Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại thông qua mạng xã hội
HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI
TS Trương Vĩnh Xuân1
Tóm tắt: Mạng xã hội ứng dụng ngày càng nhiều trong đời sống, bao gồm giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, nhiều quy định hiện
nay vẫn chưa rõ ràng, nhất là về hình thức hợp đồng trong giao kết hợp đồng thông qua
mạng xã hội. Đây là bất cập cần phải hoàn thiện như ban hành văn bản pháp luật có giá trị
cao hơn điều chỉnh thành lập, tổ chức và hoạt động của mạng xã hội, tăng cường vai trò,
trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội và các quy định pháp luật về
hình thức hợp đồng thông qua mạng xã hội.
Từ khóa: mạng xã hội, hình thức hợp đồng, hợp đồng thông qua mạng xã hội
Abstract: Today, social networks are increasingly applied in life, including entering
into contracts for the sale of goods in business and commerce. However, many current
regulations are still unclear, especially on the form of contracts through social networks.
This is an inadequacy that needs to be improved such as promulgating legal documents of
higher value than regulating the establishment, organization and operation of social
networks, strengthening the roles and responsibilities of enterprises providing social
networking services and legal regulations on the form of contracts through social
networks.
Keywords: Social networks, form of contract through social networks
1. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại
Hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận/sự ưng thuận của hai hoặc nhiều bên2 (gọi
là các bên). Sự thỏa thuận là sự thống nhất ý chí của các bên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc
1 TS, Học viện Chính trị khu vực IV. Điện thoại: 0918365681. Email: xuantv2002@yahoo.com
2
Đỗ Văn Đại (2011), Luật Hợp đồng Việt Nam: Bản án và bình luận bản án (tập 1), NXB CTQG-ST, tr556; Trần
Kiên, Nguyễn Khắc Thu (2019), Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật về hợp đồng
105
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự3, là tiền đề hình thành hợp đồng giữa các bên trong hợp
đồng. Nếu sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên khi mua bán hàng hóa trong kinh
doanh, thương mại thì gọi là hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại.
Hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại khác với các hợp khác ở chủ
thể tham gia hợp đồng, đối tượng hợp đồng và mục đích tham gia hợp đồng mua bán hàng
hóa trong kinh doanh, thương mại của các bên. Chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng
hóa trong kinh doanh, thương mại phải là thương nhân, bao gồm tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng
ký kinh doanh4; mua bán hàng hóa là tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành
trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai5; mục đích hợp đồng mua bán hàng hóa
giữa các bên là nhằm mục đích sinh lợi6.
Tuy nhiên, hợp đồng nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh,
thương mại nói riêng phải được thể hiện ra bên ngoài, biểu hiện bằng một hình thức nhất
định. Do vậy, hình thức hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung hợp đồng,
gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công bố ý chí của các
bên, ghi nhận nội dung của hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn tại của hợp đồng7.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự được thể hiện bằng
lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Trong đó, giao dịch dân sự thông qua
phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao
dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản8. Dựa trên nguyên tắc chung đó, Luật
Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định về hình thức hợp đồng mua
bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ
thể9.
Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 2+3/2019; Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân luật lược khảo – Quyển II:
Nghĩa vụ và Khế ước, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr55-57.
3 Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015
4 Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm, 2017, 2019)
5 Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019)
6 Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019)
7
Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010, tr 51
8 Khoản 1 điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015
9 Khoản 1 Điều 24 Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019)
106
Thứ nhất, hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại được
thể hiện bằng lời nói.
Lời nói là những gì con người nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, là sản phẩm
cụ thể của hoạt động ngôn ngữ10. Thông qua hệ thống các cơ quan của con người làm cho
ngôn ngữ được phát ra nên pháp luật dùng thuật ngữ “bằng lời nói” để chỉ hình thức hợp
đồng. Thông qua lời nói, các thông tin về các nội dung cơ bản của hợp đồng được các bên
giao kết hợp đồng thể hiện và thống nhất trong quá trình thương thảo hợp đồng (đề nghị
giao kết và chấp nhận giao kết). Khi các bên thỏa thuận được các nội dung của hợp đồng
thì đồng nghĩa với hợp đồng đã được giao kết và có hiệu lực.
Thứ hai, hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại
được thể hiện bằng văn bản.
Văn bản là bản viết hoặc in, mang nội dùng là những gì cần được ghi để lưu lại làm
bằng. Nó là một chuỗi ký hiệu ngôn ngữ hay nói chung là những ký hiệu thuộc về một hệ
thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn11. Hệ thống
các câu, các đoạn văn sẽ ghi nhận đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và các bên
cùng ký tên xác nhận vào văn bản. Nó làm cho hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh
doanh thương mại bằng hình thức văn bản có cấp độ xác thực về nội dung đã cam kết, có
tính tin cậy cao.
Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông
điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật12. Điều này hoàn toàn phù
hợp với Công ước của Liên Hiệp Quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (gọi là Công ước
Viên 1980)13, quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng nói chung, bao gồm hợp
đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại thông qua phương tiện điện tử dưới
hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là
giao dịch bằng văn bản.
10 Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr586
11 Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr1100
12 Điều 15 Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019)
13 Article 13. For the purposes of this Convention “writing” includes telegram and telex (Điều 13. Theo tinh thần của
Công ước này, điện báo và telex cũng được coi là hình thức văn bản)
107
Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ
thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự14. Trên
cơ sở phương tiện điện tử, các thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi,
được nhận và được lưu trữ15. Biểu hiện của thông điệp dữ liệu là các hình thức trao đổi dữ
liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự
khác16.
Các hình thức mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại qua các trang thương
mại điện tử17 như Shopee.vn, Lazada.vn, Tiki.vn, Sendo.vn, Adayroi.com, Lotte.vn,
thegioididong.com, dienmayxanh.com, chotot.com. vatgia.com…hoặc qua Sở giao dịch
mua bán hàng hóa (sử dụng hệ thống phần mềm giao dịch CQG18) đều là hình thức bằng
văn bản theo cách quy định hiện nay.
Để bảo vệ cho trật tự an toàn xã hội, lợi ích của nhà nước và sự an toàn của người
tham gia giao dịch, ngoài việc phải thể hiện ý chí đích thực của mình, các chủ thể tham gia
giao dịch đôi khi còn phải tuân theo quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng19
nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại nói riêng như: phải
có cꢀng chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký20.
Thứ ba, hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại
được thể hiện bằng hành vi cụ thể. Đó là hành động, là xử sự có ý thức của các bên. Thông
thường, hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được sử dụng khi bên thực hiện hành vi
giao kết hợp đồng đã biết rõ nội dung của hợp đồng và chấp nhận tất cả các điều kiện mà
bên kia đưa ra, và bên kia không loại trừ việc trả lời bằng hành vi hoặc không đưa ra một
yêu cầu rõ ràng về hình thức của sự trả lời chấp nhận21.
14 Khoản 10 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005
15 Khoản 12 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005
16 Điều 10 Luật Giao dịch điện tử năm 2005
17 Thương mại điện tử là các kênh bán hàng trực tuyến, kinh doanh trực tuyến nơi mà các chủ shop hoặc các công ty,
doanh nghiệp buôn bán trên môi trường Internet
18 CQG là hệ thống chuyển lệnh và lưu trữ dữ liệu do Công ty Công nghệ đa quốc gia CQG cung cấp
19 Đỗ Văn Đại (2011), Luật Hợp đồng Việt Nam: Bản án và bình luận bản án (tập 1), NXB CTQG-ST, tr557
20 Khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015
21
Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010, tr 58-59
108
Tóm lại, pháp luật quy định có ba hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa trong
kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, giao kết hợp đồng kinh doanh, thương mại qua mạng
xã hội đã trở nên thông dụng và tác động đến các quy định pháp luật về hình thức hợp
đồng.
2. Mạng xã hội và sự tác động của nó đối với hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa
trong kinh doanh, thương mại
Trong thời đại ngày nay, mạng xã hội xã hội trở thành thông dụng đối với mọi người
dùng internet trên thế giới và ở Việt Nam. Về bản chất, mạng xã hội là một cấu trúc xã hội
hình thành bởi một nhóm các chủ thể xã hội (cá nhân hoặc tổ chức), bởi các mối liên hệ
song phương và các tương tác khác giữa họ. Hiểu theo nghĩa như vậy, ở quy mô nhỏ hai
người có mối quan hệ nhất định thì cũng là mạng xã hội22. Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của
internet, mạng xã hội mới được hiểu như ngày nay.
Nhìn chung, mạng xã hội là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet
lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau, không phân biệt không gian và thời gian. Năm
2009, mạng xã hội ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ khi Facebook chính thức bước chân
vào thị trường Việt Nam và thị trường Việt Nam cũng xuất hiện nhiều mạng xã hội của
riêng mình như Zing me, VNG, Banbe.net, Go.vn…. Năm 2017, khái niệm về mạng xã hội
đã thay đổi hoàn toàn nhờ tính năng Livestream. Mạng xã hội giờ đóng vai trò như một
nguồn cung cấp tin, giải trí và những video live giúp chúng ta lập tức có được một cái nhìn
trực diện vào thế giới23.
Sự xuất hiện của mạng xã hội trong đời sống là sự thay đổi của cuộc sống phát sinh
từ nhu cầu của con người. Nhằm mục đích đảm bảo và bảo vệ quyền lợi của các cá nhân,
tổ chức tham gia tương tác trên mạng xã hội, năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số
22 Gam 7 book 13 (2019), Mạng xã hội #10 year challenge, NXB Lao động, Tr14
23
Lê Kiên (2017), Khái niệm về mạng xã hội đã thay đổi hoàn toàn nhờ tính năng Livestream,
109
97/2008/NĐ-CP24 điều chỉnh quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện
tử trên internet nhưng Nghị định chỉ định nghĩa “dịch vụ mạng xã hội trực tuyến25”.
Để phù hợp với sự thay đổi của đời sống xã hội và nhu cầu pháp luật điều chỉnh
mạng xã hội, mạng xã hội (social network) được định nghĩa “là hệ thống thông tin cung
cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm,
chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân,
diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức
dịch vụ tương tự khác”.26
Ngày nay, các mạng xã hội trực tuyến được hàng trăm triệu người sử dụng mỗi ngày
để giao tiếp và chia sẻ kinh nghiệm với những người khác. Chúng đã trở thành một công
cụ quan trọng để kết nối mọi người và chia sẻ thông tin. Mạng xã hội cho phép mọi người
tạo hồ sơ chứa thông tin về bản thân (ví dụ: ảnh, sở thích và thông tin cá nhân) và kết nối
với những người khác để mở rộng mạng lưới cá nhân của họ. Chúng đã trở thành một công
cụ quan trọng để xây dựng tình bạn và duy trì mối quan hệ gia đình bằng cách cho phép
mọi người dễ dàng chia sẻ những suy nghĩ, hình ảnh và thành tích cá nhân27.
Trong quan hệ hợp đồng, mạng xã hội tác động to lớn đến giao kết và thực hiện hợp
đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại. Để có được sự thỏa thuận, sự thống
nhất ý chí của hai bên hoặc nhiều bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa trong
kinh doanh, thương mại, các bên phải trải qua quá trình đàm phán, thương lượng hợp đồng.
Trong quá trình đó, mạng xã hội cũng đã len lỏi và tác động đến hình thức hợp đồng mua
bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại giữa các bên.
24 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử
trên internet
25 Khoản 14, điều 3 Nghị định 97/2008/NĐ-CP: “Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng
rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thꢀng tin với nhau trên mꢀi trường Internet,
bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác”
26 Khoản 22 điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 về việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và
thông tin trên mạng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 về sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 về việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông
tin trên mạng
27 Keith Wilcox and, Andrew T. Stephen (2012), Are Close Friends the Enemy? Online Social Networks, Self-Esteem,
and Self-Control (September 22, 2012). Journal of Consumer Research, Forthcoming, Columbia Business School
Research Paper No. 12-57, Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=2155864
110
Bên cạnh sự tiện lợi của mạng xã hội mang đến trong giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa trong kinh doanh, thương mại, mạng xã hội cũng mang đến những bất cập, những
bất lợi trong quá trình giao kết, hình thành hợp đồng:
Thứ nhất, ứng dụng mạng xã hội khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong
kinh doanh, thương mại.
Giao kết hợp đồng là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và
trình tự nhất định để qua đó, xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng. Giao
kết hợp đồng gồm các hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng, thay đổi đề nghị hoặc chấp
nhận lời đề nghị.
Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự
ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể28. Lời đề
nghị chứa đựng thông tin hợp đồng và có thể trở thành ràng buộc đối với bên nhận đề nghị.
Khi lời đề nghị được thực hiện thông qua mạng xã hội thì có thể xảy ra bất cập như sau:
(i), Trước hết, những trường hợp nào được coi như bên nhận đề nghị nhận được lời đề
nghị29. Trong thời đại bùng nổ mạng xã hội, việc đề nghị được gửi qua mạng xã hội cho
bên được đề nghị có được coi là “được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được
đề nghị”, “thông qua các phương thức khác” như quy định của Bộ luật Dân sự hoặc có
được coi là “phương tiện điện tử” hay không.... Điều này hoàn toàn chưa rõ ràng, chưa
được quy định cụ thể, trong khi ngày nay việc ứng dụng mạng xã hội trong mua bán hàng
hóa kinh doanh, thương mại trở thành thông dụng; (ii), nếu bên đề nghị gửi thông tin đề
nghị qua mạng xã hội (Zalo, Facebook…), với thông tin phản hồi là “đã xem”, biểu tượng
“thích” (thích: ) hoặc “OK” thì chúng ta có được xác định là lời đề nghị giao kết hợp
đồng đã có hiệu lực chưa. Trong một số trường hợp, việc trả lời đề nghị có liên quan đến
thời hạn (nếu có) và nếu hết thời hạn bên đề nghị có quyền giao kết hợp đồng với bên thứ
ba.
28 Khoản 1 Điều 390 Bộ luật Dân sự năm 2015
29 Điều 390 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
Một là. đề nghị được chuyển đến đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân; hai là, đề nghị được đưa vào hệ thống
thông tin chính thức của bên được đề nghị; và ba là, khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông
qua các phương thức khác
111
Thứ hai, ứng dụng mạng xã hội khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh
doanh, thương mại. Trong ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương
mại giữa các bên thông qua mạng xã hội có thể có các trường hợp phát sinh như sau:
(i), Hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại giao kết qua mạng
xã hội được coi là hình thức bằng lời nói.
Mạng xã hội có được coi là phương tiện điện tử hay không vẫn là đề tài còn nhiều
tranh luận, các tài khoản đăng ký, thông tin, cách lưu trữ thông tin, xóa thông tin vẫn chưa
có độ tin cậy, tính chất vi bằng khó đạt được. Do đó, hợp đồng giao kết qua mạng xã hội
có thể được xem là hợp đồng bằng lời nói.
Giả sử chúng ta đồng ý với quan điểm thỏa thuận hợp đồng qua mạng xã hội là hợp
đồng bằng lời nói. Sau khi thỏa thuận các nội dung cơ bản của hợp đồng, bên sau cùng trả
lời là “ok” hoặc trả lời bằng biểu tượng “Like” (thích: ) và sẽ không có bất cập gì nếu
hợp đồng thực hiện và không có bất kỳ tranh chấp nào xảy ra. Nhưng ngược lại, mặc dù
bên sau cùng trả lời là “ok” hoặc trả lời bằng biểu tượng “Like” nhưng có tranh chấp và họ
lập luận tin nhắn “OK”, nút “Like” chỉ có nghĩa đã nhận được những nội dung cơ bản của
hợp đồng mà chưa phản ánh là đồng ý hoàn toàn hay chưa. Tin nhắn “OK”, nút “Like”
hoàn toàn khác với tin nhắn “Tôi đồng ý”.
Ở Thành phố A, tỉnh B ở Đồng bằng sông Cửu Long có một vụ việc điển hình về
hợp đồng mua bán cám giữa các thương nhân. Họ là doanh nghiệp mua bán gạo, tấm, cám.
Hai bên điện thoại kết hợp với mạng xã hội Zalo, Facebook thỏa thuận loại cám, số lượng,
phương thức giao hàng và thanh toán. Sau một vài lần giao kết hợp đồng, thực hiện và
thanh lý hợp đồng trọn vẹn, niềm tin đã đủ, bên mua đã lấy hàng nhưng thanh toán chịu.
Khi số tiền phải thanh toán hơn 7 tỷ, doanh nghiệp mua cám đã không thanh toán, xóa tin
nhắn trên Zalo, Facebook và phủ nhận thông tin trao đổi. Khi xảy ra tranh chấp, những tin
nhắn do bên bán cung cấp chủ yếu bên mua trả lời tin nhắn Zalo, Facebook không trả lời
hoặc một vài tin nhắn trả lời “OK” và họ lập luận đó là họ nhận thông tin nhưng chưa đồng
ý thông tin và thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp này, sổ sách ghi chép của bên bán
không có chữ ký của bên mua hoặc người nhận hàng của bên mua, các thông tin Zalo,
Facebook có nội dung còn hoặc còn nhưng không có thông tin phản hồi của bên mua.
112
Doanh nghiệp bán cám đã rất khó khăn trong việc khởi kiện yêu cầu thanh toán phần còn
lại của giá trị hợp đồng.
(ii), Hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại thꢀng qua mạng xã
hội được coi là hình thức văn bản
Hiện nay chưa có quy định cụ thể nào quy định hợp đồng mua bán hàng hóa trong
kinh doanh, thương mại thông qua mạng xã hội là hình thức văn bản. Tuy nhiên chúng ta
có thể xem xét những tình huống như sau:
Tình huống 1: mạng xã hội là phương tiện chuyển tải thông tin hình ảnh văn bản
hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại.
Một bên (tạm gọi là bên A) ký hợp đồng (bằng chữ ký sống) và chụp hình bản hợp
đồng gửi cho bên còn lại (tạm gọi là bên B). Bên B nhận hình ảnh hợp đồng thông qua
mạng xã hội, in hợp đồng, ký hợp đồng (bằng chữ ký sống) và chụp lại hợp đồng, gửi lại
cho bên A bằng mạng xã hội. Khi tin nhắn hình ảnh hợp đồng đến tài khoản mạng xã hội
của bên A, thông tin hiển thị “đã xem”, hoặc được bên A trả lời bằng biểu tượng “Like”
hoặc “OK”. Trong trường hợp này, hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương
mại có hiệu lực từ thời điểm bên B ký (bằng chữ ký sống), khi tài khoản mạng xã hội của
bên A hiển thị “đã xem”, khi bên B nhận được biểu tượng “Like” hoặc “OK” hay có hiệu
lực tại thời điểm bên A phải trả lời cụ thể “đã nhận được hợp đồng”.
Tình huống 2: mạng xã hội là phương tiện chuyển tải tệp (file) (định dạng word hoặc
pdf hoặc một định dạng khác do các bên thỏa thuận) hợp đồng mua bán hàng hóa trong
kinh doanh, thương mại có chèn (insert) chữ ký hình ảnh.
Bên A ký hợp đồng, chèn chữ ký hình ảnh và gửi cho bên B. Bên B nhận hợp đồng,
chèn chữ ký hình ảnh và gửi lại cho bên A. Tình huống này có hai vấn đề đặt ra: một là,
chữ ký hình ảnh trong file và thông tin tài khoản mạng xã hội có đáng tin cậy và được các
bên chấp thuận làm bằng trong trường hợp tranh chấp hợp đồng xảy ra; và hai là, hợp đồng
có hiệu lực kể từ thời điểm bên B nhận hợp đồng, chèn chữ ký hình ảnh và gửi cho bên A
hay thời điểm bên A nhận được thông tin hình ảnh file hợp đồng.
113
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi,
bổ sung năm 2019), thời điểm có hiệu lực của hợp đồng từ thời điểm giao kết, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác30. Với quy định này, nhà làm
luật Việt Nam thừa nhận đồng thời hai loại thời điểm khác nhau: thời điểm giao kết và thời
điểm có hiệu lực của hợp đồng. Có thể nói, quy định này là một điểm pháp lý khá thú vị
và đặc thù, vì các Bộ luật Dân sự trên thế giới hoặc các Bộ Nguyên tắc hợp đồng thương
mại quốc tế đều không có quy định tương tự như vậy31. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa dự
liệu thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng
hóa trong kinh doanh, thương mại được giao kết qua mạng xã hội.
3. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức hợp đồng trong kinh doanh,
thương mại thông qua mạng xã hội
Việc giao kết hợp đồng trong kinh doanh, thương mại thông qua mạng xã hội vẫn
diễn ra hằng ngày, vẫn có những tranh chấp liên quan đến hình thức hợp đồng, thời điểm
giao kết, thời điểm có hiệu lực và cần thiết phải có những giải pháp hoàn thiện pháp luật
về hình thức hợp đồng thông qua mạng xã hội cho phù hợp với thực tiễn.
Để điều chỉnh hình thức hợp đồng được giao kết qua mạng xã hội, pháp luật cần
hoàn thiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, mạng xã hội cần phải được điều chỉnh ở văn bản pháp luật có giá trị pháp
lý cao hơn.
Mạng xã hội hiện nay được điều chỉnh ở Nghị định32 và các văn bản hướng dẫn33.
Tuy nhiên, trước nhu cầu và mức ảnh hưởng của mạng xã hội đối với đời sống xã hội nói
chung, đối với các lĩnh vực kinh tế nói riêng (trong đó bao gồm giao kết và thực hiện hợp
đồng trong kinh doanh, thương mại), các quy định của các văn bản dưới luật đã bộc lộ
30 Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015
31
Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010, tr 85
32
Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 về việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên
mạng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 về việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng;
Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/2/2020 của Chính phủ quy định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử…
33 Quyết định 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021 của Bộ thông tin và truyền thông về việc ban hành bộ quy tắc ứng xử
trên mạng xã hội…
114
nhiều hạn chế và mạng xã hội cần thiết phải được điều chỉnh ở văn bản có giá trị pháp lý
cao hơn như văn bản luật hoặc pháp lệnh.
Văn bản luật hoặc pháp lệnh điều chỉnh mạng xã hội phải thể hiện những nội dung
sau:
(i), Quy định về thống nhất về các thuật ngữ về mạng xã hội.
(ii), Quy định về thủ tục thiết lập mạng xã hội.
(iii) Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các mạng xã hội.
(iv), Quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp thiết lập mạng
xã hội; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người sử dụng dịch vụ mạng xã hội. Các quy
định quan tâm đến trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trong lưu
trữ thông tin và phối hợp với các cá nhân, tổ chức và các cơ quan có thẩm quyền trong
cung cấp thông tin khi có yêu cầu.
(v), Quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong tổ chức thực hiện các quy
định pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của mạng xã hội.
Thứ hai, tăng cường vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng
xã hội trong việc cung cấp thꢀng tin lưu trữ về dữ liệu trao đổi giữa các bên qua mạng xã
hội nói chung, về nội dung trao đổi hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương
mại nói riêng làm chứng cứ chứng minh khởi kiện vụ án.
Hiện nay Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định rất cụ thể về cung cấp chứng
cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự34, trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền35 và quy định thẩm quyền của những người có thẩm
quyền như thẩm phán, thẩm tra viên, đương sự… trong “tiến hành thu thập, xác minh chứng
cứ” nhưng những quy định này chủ yếu là sau khi đã tòa án thụ lý vụ kiện. Tuy nhiên, khi
có tranh chấp xảy ra, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại
xuất hiện, người khởi kiện phải có nghĩa vụ chứng minh và tòa án có cơ sở để thụ lý vụ án.
34 Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
35 Điều 7 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015
115
Điều bất cập là người khởi kiện hoặc đại diện người khởi kiện sẽ không thuận lợi khi yêu
cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trong cung cấp thông tin lưu trữ liên quan
đến tranh chấp làm căn cứ khởi kiện.
Do đó, pháp luật phải quy định trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
mạng xã hội phải cung cấp thông tin lưu trữ khi có yêu cầu của một bên hoặc các bên trong
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và có tranh chấp xảy ra. Quy định pháp luật phải theo
hướng mở, người yêu cầu phải cam kết và chịu trách nhiệm khi có thiệt hại xảy ra do bên
yêu cầu không sử dụng đúng mục đích yêu cầu.
Thứ ba, pháp luật nên bổ sung các trường hợp hợp đồng có hiệu lực trong trường
hợp giao kết hợp đồng thꢀng qua mạng xã hội
Pháp luật hiện nay (Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi,
bổ sung năm 2019), Luật Giao dịch điện tử năm 2005) chưa quy định rõ ràng trường hợp
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung, mua bán hàng hóa trong kinh doanh,
thương mại là hình thức hợp đồng gì. Đồng thời, pháp luật cũng chưa quy định rõ ràng thời
điểm có hiệu lực của hợp đồng khi giao kết qua mạng xã hội.
Pháp luật dân sự, thương mại và giao dịch điện tử nên bổ sung và hoàn thiện các
quy định về hình thức hợp đồng, giao kết hợp đồng mua bán nói chung, mua bán hàng hóa
trong kinh doanh, thương mại nói riêng để các chủ thể có căn cứ pháp lý trong giao dịch
thương mại được thuận lợi, rõ ràng.
Tóm lại, pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và đồng thời
pháp luật cũng có tính dự liệu các quan hệ xã hội phát triển trong đời sống xã hội. Khi
mạng xã hội xuất hiện và len lỏi trong đời sống xã hội, được ứng dụng để ký kết các hợp
đồng nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng thì việc bổ sung, hoàn thiện các quy
định pháp luật làm căn cứ cho việc xác định hình thức hợp đồng, giao kết hợp đồng là cần
thiết.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
● Văn bản pháp luật
116
1 Bộ luật Dân sự năm 2015
2 Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019)
3 Luật Giao dịch điện tử năm 2005
4 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ
internet và thông tin điện tử trên internet
5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 về việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ
internet và thông tin trên mạng
6 Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 về việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ
internet và thông tin trên mạng
7 Quyết định 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021 của Bộ thông tin và truyền thông về việc
ban hành bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội…
● Tài liệu
8 Công ước của Liên Hiệp Quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (gọi là Công ước Viên
1980)
9 Đỗ Văn Đại (2011), Luật Hợp đồng Việt Nam: Bản án và bình luận bản án (tập 1),
NXB CTQG-ST.
10 Gam 7 book 13 (2019), Mạng xã hội #10 year challenge, NXB Lao động.
11 Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam,
Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010
12 Lê Kiên (2017), Khái niệm về mạng xã hội đã thay đổi hoàn toàn nhờ tính năng
thay-doi-hoan-toan-nho-tinh-nang-live-stream-74017.html <truy cập ngày 65/6/2017>
117
13 Trần Kiên, Nguyễn Khắc Thu (2019), Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản
của hệ thống pháp luật về hợp đồng Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số
2+3/2019;
14 Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và Khế ước,
Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn
15 Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng
● Tài liệu nước ngoài
16 Keith Wilcox and Andrew T. Stephen (2012), Are Close Friends the Enemy? Online
Social Networks, Self-Esteem, and Self-Control (September 22, 2012). Journal of
Consumer Research, Forthcoming, Columbia Business School Research Paper No. 12-
57 (Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=2155864)
118
Bạn đang xem tài liệu "Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh, thương mại thông qua mạng xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hinh_thuc_hop_dong_mua_ban_hang_hoa_trong_kinh_doanh_thuong.pdf

