Cơ chế kiểm soát rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn trong công ty

CƠ CHẾ KIỂM SOÁT RỦI RO ĐỐI VỚI  
HỢP ĐỒNG CÓ GIÁ TRỊ LỚN TRONG CÔNG TY  
PHẠM THỊ TRANG*  
Trong quá trình thành lập, tổ chức và hoạt động, các công ty phải giao kết nhiều loại hợp  
đồng, trong đó có những hợp đồng có giá trị lớn. Nếu công ty thực hiện thành công thì hợp đồng  
có giá trị lớn sẽ mang lại lợi nhuận lớn và ngược lại, khi rủi ro xảy ra với hợp đồng có giá trị  
lớn thì tổn thất mang lại cho công ty sẽ không nhỏ. Chính vì vậy, việc thiết lập một cơ chế để  
kiểm soát rủi ro trong suốt quá trình xác lập, thực hiện và chấm dứt hợp đồng có giá trị lớn là  
thực sự cần thiết. Bài viết phân tích sự cần thiết và các yếu tố cấu thành của cơ chế kiểm soát  
rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn trong công ty.  
Từ khoá: Cơ chế, rủi ro, kiểm soát rủi ro, hợp đồng, hợp đồng có giá trị lớn.  
Ngày nhận bài: 06/4/2021; Biên tập xong: 13/4/2021; Duyệt đăng: 13/4/2021  
During its establishment, organization and operation, company must enter into a variety  
of contracts including great value ones. If successfully, that type of contracts will bring great  
profits for company and vice versa. Therefore, it is necessary to setup a mechanism to control  
risks during the process of establishing, implementing and terminating great value contracts.  
The article analyzes the necessity and the constituent elements of the risk control mechanism  
for great value contracts in the company.  
Keywords: Mechanism, risk, risk control, contract, great value contract.  
1. Sự cần thiết phải kiểm soát rủi ro đối trị tài sản của công ty; những hợp đồng liên  
với hợp đồng có giá trị lớn trong công ty  
Nếu công ty được ví như cơ thể của một  
con người thì hợp đồng sẽ là các tế bào của  
cơ thể ấy. So sánh như vậy bꢀi cũng giống  
như các tế bào là những mảnh ghép để cấu  
tạo thành cơ thể người, hợp đồng cũng  
là những yếu tố để kiến tạo nên công ty.  
Tế bào có khoẻ mạnh thì cơ thể mới khoẻ  
mạnh, hợp đồng có đem lại giá trị lợi nhuận  
thì công ty mới phát triển.  
Việc giao kết, thực hiện hợp đồng của  
công ty luôn tiềm ẩn yếu tố rủi ro bꢀi giao  
kết, thực hiện hợp đồng là một quá trình  
với những khoảng thời gian dài ngắn khác  
nhau, bối cảnh, điều kiện khác nhau với  
các chủ thể khác nhau. Sự thay đổi thường  
xuyên của môi trường kinh doanh làm cho  
rủi ro là yếu tố thường trực, có thể xảy ra  
bất cứ khi nào trong quá trình giao kết, thực  
hiện hợp đồng.  
quan tới tài sản có giá trị lớn hoặc những  
hợp đồng làm phát sinh những nghĩa vụ,  
trách nhiệm lớn đối với công ty. Khi xảy ra  
rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn, công  
ty sẽ phải gánh chịu những tổn thất nặng  
nề; trong nhiều trường hợp có thể làm cho  
công ty thua lỗ và rơi vào tình trạng phá  
sản, dẫn đến những hệ lụy không đáng có  
với chủ sꢀ hữu công ty, người lao động của  
công ty và đối với nền kinh tế xã hội nói  
chung. Cụ thể:  
Thứ nhất, đối với cổ đông/thành viên  
công ty: Khi rủi ro xảy ra gây thiệt hại cho  
công ty thì có lẽ những người đầu tiên chịu  
hậu quả từ những thiệt hại đó là những  
người chủ sꢀ hữu công ty. Chủ sꢀ hữu công  
ty là những người đã đầu tư vào công ty, đã  
gửi gắm tích luỹ tài sản của mình vào việc  
góp vốn, mua cổ phần tại các công ty1. Thiệt  
* Thạc sĩ, Trưởng khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại  
học Kiểm sát Hà Nội  
Hợp đồng có giá trị lớn được hiểu là  
những hợp đồng mà bản thân giá trị của  
hợp đồng đó được coi là lớn so với tổng giá  
1ꢁ Phạm Duy Nghĩa, (2015), Giáo trình Luật kinh tế,  
Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr. 338.  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 51  
CƠ CHẾ KIỂM SOÁT RỦI RO ĐỐI VỚI...  
hại đã làm cho họ không được hưꢀng phần  
Do những tác động tiêu cực và ảnh  
lợi nhuận mà lẽ ra họ kỳ vọng sẽ nhận được hưꢀng có thể rất nặng nề cho chủ sꢀ hữu  
từ việc đầu tư vào công ty. Trong trường  
hợp nếu rủi ro từ hợp đồng có giá trị lớn  
làm cho công ty không thể phát triển hay  
không thể tồn tại thì phần vốn góp vào công  
ty của họ có thể sẽ bị giảm hoặc cũng có thể  
sẽ bằng không hoặc âm (đối với trường hợp  
thành viên hợp danh của công ty hợp danh  
là người phải chịu trách nhiệm vô hạn đối  
với các khoản nợ của công ty).  
Thứ hai, người lao động và gia đình của  
họ cũng là những đối tượng bị ảnh hưꢀng  
bꢀi rủi ro từ hợp đồng có giá trị lớn. Khi  
công ty phải gánh chịu những rủi ro lớn thì  
nguy cơ thường trực xảy ra đối với người  
lao động sẽ là tình trạng cắt giảm lao động  
và người lao động sẽ làm việc ít đi hoặc mất  
việc làm (khi công ty phá sản). Người lao  
động bị giảm khối lượng lao động hoặc mất  
việc làm dẫn đến hệ quả là giảm hoặc mất  
nguồn thu nhập. Điều này sẽ gây ra nhiều  
khó khăn cho chính bản thân người lao  
động và gia đình của họ trong việc đảm bảo  
cuộc sống.  
công ty, người lao động trong công ty, tới  
chính bản thân công ty và nền kinh tế, xã hội  
nên hợp đồng có giá trị lớn cần phải được  
xem xét, kiểm soát ngay từ những bước đầu  
tiên khi xác lập hợp đồng.  
2. Các yếu tố cấu thành cơ chế kiểm  
soát rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn  
trong công ty  
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, cơ  
chế được hiểu là “cách thức theo đó một  
quá trình được thực hiện”2. Quá trình kiểm  
soát rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn  
bao gồm việc nhận diện, đánh giá và đưa ra  
các biện pháp ứng phó với rủi ro. Trong đó,  
các biện pháp ứng phó với rủi ro được hiểu  
là việc phòng ngừa, hạn chế, chấp nhận và  
chuyển giao rủi ro trong quá trình xác lập,  
thực hiện và chấm dứt hợp đồng có giá trị  
lớn. Như vậy, cơ chế kiểm soát rủi ro đối  
với hợp đồng có giá trị lớn có thể được định  
nghĩa là “cách thức để thực hiện quá trình nhận  
diện, đánh giá và đưa ra các biện pháp ứng phó  
với rủi ro khi xác lập, thực hiện và chấm dứt  
hợp đồng có giá trị lớn” trên thực tế. Từ định  
nghĩa này, có thể thấy cơ chế để kiểm soát  
rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn đòi hỏi  
phải được cấu thành bꢀi ba yếu tố: Cơ sꢀ  
pháp lý để thực hiện việc kiểm soát rủi ro  
(“yếu tố thể chế”), các thiết chế thực hiện  
việc kiểm soát rủi ro và cơ chế đảm bảo cho  
quá trình kiểm soát rủi ro.  
Thứ ba, rủi ro từ hợp đồng có giá trị lớn  
trong một số trường hợp cũng có thể dẫn  
đến sự sụp đổ của công ty. Sự sụp đổ này có  
thể không diễn ra ngay lập tức mà sẽ diễn  
ra từ từ.  
Thứ tư, rủi ro từ hợp đồng có giá trị lớn  
cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực  
đến nền kinh tế, xã hội. Các tác động đó có  
thể ꢀ nhiều góc độ, khía cạnh nhưng nhìn  
một cách đơn giản nhất, có thể thấy được  
những tác động tiêu cực khi rủi ro làm cho  
công ty sụp đổ. Đó có thể là việc người lao  
động mất việc làm là gánh nặng cho xã  
hội, tăng số lượng người thất nghiệp, làm  
cho sức ép về việc làm ngày càng lớn và có  
thể nảy sinh các tệ nạn xã hội, thậm chí là  
tội phạm. Hay sự phá sản của một công ty  
cũng kéo theo sự khốn cùng và đôi khi là  
sự sụp đổ của các chủ nợ công ty đó hoặc  
các doanh nghiệp bạn hàng mà trong nhiều  
trường hợp có thể tạo ra hiệu ứng phá sản  
dây chuyền, dẫn đến sự suy thoái và khủng  
hoảng của nền kinh tế quốc gia.  
2.1. Cơ sở pháp lý của kiểm soát rủi ro  
đối với hợp đồng có giá trị lớn  
Kiểm soát rủi ro đối với hợp đồng có  
giá trị lớn sẽ không thể thực hiện được nếu  
không có các quy phạm pháp luật do cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành  
hoặc không có các quy định được ghi nhận  
trong điều lệ hoặc quy chế nội bộ của công  
ty. Các quy định pháp luật do nhà nước ban  
hành là những quy định để kiểm soát hợp  
đồng nói chung như: Quy định về thẩm  
quyền xác lập hợp đồng; quy định về trình  
2ꢁ Viện ngôn ngữ học, (2002), Từ điển tiếng Việt phổ  
thông, Nhà xuất bản Phương Đông, tr. 194.  
52 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
PHẠM THỊ TRANG  
tự, thủ tục xác lập hợp đồng; quy định về quyền đại diện xác lập, thực hiện; các quy  
định về giao kết, thực hiện, sửa đổi, chấm  
dứt hợp đồng; về trách nhiệm dân sự... Bộ  
luật tố tụng dân sự cũng có rất nhiều quy  
định về trình tự, thủ tục khꢀi kiện cũng  
như trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp  
thương mại, trong đó có các tranh chấp  
về hợp đồng tại Toà án. Các quy định này  
cũng là một cơ chế kiểm soát rủi ro đối  
với hợp đồng có giá trị lớn khi quá trình  
giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng có  
những vi phạm ảnh hưꢀng đến quyền và  
lợi ích hợp pháp của cổ đông/thành viên  
công ty.  
Ngoài Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng  
dân sự, một số đạo luật chuyên ngành cũng  
đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập  
cơ chế kiểm soát rủi ro đối với hợp đồng có  
giá trị lớn tại các công ty hoạt động theo quy  
định của luật chuyên ngành đó, ví dụ như  
các ngân hàng hoạt động theo Luật các tổ  
chức tín dụng. Tại luật này, việc kiểm soát  
đối với hợp đồng có giá trị lớn được quy  
định rất cụ thể và chi tiết tại các điều 59, 63,  
67.  
hiệu lực pháp lý của hợp đồng và các quy  
định khác. Điều lệ hoặc quy chế nội bộ của  
công ty sẽ được ban hành nhằm cụ thể hoá  
các quy định được ghi nhận trong pháp luật  
công ty.  
2.1.1. Pháp luật về công ty  
Pháp luật về công ty được hiểu là tổng  
hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước  
ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ  
phát sinh trong quá trình thành lập, tổ  
chức, quản lý, hoạt động, phát triển và kết  
thúc hoạt động của công ty. Nghiên cứu  
pháp luật về công ty ꢀ Việt Nam cho thấy  
văn bản đầu tiên chứa đựng các quy phạm  
điều chỉnh đối với hợp đồng có giá trị lớn là  
Luật doanh nghiệp năm 1999. Đạo luật này  
ra đời trong bối cảnh Việt Nam bước sang  
thời kỳ đổi mới và đã có nhiều thay đổi cơ  
bản sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI.  
Đặc biệt, trong thời kỳ này, nền kinh tế Việt  
Nam chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch  
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường  
và Luật công ty năm 1990 đã không còn phù  
hợp với sự chuyển đổi này. Đây là văn bản  
đầu tiên quy định về những hợp đồng có  
giá trị lớn do công ty xác lập cũng như cơ  
chế kiểm soát đối với loại hợp đồng này.  
Sau này, những quy định về kiểm soát hợp  
đồng có giá trị lớn được duy trì trong các  
luật doanh nghiệp như: Luật doanh nghiệp  
năm 2005, 2014 và 2020.  
2.1.3. Điều lệ công ty  
Kiểm soát rủi ro nói chung và kiểm soát  
rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn nói  
riêng trước hết là câu chuyện của tự thân  
công ty. Để tạo lập được cơ sꢀ pháp lý cho  
hoạt động kiểm soát rủi ro đối với hợp đồng  
có giá trị lớn, công ty cần phải xây dựng và  
ban hành các quy định cụ thể trong Điều lệ  
và các quy chế/nội quy của công ty.  
Điều lệ công ty thường được coi là bản  
Hiến pháp của công ty3 bꢀi văn bản này  
là thoả thuận giữa các cổ đông/thành viên  
công ty về tất cả những vấn đề quan trọng  
nhất liên quan đến thành lập, tổ chức và  
hoạt động của công ty; phân chia, định  
hướng quyền và nghĩa vụ phát sinh trong  
công ty4.  
2.1.2. Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự  
và các luật chuyên ngành  
Pháp luật công ty đóng vai trò quan  
trọng trong việc xây dựng cơ chế kiểm soát  
đối với hợp đồng có giá trị lớn. Tuy nhiên,  
ngoài pháp luật công ty, Bộ luật dân sự,  
Bộ luật tố tụng dân sự cũng đóng vai trò  
thiết yếu đối với việc kiểm soát đối với hợp  
đồng có giá trị lớn. Lý do là ꢀ chỗ, Bộ luật  
dân sự có rất nhiều nội dung quy định về  
giao dịch, hợp đồng; trong đó có nhiều nội  
dung liên quan trực tiếp đến việc kiểm soát  
hợp đồng có giá trị lớn. Ví dụ: Các quy định  
của Bộ luật dân sự về đại diện; về hậu quả  
Điều lệ công ty cũng mang tính chất là  
3ꢁ Luật công ty của New Zealand quy định: Điều lệ là  
Hiến pháp của công ty  
4ꢁ Lê Văn Tranh, (2017), Luận giải về công ty cổ phần,  
của giao dịch dân sự do người không có Nhà xuất bản Tư pháp, tr. 58.  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 53  
CƠ CHẾ KIỂM SOÁT RỦI RO ĐỐI VỚI...  
một hợp đồng nhưng phải coi đây là một các công ty đại chúng có số lượng cổ đông  
hợp đồng “đặc biệt”. Điều lệ là một hợp rất lớn. Các cổ đông hoạt động theo cơ chế  
đồng bꢀi nó là kết quả của sự thoả thuận cuộc họp và mặc dù đã được mời gọi theo  
giữa các cổ đông/thành viên công ty dựa  
trên nền tảng của tự do khế ước, tự do kinh  
doanh. Tính đặc biệt của Điều lệ thể hiện ꢀ  
điểm:  
đúng quy trình, thủ tục luật định nhưng  
việc yêu cầu có mặt của tất cả các cổ đông  
là một điều phi thực tế. Như vậy, nếu làm  
đúng nguyên tắc phải có tất cả các bên tham  
gia hợp đồng mới sửa đổi, bổ sung được thì  
sẽ chẳng bao giờ có thể sửa đổi, bổ sung  
được Điều lệ. Bꢀi vậy, việc sửa đổi, bổ sung  
Điều lệ được thực hiện theo nguyên tắc dựa  
trên một tỷ lệ có mặt và đồng thuận nhất  
định của các cổ đông/thành viên chứ không  
phải yêu cầu sự có mặt và đồng thuận của  
tất cả các bên như trong lý thuyết về hợp  
đồng.  
Như vậy, có thể kết luận, với tính chất  
là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất trong  
nội bộ công ty, đồng thời cũng là một hợp  
đồng đặc biệt, Điều lệ có vai trò điều chỉnh  
tất cả mọi vấn đề trong công ty, trong đó có  
vấn đề kiểm soát rủi ro đối với hợp đồng có  
giá trị lớn.  
-
Các bên tham gia trong hợp đồng  
này là các cổ đông/thành viên công ty chỉ  
được phép thoả thuận các điều khoản của  
hợp đồng dựa trên một khung đã được định  
sẵn bꢀi các quy định pháp luật về công ty.  
Ví dụ: Nếu pháp luật công ty quy định “Đại  
hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) có quyền thông  
qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có  
giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị  
tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại  
thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc  
một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn theo quy  
định tại “Điều lệ công ty” thì quy định này  
phải được hiểu là một hợp đồng vay, cho  
vay, bán tài sản mà có giá trị bằng hoặc lớn  
hơn 50% tổng giá trị tài sản của công ty sẽ bắt  
buộc phải được thông qua bꢀi ĐHĐCĐ, trừ  
trường hợp các cổ đông sáng lập thoả thuận  
những hợp đồng có giá trị nhỏ hơn như hợp  
đồng từ 30% tổng giá trị tài sản của công ty  
trꢀ lên phải được thông qua bꢀi ĐHĐCĐ.  
Nếu các cổ đông sáng lập lại thoả thuận và  
ghi nhận trong Điều lệ công ty theo hướng  
ĐHĐCĐ có quyền thông qua hợp đồng vay,  
cho vay, bán tài sản có giá trị từ 70% tổng giá  
trị tài sản của công ty thì thoả thuận này sẽ bị  
coi là không phù hợp bꢀi pháp luật chỉ cho  
phép các bên thoả thuận và ghi nhận trong  
Điều lệ một tỷ lệ nhỏ hơn 50%.  
2.1.4. Các quy chế nội bộ của công ty  
Quy chế nội bộ của công ty được hiểu là  
tập hợp các quy định áp dụng điều chỉnh  
các vấn đề nội bộ của công ty5. Với ý nghĩa  
như vậy, các quy chế nội bộ của công ty  
bao gồm các nội quy điều hành nội bộ, các  
quyết nghị của ĐHĐCĐ, Hội đồng quản trị  
(HĐQT), các thoả thuận giữa các cổ đông  
với nhau và giữa cổ đông với công ty6.  
Quy chế nội bộ của công ty chỉ điều  
chỉnh những vấn đề nội bộ và chỉ có giá trị  
trong nội bộ công ty. Tuy vậy nhưng quy  
chế nội bộ là cơ sꢀ pháp lý đóng vai trò nhất  
định trong việc thiết lập cơ chế kiểm soát  
rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn trong  
công ty. Trên thực tế, có rất nhiều công ty ꢀ  
Việt Nam đã sử dụng quy chế nội bộ công  
ty, đặc biệt là quy chế về phân cấp thẩm  
quyền của các thiết chế trong nội bộ công  
ty như là một công cụ để phân định rõ thẩm  
quyền của Hội đồng thành viên (HĐTV),  
-
Điều lệ được coi là sự thoả thuận  
của các cổ đông/thành viên công ty và có  
giá trị ràng buộc đối với chủ thể này nhưng  
trong nhiều trường hợp, các cổ đông/thành  
viên công ty sẽ không được tham gia vào  
việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ. Đây cũng là  
điểm khác biệt so với các hợp đồng thông  
thường. Theo lý thuyết hợp đồng, các bên là  
chủ thể hợp đồng sẽ có quyền tham gia vào  
quá trình sửa đổi, bổ sung hợp đồng. Điều  
lệ thì không như vậy. Nguyên nhân là do  
5ꢁ Robert W. Hamilton, (1996), The Law of Corporations  
in a nutshell, West Publishing Co, tr. 62.  
trên thực tế, có rất nhiều công ty, đặc biệt là 6ꢁ Phạm Duy Nghĩa, tlđd, tr. 240.  
54 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
PHẠM THỊ TRANG  
ĐHĐCĐ, HĐQT, Giám đốc trong việc xác tích các nguyên nhân đó, OECD đã đưa ra  
lập hợp đồng có giá trị lớn của công ty.  
2.2. Các thiết chế thực hiện kiểm soát rủi  
ro đối với hợp đồng có giá trị lớn trong công  
ty  
Yếu tố thứ hai cấu thành nên cơ chế  
kiểm soát rủi ro đối với hợp đồng có giá  
trị lớn chính là các thiết chế thực hiện việc  
kiểm soát rủi ro trên thực tiễn, tức là các chủ  
thể sẽ tham gia vào quy trình quản lý rủi ro.  
Việc xây dựng các quy định về kiểm soát rủi  
ro đối với hợp đồng có giá trị lớn sẽ trꢀ nên  
vô nghĩa nếu không có các chủ thể thực thi  
những quy định ấy.  
một trong các khuyến nghị quan trọng để  
kiểm soát rủi ro hiệu quả: Kiểm soát rủi ro  
là nhiệm vụ chung của toàn công ty, không  
phải là nhiệm vụ riêng của một đơn vị, một  
bộ phận hay một cá nhân trong công ty.  
Đồng thời, HĐQT phải tham gia vào việc  
thiết lập và giám sát cấu trúc kiểm soảt rủi  
ro trong công ty8.  
Khuyến nghị này của OECD cũng trùng  
với một luận điểm cốt lõi trong quan điểm  
kiểm soát rủi ro ꢀ phạm vi doanh nghiệp  
(enterprise-wide approach - ERM) của các  
tổ chức quốc tế hoặc hiệp hội quốc tế. Cách  
tiếp cận đối với vấn đề kiểm soát rủi ro ꢀ  
phạm vi doanh nghiệp có hai luận điểm  
chính: (i) Doanh nghiệp cần phải kiểm soát  
Các chủ thể thực hiện việc kiểm soát rủi  
ro đối với hợp đồng có giá trị lớn bao gồm:  
Các phòng, ban chức năng trong công ty;  
những người quản lý, điều hành công ty và tất cả các rủi ro mà doanh nghiệp sẽ gặp phải  
chủ sꢀ hữu công ty. Việc xác định các thiết trong quá trình kinh doanh; và (ii) Kiểm  
chế này dựa trên luận điểm: Cơ chế kiểm  
soát rủi ro trong công ty, trong đó có kiểm  
soát rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn,  
phải gắn liền với quản trị công ty. Bꢀi lẽ,  
nếu kiểm soát rủi ro không gắn với quản trị  
công ty, không gắn với bộ máy hoạt động  
của công ty thì việc kiểm soát đó sẽ khó có  
thể thực thi hoặc nếu có thực thi được thì  
cũng không mang lại hiệu quả.  
Ủy ban quản trị doanh nghiệp của  
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế  
(Organization for Economic Cooperation  
and Development – OECD), từ cuộc khủng  
hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, đã chỉ  
ra rằng: Có ba nguyên nhân chính dẫn tới  
những thất bại trong kiểm soát rủi ro của  
các công ty là: (i) Rủi ro không được kiểm  
soát trên phạm vi toàn công ty; (ii) Các giám  
đốc kiểm soát rủi ro thường hoạt động tách  
rời khỏi hệ thống quản trị công ty, họ không  
được coi là một phần quan trọng để thực  
hiện chiến lược của công ty và (iii) Hội đồng  
quản trị đã không biết được những rủi ro  
mà công ty phải đối mặt7. Từ việc phân  
soát rủi ro phải được thực hiện ꢀ tất cả các  
bộ phận của doanh nghiệp9. Áp dụng cách  
tiếp cận này vào việc kiểm soát rủi ro đối  
với hợp đồng có giá trị lớn, có thể hiểu rằng:  
Doanh nghiệp cần phải kiểm soát tất cả các  
rủi ro có thể phát sinh đối với hợp đồng có  
giá trị lớn và việc kiểm soát này phải được  
thực hiện trên phạm vi toàn doanh nghiệp.  
Kiểm soát trên phạm vi toàn doanh nghiệp  
sẽ đòi hỏi phải có sự tham gia của tất cả các  
bộ phận trong kết cấu quản trị của công ty,  
bao gồm các phòng ban chức năng, bộ phận  
quản lý điều hành, bộ phận kiểm soát và  
chủ sꢀ hữu công ty.  
2.2.1. Các phòng ban chức năng của công ty  
Người lao động, người quản lý các bộ  
phận, các phòng, ban chức năng của công ty  
phải coi kiểm soát rủi ro là một hoạt động  
gắn liền với hoạt động thực hiện chức năng,  
nhiệm vụ của mình10. Đây là cách tiếp cận của  
8ꢁ OECD, tlđd, tr. 9.  
9ꢁ  
Xem thêm các định nghĩa về quản trị rủi ro của  
IIA (A rigorous and co-ordinated approach to  
assessing and responding to all risks that affect  
7ꢁ  
OECD, (2009), Corporate Governance and the the achievement of an organization’s strategic and  
Financial Crisis: Key Findings and Main Messages, financial objectives), ACT, COSO, HM Treasury.  
xem tại website: hꢂps://www.oecd.org/corporate/ca/ 10ꢁ Paul Hopkin, (2010), Fundamental of Risk  
corporategovernanceprinciples/43056196.pdf.  
Management, tr. 87-88.  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 55  
CƠ CHẾ KIỂM SOÁT RỦI RO ĐỐI VỚI...  
ERM. Các phòng, ban chức năng của công ty khác trong công ty sẽ đề xuất các biện pháp  
sẽ được coi là những bộ phận đầu tiên thực phòng ngừa và khắc phục tổn thất. Bộ phận  
thi kiểm soát rủi ro đối với công ty nói chung này cũng giám sát toàn bộ quá trình xác lập,  
và đối với hợp đồng có giá trị lớn nói riêng thực hiện và chấm dứt hợp đồng có giá trị  
thông qua hoạt động của những người lao lớn. Kết quả của hoạt động giám sát của Ban  
động làm việc tại các phòng ban đó. Sự tham kiểm soát sẽ là các báo cáo. Các báo cáo này  
gia của các phòng, ban chức năng vào quá sẽ được gửi tới bộ phận quản lý điều hành  
trình kiểm soát rủi ro có nghĩa là tất cả mọi cao nhất của công ty như HĐTV, HĐQT và  
người khi làm việc trong công ty đều phải chủ sꢀ hữu công ty.  
có trách nhiệm thực hiện kiểm soát rủi ro.  
Đối với hợp đồng có giá trị lớn, các bộ phận  
phòng, ban chức năng trong công ty sẽ phải  
là những bộ phận đầu tiên nhận diện, đánh  
giá các rủi ro có thể xảy ra đối với hợp đồng  
và đề xuất được các phương án đối phó, xử  
lý khi rủi ro xảy ra. Để làm được điều này,  
mỗi người lao động trong các phòng, ban  
chức năng phải hiểu và thực hiện được quy  
trình kiểm soát rủi ro hoặc các chính sách  
kiểm soát rủi ro công ty đã ban hành. Sau  
khi đã áp dụng quy trình kiểm soát rủi ro,  
kết quả hoạt động kiểm soát rủi ro của các  
phòng, ban sẽ là bản đánh giá rủi ro; trong  
đó xác định loại rủi ro, mức độ của các loại  
rủi ro và các phương án ứng phó tương ứng  
với từng loại rủi ro. Bản đánh giá này cũng  
được báo cáo với cấp trên cùng với dự thảo  
hợp đồng để người có thẩm quyền xác lập  
hợp đồng sẽ cân nhắc khi giao kết hợp đồng.  
Trong các phòng ban chức năng của công  
ty, không thể không nhắc đến bộ phận kiểm  
soát của công ty (ꢀ các công ty của Việt Nam  
thường là Ban kiểm soát) bꢀi chức năng kiểm  
soát của bộ phận này sẽ gắn liền với nhiệm  
vụ kiểm soát rủi ro đối với hợp đồng có giá  
trị lớn. Bộ phận kiểm soát sẽ đóng vai trò kết  
nối giữa các bộ phận trong công ty để thực  
hiện những bước tiếp theo trong quy trình  
kiểm soát rủi ro đối với hợp đồng có giá trị  
lớn. Theo đó, bộ phận này sẽ xem xét hợp  
đồng có giá trị lớn dưới góc độ kiểm soát rủi  
ro; xây dựng các kế hoạch kiểm soát tổng  
thể (kế hoạch kiểm soát này phải nêu rõ các  
biện pháp phòng ngừa tổn thất); phối hợp  
với các bộ phận khác trong công ty để triển  
khai kế hoạch kiểm soát rủi ro đã xây dựng.  
Trong trường hợp có nguy cơ phát sinh rủi  
2.2.2. Người quản lý công ty  
Người quản lý công ty là một khái niệm  
tương đối rộng dùng để chỉ những người  
có thể nhân danh công ty ký kết các giao  
dịch của công ty. Việc xác định ai là người  
quản lý công ty tuỳ thuộc vào hệ thống  
pháp luật của từng quốc gia khác nhau.  
Ở Việt Nam, đó là thành viên hợp danh,  
Chủ tịch HĐTV, thành viên HĐTV, Chủ  
tịch công ty, Chủ tịch HĐQT, thành viên  
HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và  
các cá nhân giữ các chức danh quản lý khác  
theo quy định tại Điều lệ công ty11.  
OECD đã đưa ra những khuyến nghị  
nhằm thực thi một cách hiệu quả kiểm soát  
rủi ro liên quan đến quyền và nghĩa vụ của  
những người quản lý công ty12. Áp dụng  
những khuyến nghị này trong việc kiểm  
soát rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn có  
thể xác định cụ thể như sau:  
Một là, thiết lập cấu trúc kiểm soát rủi  
ro cho công ty, trong đó phân định rõ trách  
nhiệm giữa các bộ phận phòng ban, các  
chức danh trong công ty đối với việc kiểm  
soát rủi ro. Cấu trúc kiểm soát rủi ro được  
hiểu là cách thức tổ chức các bộ phận trong  
công ty thực hiện việc kiểm soát rủi ro. Trên  
thực tế, không có một cấu trúc kiểm soát rủi  
ro chung cho tất cả các công ty. Vì thế, mỗi  
công ty sẽ phải thiết kế một cấu trúc rủi ro  
riêng phù hợp với mô hình, điều kiện của  
riêng mình.  
Hai là, xây dựng các quy định nội bộ về  
kiểm soát rủi ro trong công ty nói chung.  
Các quy định này phải được công khai tới  
tất cả các bộ phận và từng người lao động  
11ꢁ Khoản 24 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2020  
ro, bộ phận này cùng với những phòng ban 12ꢁ OECD, tlđd, tr. 9, 10.  
56 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
PHẠM THỊ TRANG  
trong công ty để mọi người, mọi bộ phận  
2.3. Cơ chế xử lý vi phạm hoặc giải quyết  
trong công ty đều hiểu rõ nhiệm vụ của tranh chấp liên quan đến hợp đồng có giá  
mình đối với việc kiểm soát rủi ro và thực trị lớn  
thi các nhiệm vụ đó.  
Yếu tố thứ ba cấu thành cơ chế kiểm  
soát rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn là  
cơ chế xử lý vi phạm hoặc giải quyết tranh  
chấp liên quan đến hợp đồng này. Cơ chế  
xử lý vi phạm hoặc giải quyết tranh chấp  
bao gồm việc đảm bảo quyền khꢀi kiện của  
cổ đông/thành viên công ty khi cổ đông/  
thành viên có những bất đồng liên quan  
đến hợp đồng có giá trị lớn hoặc cổ đông/  
thành viên phát hiện những vi phạm trong  
quá trình xác lập, thực hiện, chấm dứt hợp  
đồng; đảm bảo có cơ quan giải quyết tranh  
chấp; đảm bảo có hệ thống chế tài xử lý.  
Ví dụ, nếu ký hợp đồng có giá trị lớn mà  
không đúng trình tự, thủ tục hoặc quá  
trình thực hiện hợp đồng gây thiệt hại cho  
công ty thì người ký hoặc quyết định ký  
phải bồi thường.  
Có thể thấy rằng, kiểm soát rủi ro đối  
với hợp đồng có giá trị lớn trong công ty là  
một yêu cầu cần thiết trong quá trình hoạt  
động của công ty. Việc kiểm soát phải được  
thực hiện bꢀi toàn thể công ty, dựa trên cơ  
sꢀ pháp lý là các quy phạm được ghi nhận  
trong hệ thống pháp luật về công ty, Điều  
lệ, các quy định nội bộ của công ty và được  
bảo đảm bꢀi cơ chế xử lý vi phạm hoặc giải  
quyết tranh chấp trong quá trình xác lập,  
thực hiện, chấm dứt hợp đồng./.  
Ba là, thành lập bộ phận kiểm soát rủi ro  
nếu điều kiện công ty cho phép để thực hiện  
việc kiểm soát rủi ro đối với tất cả các hoạt  
động của công ty, trong đó có kiểm soát rủi  
ro đối với hợp đồng có giá trị lớn. Để bộ  
phận kiểm soát rủi ro hoạt động hiệu quả  
thì bộ phận này phải độc lập với bộ phận  
kinh doanh của công ty.  
Bốn là, hiểu được những rủi ro mà công  
ty sẽ gặp phải trong quá trình kinh doanh  
cũng như những rủi ro khi giao kết hợp  
đồng có giá trị lớn để có được phương án  
ứng phó hoàn hảo nhất.  
Năm là, xác định “khẩu vị rủi ro” của  
công ty. Khẩu vị rủi ro là những rủi ro mà  
công ty chấp nhận được nếu rủi ro đó xảy  
ra. Xác định khẩu vị rủi ro đối với hợp đồng  
có giá trị lớn có nghĩa là những người quản  
lý công ty phải xác định loại rủi ro, mức độ  
rủi ro mà công ty có thể chấp nhận được khi  
tham gia vào quá trình xác lập, thực hiện và  
chấm dứt hợp đồng có giá trị lớn.  
Sáu là, người quản lý công ty phải đưa ra  
được những biện pháp ứng phó của công ty  
trong trường hợp xảy ra rủi ro đối với hợp  
đồng có giá trị lớn.  
2.2.3. Chủ sở hữu công ty  
Các cổ đông/thành viên là các nhà đầu  
tư, họ bỏ tài sản để đầu tư vào công ty với  
mong muốn được hưꢀng lợi nhuận từ hoạt  
động kinh doanh của công ty. Khi có rủi ro  
xảy ra, họ sẽ là những người chịu thiệt hại từ  
những rủi ro đó. Bꢀi vậy, họ sẽ phải tham gia  
vào quá trình kiểm soát rủi ro của công ty nói  
chung và kiểm soát rủi ro đối với hợp đồng  
có giá trị lớn nhằm giảm thiểu những thiệt  
hại mà mình phải gánh chịu. Pháp luật các  
nước đều quy định theo hướng chủ sꢀ hữu  
công ty sẽ là chủ thể có quyền chấp thuận  
hoặc thông qua dự thảo hoặc nội dung chính  
của hợp đồng trước khi hợp đồng được xác  
lập, đồng thời họ cũng là các chủ thể được  
báo cáo về kết quả thực hiện hợp đồng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Luật doanh nghiệp năm 2020;  
2. Phạm Duy Nghĩa, (2015), Giáo trình Luật kinh  
tế, Nxb. Công an nhân dân;  
3. Lê Văn Tranh, (2017), Luận giải về công ty cổ  
phần, Nxb. Tư pháp;  
4. Viện ngôn ngữ học, (2002), Từ điển Tiếng  
Việt phổ thông, Nxb. Phương Đông;  
5. OECD, (2009), Corporate Governance and  
the Financial Crisis: Key Findings and Main Mes-  
egovernanceprinciples/43056196.pdf  
6. Paul Hopkin, (2010), Fundamentals of Risk  
Management;  
7. Robert W. Hamilton, (1996), The Law of Cor-  
poration in a Nutshell. West Publishing Co, n.d.  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 57  
pdf 7 trang Thùy Anh 11180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cơ chế kiểm soát rủi ro đối với hợp đồng có giá trị lớn trong công ty", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfco_che_kiem_soat_rui_ro_doi_voi_hop_dong_co_gia_tri_lon_tron.pdf