Chiến lược hoạt động lập Pháp

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP  
Bùi Ngọc Thanh*  
*TS. Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Với tầm nhìn chiến lược, xuyên suốt toàn khóa, trước kỳ họp thứ nhất, Quốc  
hội khóa XV, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã có bài viết, “Vận dụng tư  
tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp góp phần xây dựng và hoàn thiện  
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo đó, các cơ quan của  
Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội và các chủ thể khác tham gia vào quy trình  
xây dựng luật cần quán triệt đầy đủ và sâu sắc nội dung bài viết, góp phần thiết  
thực để Quốc hội thực thi tốt nhất, hiệu quả cao nhất nhiệm vụ và quyền hạn  
được giao. Trong phạm vi bài viết này, tác giả cô đúc 6 nhóm quan điểm tư tưởng  
Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; 6 yêu cầu và 8 nội dung vận dụng tư tưởng  
Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp  
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.  
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh,  
Chiến lược lập pháp, Nhà nước  
pháp quyền.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 05/8/2021  
: 09/8/2021  
: 11/8/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The Chairman of National Assembly of Vuong Dinh Hue with a strategic vision,  
throughout the entire term, before the first meeting session of the 15th National  
Assembly, wrote an article namely "Application of Ho Chi Minh's Thoughts  
in Legislative Activities for Development of the Socialist Rule of Law State  
of Vietnam". Accordingly, the agencies of the National Assembly, National  
Assembly deputies and other subjects involving in the law-making process  
need to fully and deeply grasp the contents of the article, providing practical  
contributions to the National Assembly's the best performance, most effective  
tasks and assigned powers. Within the scope of this article, the author condenses  
6 categories of Ho Chi Minh's ideological thoughts on the state and law; 6  
requirements and 8 contents of applying Ho Chi Minh's thoughts on legislative  
activities in the process of development of a socialist rule of law state in Vietnam.  
Keywords: Ho Chi Minh's  
thoughts; legislative strategy; rule  
of law state.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 05 Aug. 2021  
: 09 Aug. 2021  
: 11 Aug. 2021  
Approved  
1. Sự xuất hiện của “Pháp quyền” ở nước  
ta từ rất sớm  
hưởng những đảm bảo về pháp luật như  
người châu Âu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa  
án đặc biệt đang làm công cụ để khủng bố  
và áp bức bộ phận trung thực nhất trong  
nhân dân An Nam;...  
Đúng như Chủ tịch Quốc hội đã phân  
tích, ngay từ năm 1919, trong bản Yêu sách  
của nhân dânAn Nam gửi đến Hội nghị Hòa  
bình Véc-xây (Pháp) do Nguyễn Ái Quốc  
đứng tên nêu ra là những yêu sách khiêm  
tốn, có 8 điểm thì 2 điểm (2 và 7) đã lý giải  
rất sâu đậm về pháp luật:  
7. Thay các chế độ ra các sắc lệnh bằng  
chế độ ra các đạo luật...”1.  
Khi chuyển bản Yêu sách từ văn xuôi  
sang văn vần cho dễ nhớ, với tựa đề Việt  
Nam yêu cầu ca, Nguyễn Ái Quốc viết:  
“2. Cải cách nền pháp lý Đông Dương  
bằng cách cho người bản xứ được quyền  
1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập I (1919-1924), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr.435-439.  
Số 16(440) - T8/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
“Hai xin phép luật sửa sang,  
Người Tây, người Việt hai phương cùng đồng,  
Những tòa đặc biệt bất công,  
4- Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra;  
đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.  
5- Ban bố những quyền của dân, cho dân:  
nhân quyền; tài quyền (quyền sở hữu); dân  
quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự  
do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng,  
ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền,  
nam nữ bình quyền.  
6- Chia lại ruộng đất cho công bằng, giảm  
địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân.  
7- Ban bố Luật Lao động: ngày làm 8 giờ,  
định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.  
8- Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát  
triển nông nghiệp. Mở mang quốc gia  
ngân hàng.  
9- Xây dựng nền quốc dân giáo dục,  
chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng  
bách giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền  
văn hóa mới.  
10- Thân thiện và giao hảo với các nước  
Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc  
để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ  
của họ3.  
Vào thời điểm lịch sử tháng 8 năm 1945,  
trừ một vài tiểu tiết nhằm đáp ứng yêu cầu tình  
hình trong thời gian ngắn trước và sau cách  
mạng, còn phần lớn các điểm, các nội dung có  
sự tương ứng với các Hiến pháp trong suốt 76  
năm qua. So với Hiến pháp năm 2013 - Hiến  
pháp hiện đại nhất, ta vẫn thấy có sự tương  
thích, tương đồng:  
- Điểm 1 tương ứng với Chương I- Chế độ  
chính trị (thể chế Nhà nước).  
- Điểm 2 tương ứng với Chương IV- Bảo  
vệ Tổ quốc (trong đó có nhân tố quan trọng là  
các lực lượng vũ trang nhân dân).  
Giám xin bỏ dứt rộng dung dân lành...  
Bảy xin hiến pháp ban hành  
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền...”2.  
Với sự kiện này, chúng ta hoàn toàn có thể  
nói, thuật ngữ pháp quyền xuất hiện ở đất  
nước Việt Nam từ rất sớm, đến nay đã hơn  
100 năm.  
Quá trình hoạt động cách mạng, trong tư  
duy của Bác đã hình thành một luận điểm cơ  
bản về việc tổ chức bộ máy nhà nước khi cách  
mạng thành công và tư duy đó đã trở thành  
đường lối cách mạng của Đảng ta. Đó là việc  
điều hành hoạt động của một quốc gia, một  
xã hội phải bằng Hiến pháp, pháp luật. “Thần  
linh pháp quyền” - ngôn ngữ những năm đầu  
thế kỷ XX nhưng rất đúng với tinh thần “Nhà  
nước pháp quyền” hiện đại. Vào những năm  
đầu thập niên 40 của thế kỷ trước, Đảng ta  
đã nắm chắc trình tự, thủ tục về việc thành  
lập một nhà nước. Trước tiên phải có cơ quan  
đại diện cho Nhân dân, đó là Quốc hội (Nghị  
viện), từ đó mới thành lập được Chính phủ,  
các cơ quan của Chính phủ, các cơ quan tư  
pháp. Trong điều kiện cách mạng chưa đến  
ngày thắng lợi, chưa có chính quyền thì cần  
phải có một cuộc Quốc dân Đại hội làm căn  
cứ cho việc xây dựng chính quyền sắp tới.  
Quốc dân Đại hội Tân Trào tháng 8 - 1945  
ra đời trong bối cảnh đó. Nó có vai trò như là  
một tiền Quốc hội hay một Quốc hội lâm thời.  
Đại hội đã quyết định Chương trình 10 điểm  
cho hành động cách mạng. Chương trình này  
không khác nào một bản Hiến pháp tạm thời:  
1- Giành lấy chính quyền, xây dựng một  
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền  
tảng hoàn toàn độc lập.  
- Điểm 5 tương ứng với Chương II -  
Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản  
của công dân (cần nói thêm rằng, ngay từ năm  
1945, vấn đề nhân quyền đã được Đảng ta đặt  
ra với tinh thần là một vấn đề cấp bách của  
thời cuộc, chứ không phải như những kẻ thù  
địch đến lúc này vẫn bịa đặt, rêu rao Việt Nam  
thiếu nhân quyền).  
2- Võ trang nhân dân. Phát triển Quân giải  
phóng Việt Nam.  
3- Tịch thu tài sản của giặc nước và của  
Việt gian, tùy từng trường hợp sung công làm  
của quốc gia hay chia cho dân nghèo.  
2 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập I (1919-1924), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr.435-439.  
3 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập I (1919-1924), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr.435-439.  
4
Số 16(440) - T8/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
- Các điểm 4, 6, 7, 8, 9 tương ứng với  
Chương III - Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo  
dục, khoa học, công nghệ và môi trường (cũng  
ngay từ bấy giờ các vấn đề phổ cập giáo dục  
sơ cấp; bảo hiểm xã hội, đặt lương tối thiểu,  
cứu tế nạn dân, ban bố Luật Lao động - những  
trụ cột chính của an sinh xã hội; nam nữ bình  
quyền đã được đặt thành nhiệm vụ của Cách  
mạng mà đến bây giờ chúng ta vẫn còn phải  
tiếp tục và còn tiếp tục thực hiện lâu dài).  
- Điểm 10 tương ứng với Đường lối đối  
ngoại ở Điều 12 của Hiến pháp năm 2013.  
Với “Hiến pháp tạm thời” này, Ủy ban Dân  
tộc giải phóng (Chính phủ lâm thời) trong và  
sau Cách mạng Tháng Tám đã có đầy đủ cơ  
sở pháp lý để hành động, điều hành công việc  
quốc gia.  
năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của  
Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí,  
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ  
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền  
lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các  
nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực  
nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành  
mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm  
soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống  
pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống  
nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định,  
lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của  
người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc  
đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát  
triển nhanh, bền vững”5.  
Đường lối các Đại hội của Đảng về  
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam đặt ra hai nhóm vấn đề vô cùng  
quan trọng: Một là, những vấn đề có tính  
nguyên tắc chung: Xây dựng, hoàn thiện và  
vận hành nhà nước phải do Đảng lãnh đạo;  
bảo đảm tính đồng bộ giữa ba nhánh của  
quyền lực nhà nước; đề cao năng lực và tính  
hiệu lực, hiệu quả của bộ máy; bảo đảm các  
nguyên tắc pháp quyền; phân công, phối  
hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan  
trong việc thực hiện quyền lực nhà nước...;  
hai là, hàng loạt yêu cầu bức thiết, cụ thể  
và khá nặng nề mà hoạt động lập pháp nhất  
thiết phải từng bước bảo đảm, đó là 8 tính  
chất của hệ thống pháp luật: Đầy đủ, kịp  
thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công  
khai, minh bạch, ổn định; đối tượng phục  
vụ chính là Nhân dân và doanh nghiệp.  
Trong 8 tính chất của hệ thống pháp luật  
thì chỉ có tính chất công khai là hoạt động lập  
pháp với chừng mức có thể yên tâm, còn các  
tính chất khác là những “đoạn trường” phấn  
đấu vô cùng gian nan và phức tạp, nhưng  
không thể không thực hiện với nỗ lực hết  
mình mà hàm ý của Chủ tịch Quốc hội đã yêu  
cầu, đã chỉ đạo.  
2. Tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong  
đường lối của Đảng  
Gần đây nhất, văn kiện các Đại hội XII và  
XIII của Đảng đã xác định và ghi thành mục,  
thành điểm rất trang trọng. Văn kiện Đại hội  
XII chỉ rõ, “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà  
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng  
lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ  
thống chính trị… Trong tổ chức và hoạt động  
của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân  
thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra  
sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn.  
XâydựngNhànướcphápquyềnphảitiếnhành  
đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và  
được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống  
chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu  
quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội.  
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp  
và pháp luật”4.  
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng một lần  
nữa khẳng định, “Tiếp tục xây dựng và hoàn  
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì  
Nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng  
tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao  
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng,  
Hà Nội 2016, tr.175.  
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị Quốc gia  
Sự thật, Hà Nội 2021, tr.174-175.  
Số 16(440) - T8/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
3. Yêu cầu và nhiệm vụ  
chủ), do đó hai quyền lực trên bị giới hạn  
bởi quyền lực của Nhân dân.  
Thứ ba, các quyền con người, quyền công  
dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã  
hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo  
đảm theo Hiến pháp và pháp luật.  
Đây là một trong những nội dung cơ bản  
của nguyên tắc pháp quyền không chỉ ở nước  
ta mà còn được hầu hết các nước dân chủ và  
pháp quyền trên thế giới thừa nhận. Trong  
Nhà nước pháp quyền không cho phép bất  
kỳ ai, cơ quan, tổ chức, đơn vị nào đứng trên  
pháp luật, ngoài vòng pháp luật.  
Thứ tư, pháp luật phải được mọi người  
tôn trọng, bảo vệ và thực hiện trong mọi  
hoạt động của Nhà nước cũng như của  
toàn xã hội bằng công tác tổ chức thi hành  
pháp luật.  
Chúng ta đều biết, xây dựng được một hệ  
thống pháp luật đúng đắn, có chất lượng, khả  
thi cao đã khó, song đưa pháp luật vào cuộc  
sống và duy trì được hiệu lực hiệu quả của  
pháp luật còn khó hơn nhiều.  
Thứ năm, khi thực hiện quyền tư pháp,  
phải bảo đảm Tòa án xét xử độc lập, bảo vệ  
công lý, công bằng, bảo vệ nhân phẩm, quyền  
con người, quyền công dân...  
Bảo đảm quyền tư pháp xét xử độc lập là  
một yếu tố cấu thành nguyên tắc pháp quyền  
trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã  
hội chủ nghĩa ở nước ta, trước hết và chủ yếu  
là Thẩm phán, Hội thẩm khi xét xử phải độc  
lập và chỉ tuân theo pháp luật. Có độc lập thì  
người xét xử mới đưa ra được những phán  
quyết vô tư vì công lý, công bằng, vì quyền  
con người, quyền công dân.  
Tất cả các nguyên tắc pháp quyền nêu trên  
có quan hệ mật thiết với nhau, không tách rời  
nhau, tạo thành một tổng thể thống nhất cấu  
thành “pháp quyền” ở nước ta.  
Việc nghiên cứu quán triệt 6 yêu cầu và 8  
nhiệm vụ (lĩnh vực) chính là việc trọng tâm  
chỉ đạo thực thi Nghị quyết Đại hội XIII của  
Đảng trên phương diện xây dựng và hoàn  
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam.  
Như đã đề cập ở trên, Nghị quyết Đại hội  
XIII của Đảng chỉ rõ, “Xác định rõ hơn vai  
trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền  
hạn của các cơ quan nhà nước... trên cơ sở  
các nguyên tắc pháp quyền...”. Vậy các  
nguyên tắc pháp quyền là gì, vai trò của nó  
ra sao, cần được hiểu thống nhất để thực thi  
cho đúng. Trên diễn đàn khoa học pháp lý  
của nước ta hiện nay, mặc dù có cách diễn  
đạt, cách phân chia khác nhau về nguyên  
tắc pháp quyền, nhưng nội dung cốt lõi của  
nguyên tắc này có sự thống nhất6, đó là:  
Thứ nhất, pháp luật phải đúng đắn, rõ ràng,  
công khai, ổn định và được áp dụng chung  
cho toàn xã hội, thể hiện các giá trị xã hội có,  
xã hội cần và xã hội ủng hộ dưới sự lãnh đạo  
nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam.  
Đây là yếu tố cấu thành nguyên tắc pháp  
quyền từ phương diện hình thức của pháp  
luật và là yếu tố đầu tiên cấu thành pháp  
quyền trong Nhà nước pháp quyền xã hội  
chủ nghĩa của nước ta.  
Thứ hai, quyền lực chính trị của Đảng  
và quyền lực của Nhà nước được tổ chức  
và thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và  
pháp luật và bị kiểm soát, bị ràng buộc bởi  
Hiến pháp và pháp luật.  
Đây là yếu tố cấu thành nguyên tắc pháp  
quyền về nội dung trong xây dựng Nhà nước  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bởi  
vì, đây là yếu tố thể hiện chủ quyền tối cao  
thuộc về Nhân dân. Quyền lực chính trị của  
Đảng (với vai trò lãnh đạo) và quyền lực  
của Nhà nước (với vai trò quản lý) đều có  
nguồn gốc, ra đời, tồn tại và phát triển từ  
quyền lực của Nhân dân (với vai trò làm  
Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp  
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nguyên tắc  
pháp quyền có vai trò đặc biệt quan trọng:  
Đó là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt trong quá  
6 Xem: GS.TS. Trần Ngọc Đường, Các nguyên tắc pháp quyền và việc tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền  
trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Tạp chí Cộng sản số 953 (11-2020).  
6
Số 16(440) - T8/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp  
quyền xã hội chủ nghĩa; là tư tưởng chủ đạo  
trong quản trị quốc gia; là tiêu chí để đánh giá  
trình độ pháp quyền trong việc quản lý nhà  
nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  
nghĩa; và là tư tưởng chủ đạo trong quan hệ  
quốc tế trong điều kiện ngày càng hội nhập  
sâu rộng.  
Theo tác giả, 6 yêu cầu và 8 định hướng  
(lĩnh vực) mà Chủ tịch Quốc hội đề cập đều  
thể hiện khá rõ ràng trong các nguyên tắc  
pháp quyền nêu trên.  
gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách  
kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng  
kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công  
bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính  
sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều  
đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt  
tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện  
tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy  
sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy  
theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại,  
mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới  
mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã  
hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát  
triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp  
phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững,  
chăm sóc những người có công, những người  
có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu  
có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển  
lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội  
chủ nghĩa”7. Vấn đề môi trường sống (gồm  
cả môi trường đất, môi trường nước và môi  
trường khí) ở nước ta hiện nay vẫn đang là  
vấn đề cực kỳ bức xúc, cấp bách. Chúng ta  
cũng kiên quyết, không bao giờ đánh đổi môi  
trường sống lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.  
Chắc chắn hoạt động lập pháp phải “xắn tay  
áo” để góp phẩn giải quyết với thời gian ngắn  
hơn thời hạn giải quyết cơ bản các vấn đề xã  
hội. Trong đó, một loạt các luật như Luật Đất  
đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên  
nước, Luật Khai thác khoáng sản... phải sớm  
được hoàn thiện với chất lượng, tính khả thi  
cao nhất. Có thể nói, đó là “mệnh lệnh của  
cuộc sống”. Bởi vậy, định hướng chỉ đạo của  
Chủ tịch Quốc hội là đúng đắn, kịp thời như là  
một tất yếu trước cuộc sống hôm nay...  
Có thể dẫn ra, yêu cầu Thứ sáu, “hoạt động  
lập pháp phải bảo đảm Nhà nước pháp quyền  
xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo của  
Đảng”. Yêu cầu này phù hợp với nội dung thứ  
nhất (pháp luật phải đúng đắn, rõ ràng... dưới  
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam).  
Điều cần nói thêm là, Đảng Cộng sản Việt  
Nam là chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất  
trong việc thực hiện nguyên tắc pháp quyền.  
Theo “nguyên tắc nêu gương” của Đảng thì  
các tổ chức đảng và đảng viên của Đảng hơn  
ai hết phải thượng tôn pháp luật trong việc  
tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền.  
Hay là, yêu cầu Thứ hai, “hoạt động pháp  
luật phải bảo đảm việc tôn trọng và bảo vệ  
quyền con người, các quyền tự do của công  
dân...” và Thứ ba, “xây dựng và hoàn thiện  
pháp luật về quyền con người, quyền công  
dân”. Hai vấn đề này tương đồng với nội  
dung thứ ba, các quyền con người, quyền  
công dân... được công nhận, tôn trọng, bảo  
vệ, bảo đảm...”. Chúng ta đều biết, các vấn  
đề xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã nêu lên,  
hình thành quan điểm và xử lý trong thực tế  
từ Đại hội VII của Đảng (1991) đến nay vừa  
tròn 30 năm mới “tương đối yên lòng” cả  
về quan điểm, lý luận và cả về các phương  
pháp, phương án xử lý trong thực tế mà vừa  
rồi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tổng  
kết: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính  
quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa  
trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải  
Chúng ta hoàn toàn có quyền hy vọng một  
sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ trong hoạt  
động lập pháp khi các định hướng của Chủ  
tịch Quốc hội được cụ thể hóa trong Chương  
trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của  
Quốc hội trong những năm tới  
7 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.  
Nguyễn Phú Trọng, Tạp chí Cộng sản số 966 (5-2021).  
Số 16(440) - T8/2021  
7
pdf 5 trang Thùy Anh 10300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chiến lược hoạt động lập Pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchien_luoc_hoat_dong_lap_phap.pdf