Tội phạm đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông - Những khó khăn, vướng mắc trong phát hiện, điều tra, xử lý và giải pháp khắc phục

TỘI PHẠM ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN  
MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG - NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG  
MẮC TRONG PHÁT HIỆN, ĐIỀU TRA, XỬ LÝ VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC  
TRẦN QUANG TÙNG*  
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, bài viết làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong  
phát hiện, điều tra, xử lý và đưa ra giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội  
phạm đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính (MMT), mạng viễn thông (MVT).  
Từ khóa: Tội phạm, công nghệ cao, mạng máy tính, mạng viễn thông.  
Ngày nhận bài: 23/4/2021; Biên tập xong: 23/4/2021; Duyệt đăng: 23/4/2021  
Based on theoretical research and practical experience, the article analyses the obstacles in  
the detection and investigation processes of the crime of illegal upload or use of information  
on computer networks or telecommunications networks, then proposes solutions to improve  
the effectiveness in preventing that kind of crime.  
Keywords: Crime, high technology, computer networks, telecommunication networks.  
rong số những hành vi phạm tội sử dụng hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính,  
công nghệ cao, nổi lên là hành vi đưa  
hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng  
mạng viễn thông  
T
Hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể về  
“thông tin trái với quy định của pháp luật” tại  
điểm a, khoản 1, Điều 288 BLHS năm 2015. Qua  
nghiên cứu cho thấy, mỗi văn bản pháp luật lại  
tiếp cận nội dung này dưới những khía cạnh  
và phạm vi khác nhau, có thể kể đến như: Điều  
21 Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người  
có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng  
tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền  
bảo vệ danh dự, uy tín của mình”. Bộ luật dân  
sự năm 2015 có Điều 32 quy định về: “Quyền  
cá nhân đối với hình ảnh” và Điều 38 quy định:  
“Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí  
mật gia đình”. Luật An ninh mạng, tại các điều  
8,16,17và 18quyđịnhvềcáchànhvixâmphạm  
An ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trên  
không gian mạng. Nghị định 72/2013/NĐ-CP  
ngày 15/7/2013 về quản lý, cung cấp, sử dụng  
dịch vụ Internet và thông tin trên mạng (sửa  
đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số  
27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018) tại khoản 1  
Điều 5 cũng đưa ra các hành vi bị cấm trên  
mạng Internet. Điều 102 Nghị định số 15/2020/  
NĐ-CP ngày 03/02/2020 quy định xử phạt vi  
phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính,  
viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô  
tuyến điện quy định về xử phạt: “Vi phạm quy  
máy tính, mạng viễn thông được quy định tại  
Điều 288 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi,  
bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015). Đây là  
những hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng  
viễn thông những thông tin trái với quy định  
của pháp luật, mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa  
chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin  
riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân  
trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà  
không được phép của chủ sở hữu thông tin đó  
hoặc các hành vi sử dụng trái phép thông tin  
trên mạng máy tính, mạng viễn thông.  
Theo báo cáo tổng kết năm 2020 của Cục  
An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử  
dụng công nghệ cao, Bộ Công an cho thấy,  
riêng trong năm 2020, trên thế giới (trong đó  
có Việt Nam) ghi nhận thông tin của 235 triệu  
tài khoản Instagram, TikTok, YouTube; 6000  
nhân viên của Boeing; 150 triệu người dân  
Mỹ; 26.000 dữ liệu khách hàng của Honda bị  
rò rỉ trên mạng; 267 triệu tài khoản Facebook  
bị đánh cắp. Những thông tin cá nhân bị các  
đối tượng đăng tải trái phép lên mạng Internet  
nhằm thu lợi bất chính và nhiều mục đích  
phạm tội khác.  
Một số khó khăn, vướng mắc trong quá  
trình phát hiện, điều tra, xử lý loại tội phạm  
này là:  
Thứ nhất, khó khăn, vướng mắc trong áp dụng  
các quy định của BLHS năm 2015 đối với tội đưa  
* Thạc sĩ, Khoa Toán - Tin học và Ứng dụng khoa  
học công nghệ trong phòng chống tội phạm, Học viện  
Cảnh sát nhân dân  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 25  
TỘI PHẠM ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN...  
định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung rất phổ biến trên các trang mạng, các đối tượng  
cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử không khó khăn để thay đổi ngay từ đầu các  
dụng thông tin”.  
dữ liệu điện tử liên quan đến quá trình phạm  
tội như thay đổi địa chỉ IP (fake IP), giả địa chỉ  
thư điện tử (fake email)... Đối tượng cũng có  
thể dễ dàng tiêu huỷ các thiết bị lưu trữ, gây ra  
những hỏng hóc về mặt vật lý khiến cho việc  
phục hồi dữ liệu vô cùng khó khăn, hoặc nếu  
có phục hồi thì cũng cần những phương tiện  
chuyên dụng cao cấp và tốn nhiều thời gian.  
Thứ ba, khó khăn trong xác định người đăng tải  
thông tin trái với quy định của pháp luật và hình  
thức xử lý đối với người chia sẻ những thông tin  
vi phạm  
Như vậy, do có nhiều văn bản pháp luật  
quy định khác nhau về các hành vi bị cấm trên  
không gian mạng nên chưa có sự thống nhất  
trong công tác đấu tranh phòng, chống tội  
phạm đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin  
mạng máy tính, mạng viễn thông. Điều này  
gây nhiều khó khăn trong quá trình phát hiện,  
điều tra về hành vi phạm tội này.  
Đồng thời, về vấn đề xác định hậu quả phi  
vật chất, theo quy định tại Điều 288 BLHS năm  
2015, hậu quả của tội phạm đưa hoặc sử dụng  
trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn  
Một thực tế đang diễn ra trên không gian  
thông là một tình tiết định tội và định khung. mạng là có nhiều thông tin trái với quy định  
Điều này có nghĩa là hành vi phạm tội đưa của pháp luật, thông tin sai sự thật nhưng lại  
hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy được chia sẻ rất nhiều. Việc chia sẻ tin của mỗi  
tính, mạng viễn thông phải gây hậu quả nhất người có thể xuất phát từ những lý do khác  
định thì mới cấu thành tội phạm. Hậu quả của nhau, có người vì mục đích câu “view”, câu  
hành vi phạm tội này được xem xét trên hai “like”, có người vì vô tình không biết là thông  
khía cạnh là hậu quả vật chất và hậu quả phi tin sai, tin giả hoặc cho rằng đó là thông tin hữu  
vật chất. Hậu quả vật chất được xác định dựa ích… Việc những thông tin được lan truyền rất  
trên số tiền “thu lợi bất chính” hoặc số tiền nhanh chóng trên mạng Internet và được nhiều  
“gây thiệt hại” do đối tượng thực hiện hành người chia sẻ lại đã gây khó khăn trong việc  
vi phạm tội gây ra. Theo đó, để cấu thành tội truy nguyên nguồn gốc thông tin đó. Tuy vậy,  
phạm này, số tiền thu lợi bất chính của đối hệ thống pháp luật hiện hành cũng như thực  
tượng phạm tội phải từ 50.000.000 đồng và số tiễn phát hiện, điều tra, xử lý đối với tội phạm  
tiền gây thiệt hại phải từ 100.000.000 đồng trở này cũng chưa đặt ra trách nhiệm xử lý đối với  
lên. Một số hậu quả phi vật chất như: “gây dư những người chia sẻ thông tin, trong khi đây  
luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, mới chính là những người khiến những thông  
cá nhân”, “xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến tin trái quy định của pháp luật, thông tin sai sự  
người bị xâm phạm tự sát”, “gây ảnh hưởng thật bị lan truyền một cách nhanh chóng và để  
xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc lại nhiều hậu quả khi có nhiều người tiếp cận  
quan hệ đối ngoại của Việt Nam”, “dẫn đến với những thông tin này.  
biểu tình”. Tuy nhiên, bản thân điều luật và văn  
bản hướng dẫn thi hành quy định còn chung  
chung về hậu quả và các mức độ để đánh giá  
tính nghiêm trọng của các hậu quả phi vật chất  
này. Điều này gây khó khăn trong quá trình  
xác định hành vi phạm tội và áp dụng các tình  
tiết định khung với tội phạm này.  
Thứ hai, khó khăn, vướng mắc trong thu thập  
thông tin, tài liệu tồn tại dưới dạng dữ liệu điện tử  
để đấu tranh, xử lý với đối tượng  
Thứ tư, khó khăn trong phối hợp với các nhà  
cung cấp dịch vụ đề nghị cung cấp thông tin phục  
vụ công tác điều tra, xử lý  
Khoản 4 Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự  
(BLTTHS) năm 2015 quy định về trách nhiệm  
của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân  
trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nêu  
rõ: “Cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có  
trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện  
để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố  
Với tính chất của một loại tội phạm sử dụng tụng thực hiện nhiệm vụ”. Điều 168 BLTTHS  
công nghệ cao, những thông tin tài liệu phản năm 2015 có quy định yêu cầu các cơ quan, tổ  
ánh về hành vi phạm tội đưa hoặc sử dụng chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các yêu  
trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao  
thông cũng tồn tại dưới dạng dữ liệu điện tử nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều  
và rất dễ bị xoá bỏ, thay đổi, làm ẩn, mã hoá. tra, Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ  
Với chủ ý phạm tội, bằng khả năng kỹ thuật án hình sự; trường hợp không chấp hành mà  
và sự hỗ trợ của các phần mềm được cung cấp không vì lý do bất khả kháng hoặc không do  
26 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
TRẦN QUANG TÙNG  
trở ngại khách quan thì bị xử lý theo quy định gỡ bỏ thông tin vi phạm thì trong khoảng thời  
của pháp luật.  
gian đó, những thông tin đã được nhiều người  
khác chia sẻ lại và lan truyền nhanh chóng trên  
mạng Internet.  
Tuy nhiên, Điều 382, 383 BLHS năm 2015  
mới chỉ dừng lại ở việc xử lý đối với hành vi từ  
chối cung cấp tài liệu, cung cấp tài liệu sai sự  
thật của người làm chứng, người giám định,  
người định giá tài sản, người phiên dịch, người  
dịch thuật, người bào chữa; còn các cá nhân,  
tổ chức, cơ quan khác thì chưa có chế tài xử lý  
trong trường hợp không cung cấp hoặc cung  
cấp tài liệu sai sự thật. Chính vì vậy, trong thời  
gian qua, việc cung cấp thông tin về dữ liệu  
khách hàng của các nhà cung cấp dịch vụ như  
nhà mạng viễn thông, ngân hàng, nhà cung  
cấp dịch vụ trên mạng Internet, mạng xã hội  
(Facebook, Zalo…) cho cơ quan chức năng còn  
chậm và còn nhiều trường hợp từ chối cung  
cấp thông tin mà không có lý do hợp lý.  
Ngoài ra, mặc dù hợp tác trong gỡ bỏ thông  
tin vi phạm nhưng nhiều nhà cung cấp dịch  
vụ nước ngoài vẫn cho phép các chủ kênh vi  
phạm này đăng tải lại các clip đã gỡ. Điều này  
lý giải nhiều video vi phạm đã được gỡ sau đó  
lại tiếp tục xuất hiện trở lại, thậm chí còn cho  
phép chủ các kênh này tiếp tục sử dụng tính  
năng “gợi ý nội dung” để quảng bá, phát tán  
nội dung thông tin vi phạm.  
Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc  
trong phát hiện, điều tra, xử lý nhằm nâng cao  
hiệu quả phòng, chống loại tội phạm này, tác  
giả đề xuất một số giải pháp sau:  
Một là, kiến nghị, tham mưu hoàn thiện chính  
sách pháp luật  
Thứ năm, khó khăn trong việc gỡ bỏ những  
thông tin vi phạm trên không gian mạng đối với  
các nhà cung cấp thông tin công cộng qua biên giới  
Cần tham mưu cho Bộ Công an, các cơ quan  
có thẩm quyền nghiên cứu xây dựng và ban  
hành một văn bản hướng dẫn áp dụng các quy  
định của BLHS năm 2015 về một số tội phạm  
trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn  
thông, trong đó có tội phạm đưa hoặc sử dụng  
trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn  
thông. Theo đó, nội dung hướng dẫn cần giải  
quyết một số vấn đề cụ thể liên quan đến công  
tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng  
công nghệ cao nói chung và tội phạm đưa hoặc  
sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính,  
mạng viễn thông nói riêng như sau:  
+ Cần thống nhất việc định nghĩa, giải thích  
về “thông tin trái với quy định của pháp luật”  
và cụ thể các hành vi phạm tội của tội phạm  
đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng  
máy tính, mạng viễn thông làm cơ để để nhận  
diện và đấu tranh với loại tội phạm này.  
+ Đối với vấn đề xác định hậu quả phi vật  
chất, bản thân điều luật và văn bản hướng dẫn  
thi hành quy định còn chung chung về hậu quả  
và các mức độ để đánh giá tính nghiêm trọng  
của các hậu quả phi vật chất này. Khi xem  
xét hậu quả phi vật chất, có thể cân nhắc đến  
những vấn đề sau: Tần suất (số lần), khoảng  
thời gian người phạm tội thực hiện việc gửi,  
phát tán, cung cấp nội dung vi phạm; Những  
ảnh hưởng tới tinh thần và hành vi của nạn  
nhân là cá nhân do hành vi phạm tội gây ra  
như lo sợ, sang chấn, bế tắc tâm lý, tự tử, tự  
Hiện nay, quy định về việc gỡ bỏ thông tin  
vi phạm trên không gian mạng chủ yếu được  
căn cứ vào quy định tại Luật An ninh mạng  
năm 2018, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày  
03/02/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt  
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính,  
viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ  
thông tin và giao dịch điện tử và Thông tư  
số 38/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2016 của Bộ  
Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết  
về việc cung cấp thông tin công cộng qua biên  
giới. Theo đó, với các nhà cung cấp dịch vụ  
nước ngoài ở Việt Nam phổ biến như Facebook,  
Google, công tác phối hợp của cơ quan chức  
năng Việt Nam trong kiểm soát và gỡ bỏ các  
thông tin vi phạm vẫn còn rất hạn chế. Một  
phần nguyên nhân là vì chính sách pháp luật  
chưa đưa ra những chế tài xử lý cứng rắn với  
những nhà cung cấp dịch vụ này khi họ từ chối  
nghĩa vụ kiểm soát và ngăn chặn, gỡ bỏ những  
thông tin vi phạm.  
Bên cạnh đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều  
26 Luật An ninh mạng năm 2018 và khoản 1  
Điều 5 Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT ngày  
26/12/2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông  
thì trong vòng 24 giờ, các nhà cung cấp dịch  
vụ nước ngoài phải gỡ bỏ những thông tin vi  
phạm theo đề nghị từ lực lượng chuyên trách  
bảo vệ an ninh mạng của Bộ Công an hoặc  
cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin và  
Truyền thông. Có thể thấy, kể cả trong trường gây thương tích... Cần chú ý đến đặc điểm tâm  
hợp những nhà cung cấp dịch vụ này đồng ý lý, hoàn cảnh của nạn nhân để đánh giá mức  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 27  
TỘI PHẠM ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN...  
độ tác động ảnh hưởng cho phù hợp; Uy tín  
Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội  
của tổ chức, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi phạm đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin  
hành vi tội phạm; Thái độ nạn nhân đối với  
những thông tin có liên quan đến mình được  
người phạm tội gửi đến hoặc phát tán trên  
mạng; Số người kết nối, người viết bình luận,  
đưa ra những đánh giá và phát tán lại các nội  
dung vi phạm; Những ảnh hưởng của sự việc  
đến dư luận xã hội, cộng đồng mạng...  
mạng máy tính, mạng viễn thông, lực lượng  
An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử  
dụng công nghệ cao cần tăng cường quan hệ  
phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ trên  
mạng Internet, mạng viễn thông. Mối quan hệ  
này có thể được thực hiện thông qua các Quy  
chế phối hợp, Biên bản ghi nhớ.  
+ Cần hướng dẫn cụ thể về nguyên tắc, cách  
thức và quy trình thu thập, phân tích, bảo quản  
dữ liệu điện tử có liên quan đến hành vi phạm  
tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng  
máy tính, mạng viễn thông. Bởi lẽ, các quy  
định liên quan đến dữ liệu điện tử tại các điều  
87, 99 và 107 BLTTHS năm 2015 mới chỉ mang  
tính chất khái quát nên thực tế quá trình thu  
thập, phân tích, bảo quản dữ liệu điện tử còn  
chưa thống nhất và dễ xảy ra sai sót.  
+ Xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, thời  
gian cung cấp thông tin của các nhà cung cấp  
dịch vụ trên mạng Internet khi có yêu cầu đề  
nghị từ cơ quan chức năng, đảm bảo quá trình  
điều tra, xử lý hành vi phạm tội kịp thời, đúng  
luật.  
Đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước  
ngoài, phải có sự tuân thủ pháp luật Việt Nam,  
đặc biệt là những quy định trong Luật An  
ninh mạng như thực hiện các đề nghị của lực  
lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng của  
Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của  
Bộ Thông tin và Truyền thông, phải lưu trữ dữ  
liệu người dùng tại Việt Nam trong thời gian  
theo quy định, phải đặt chi nhánh hoặc văn  
phòng đại diện tại Việt Nam… Điều này nhằm  
tạo ra một cơ chế và hành lang pháp lý để nhà  
nước có thể quản lý những hoạt động của các  
nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tại Việt Nam,  
tạo sự bình đẳng giữa các nhà cung cấp trong  
và ngoài nước.  
Bốn là, về khoảng thời gian gỡ bỏ thông tin vi  
Hai là, tăng cường công tác tuyên tuyền, giáo phạm trên mạng máy tính, mạng viễn thông  
dục pháp luật và nâng cao nhận thức của những  
Hiện nay, khoảng thời gian được quy định  
để các nhà cung cấp dịch vụ trên mạng máy  
tính, mạng viễn thông gỡ bỏ các thông tin vi  
phạm được quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật  
An ninh mạng và Điều 5 Thông tư số 38/2016/  
TT-BTTTT ngày 26/12/2016 của Bộ Thông tin  
và Truyền thông. Theo đó, trong vòng 24 giờ  
kể từ thời điểm có đề nghị từ cơ quan chuyên  
trách bảo vệ an ninh mạng của Bộ Công an  
hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin  
và Truyền thông, các doanh nghiệp cung cấp  
dịch vụ trên mạng máy tính, mạng viễn thông  
phải gỡ bỏ các thông tin vi phạm trên nền tảng  
dịch vụ mà mình cung cấp. Tuy nhiên, với tốc  
độ lan truyền nhanh chóng của các thông tin  
trên mạng Internet, trong khoảng thời gian đó,  
các thông tin vi phạm đã được nhiều người  
chia sẻ hoặc sao, chụp lại và rất khó để kiểm  
soát thông tin.  
người tham gia vào môi trường mạng Internet  
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục  
pháp luật có vai trò rất quan trọng, cần thực  
hiện thường xuyên, liên tục nhằm giúp người  
dân nhận thức rõ tính hai mặt của Internet  
và mạng xã hội; nhận diện các thủ đoạn, nội  
dung thông tin vi phạm, tính chất nguy hại  
của nó đối với cá nhân và xã hội, tránh tình  
trạng vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống  
phá và các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu  
văn hóa trên không gian mạng. Đồng thời, cần  
tăng cường sự giám sát, phát hiện thông tin sai  
phạm từ cộng đồng; các thông tin sai trái trên  
mạng Internet cần được phản biện, phản bác  
công khai, kịp thời.  
Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền cần tập  
trung vào một số đối tượng cụ thể, như những  
người sở hữu tài khoản có tầm ảnh hưởng rộng  
rãi trên mạng Internet, mạng xã hội để góp  
phần định hướng thông tin đúng đắn và điều  
chỉnh hành vi sử dụng mạng Internet, mạng xã  
hội của người khác cho phù hợp.  
Vì vậy, cần nghiên cứu rút ngắn khoảng  
thời gian yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ  
mạng máy tính, mạng viễn thông gỡ bỏ thông  
tin vi phạm. Việc yêu cầu này có thể được thực  
hiện thông qua một số phương thức như qua  
Ba là, tăng cường mối quan hệ phối hợp với các  
nhà cung cấp dịch vụ trên mạng Internet, mạng các phương tiện điện tử, qua Email… để đảm  
viễn thông  
bảo sự nhanh chóng, kịp thời./.  
28 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
pdf 4 trang Thùy Anh 9040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tội phạm đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông - Những khó khăn, vướng mắc trong phát hiện, điều tra, xử lý và giải pháp khắc phục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftoi_pham_dua_hoac_su_dung_trai_phep_thong_tin_mang_may_tinh.pdf