật để phát hiện, thu thập tài liệu,  
chứng cứ chứng minh làm rõ tội phạm và  
người thực hiện hành vi phạm tội. Trên cơ sở  
đó, CQĐT đưa ra những quyết định buộc tội  
đối với người thực hiện hành vi phạm tội như:  
Bắt, tạm giữ, khởi tố... Những hoạt động trên  
đây chính là cơ sở pháp lý xác định CQĐT là  
chủ thể buộc tội trong TTHS.  
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành  
một số hoạt động điều tra cũng tương tự như  
CQĐT. Ở những vụ án thuộc thẩm quyền của  
mình, Cơ quan này cũng được pháp luật trao  
quyền để thu thập chứng cứ chứng minh tội  
phạm, người phạm tội và ra các quyết định  
buộc tội nhất định trong các vụ án mình thụ  
lý theo thẩm quyền. Kết quả của sự buộc tội từ  
các cơ quan này làm cơ sở quan trọng để VKS  
thực hiện CNBT của mình ở các giai đoạn tiếp  
theo. Chính vì vậy, Cơ quan được giao nhiệm  
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng  
là chủ thể thực hiện CNBT.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lê Tiến Châu (2003), Một số vấn đề về chức  
năng buộc tội, Tạp chí Khoa học pháp lý số 3;  
2. Phạm Hồng Hải (1998), Mấy suy nghĩ về  
vấn đề bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự ở  
nước ta, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3;  
3. Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Thuật ngữ  
pháp lý, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật;  
4. Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Các chức năng  
trong tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý  
luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ, Học viện khoa  
học xã hội;  
5. Nguyễn Thái Phúc (1999), Một số vấn đề về  
quyền công tố của Viện kiểm sát, Kỷ yếu đề tài khoa  
học cấp Bộ của Viện khoa học kiểm sát, Viện kiểm  
sát nhân dân tối cao;  
6. V.M.Xavitxki (1971), Buộc tội Nhà nước tại  
phiên tòa, Nxb Khoa học Matxcơva;  
7. Nguyễn Đức Thái, (2015), Quyền buộc tội  
của người bị hại trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa  
học pháp lý số 1;  
Bị hại trong các vụ án khởi tố theo yêu cầu  
cũng được xác định là chủ thể buộc tội. Bị  
hại là người hoặc cơ quan, tổ chức bị hành vi  
phạm tội trực tiếp xâm hại đến. Việc tham gia  
tố tụng của chủ thể này nhằm bảo vệ quyền  
lợi chính đáng của mình, quyền lợi chính  
đáng đó có mối quan hệ biện chứng đối với  
8. Từ điển Luật học, Nxb Quốc gia;  
9. Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sài Gòn,  
hành vi phạm tội đã gây ra cho họ. Trong các Tp Hồ Chí Minh.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 33  
pdf 5 trang Thùy Anh 12260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phương hướng hoàn thiện lý luận về chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphuong_huong_hoan_thien_ly_luan_ve_chuc_nang_buoc_toi_trong.pdf