Chiến lược hoạt động lập Pháp
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP
Bùi Ngọc Thanh*
*TS. Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Với tầm nhìn chiến lược, xuyên suốt toàn khóa, trước kỳ họp thứ nhất, Quốc
hội khóa XV, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã có bài viết, “Vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp góp phần xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo đó, các cơ quan của
Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội và các chủ thể khác tham gia vào quy trình
xây dựng luật cần quán triệt đầy đủ và sâu sắc nội dung bài viết, góp phần thiết
thực để Quốc hội thực thi tốt nhất, hiệu quả cao nhất nhiệm vụ và quyền hạn
được giao. Trong phạm vi bài viết này, tác giả cô đúc 6 nhóm quan điểm tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; 6 yêu cầu và 8 nội dung vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh,
Chiến lược lập pháp, Nhà nước
pháp quyền.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 05/8/2021
: 09/8/2021
: 11/8/2021
Article Infomation:
Abstract:
The Chairman of National Assembly of Vuong Dinh Hue with a strategic vision,
throughout the entire term, before the first meeting session of the 15th National
Assembly, wrote an article namely "Application of Ho Chi Minh's Thoughts
in Legislative Activities for Development of the Socialist Rule of Law State
of Vietnam". Accordingly, the agencies of the National Assembly, National
Assembly deputies and other subjects involving in the law-making process
need to fully and deeply grasp the contents of the article, providing practical
contributions to the National Assembly's the best performance, most effective
tasks and assigned powers. Within the scope of this article, the author condenses
6 categories of Ho Chi Minh's ideological thoughts on the state and law; 6
requirements and 8 contents of applying Ho Chi Minh's thoughts on legislative
activities in the process of development of a socialist rule of law state in Vietnam.
Keywords: Ho Chi Minh's
thoughts; legislative strategy; rule
of law state.
Article History:
Received
Edited
: 05 Aug. 2021
: 09 Aug. 2021
: 11 Aug. 2021
Approved
1. Sự xuất hiện của “Pháp quyền” ở nước
ta từ rất sớm
hưởng những đảm bảo về pháp luật như
người châu Âu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa
án đặc biệt đang làm công cụ để khủng bố
và áp bức bộ phận trung thực nhất trong
nhân dân An Nam;...
Đúng như Chủ tịch Quốc hội đã phân
tích, ngay từ năm 1919, trong bản Yêu sách
của nhân dânAn Nam gửi đến Hội nghị Hòa
bình Véc-xây (Pháp) do Nguyễn Ái Quốc
đứng tên nêu ra là những yêu sách khiêm
tốn, có 8 điểm thì 2 điểm (2 và 7) đã lý giải
rất sâu đậm về pháp luật:
7. Thay các chế độ ra các sắc lệnh bằng
chế độ ra các đạo luật...”1.
Khi chuyển bản Yêu sách từ văn xuôi
sang văn vần cho dễ nhớ, với tựa đề Việt
Nam yêu cầu ca, Nguyễn Ái Quốc viết:
“2. Cải cách nền pháp lý Đông Dương
bằng cách cho người bản xứ được quyền
1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập I (1919-1924), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr.435-439.
Số 16(440) - T8/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
“Hai xin phép luật sửa sang,
Người Tây, người Việt hai phương cùng đồng,
Những tòa đặc biệt bất công,
4- Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra;
đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.
5- Ban bố những quyền của dân, cho dân:
nhân quyền; tài quyền (quyền sở hữu); dân
quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự
do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng,
ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền,
nam nữ bình quyền.
6- Chia lại ruộng đất cho công bằng, giảm
địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân.
7- Ban bố Luật Lao động: ngày làm 8 giờ,
định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.
8- Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát
triển nông nghiệp. Mở mang quốc gia
ngân hàng.
9- Xây dựng nền quốc dân giáo dục,
chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng
bách giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền
văn hóa mới.
10- Thân thiện và giao hảo với các nước
Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc
để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ
của họ3.
Vào thời điểm lịch sử tháng 8 năm 1945,
trừ một vài tiểu tiết nhằm đáp ứng yêu cầu tình
hình trong thời gian ngắn trước và sau cách
mạng, còn phần lớn các điểm, các nội dung có
sự tương ứng với các Hiến pháp trong suốt 76
năm qua. So với Hiến pháp năm 2013 - Hiến
pháp hiện đại nhất, ta vẫn thấy có sự tương
thích, tương đồng:
- Điểm 1 tương ứng với Chương I- Chế độ
chính trị (thể chế Nhà nước).
- Điểm 2 tương ứng với Chương IV- Bảo
vệ Tổ quốc (trong đó có nhân tố quan trọng là
các lực lượng vũ trang nhân dân).
Giám xin bỏ dứt rộng dung dân lành...
Bảy xin hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền...”2.
Với sự kiện này, chúng ta hoàn toàn có thể
nói, thuật ngữ pháp quyền xuất hiện ở đất
nước Việt Nam từ rất sớm, đến nay đã hơn
100 năm.
Quá trình hoạt động cách mạng, trong tư
duy của Bác đã hình thành một luận điểm cơ
bản về việc tổ chức bộ máy nhà nước khi cách
mạng thành công và tư duy đó đã trở thành
đường lối cách mạng của Đảng ta. Đó là việc
điều hành hoạt động của một quốc gia, một
xã hội phải bằng Hiến pháp, pháp luật. “Thần
linh pháp quyền” - ngôn ngữ những năm đầu
thế kỷ XX nhưng rất đúng với tinh thần “Nhà
nước pháp quyền” hiện đại. Vào những năm
đầu thập niên 40 của thế kỷ trước, Đảng ta
đã nắm chắc trình tự, thủ tục về việc thành
lập một nhà nước. Trước tiên phải có cơ quan
đại diện cho Nhân dân, đó là Quốc hội (Nghị
viện), từ đó mới thành lập được Chính phủ,
các cơ quan của Chính phủ, các cơ quan tư
pháp. Trong điều kiện cách mạng chưa đến
ngày thắng lợi, chưa có chính quyền thì cần
phải có một cuộc Quốc dân Đại hội làm căn
cứ cho việc xây dựng chính quyền sắp tới.
Quốc dân Đại hội Tân Trào tháng 8 - 1945
ra đời trong bối cảnh đó. Nó có vai trò như là
một tiền Quốc hội hay một Quốc hội lâm thời.
Đại hội đã quyết định Chương trình 10 điểm
cho hành động cách mạng. Chương trình này
không khác nào một bản Hiến pháp tạm thời:
1- Giành lấy chính quyền, xây dựng một
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền
tảng hoàn toàn độc lập.
- Điểm 5 tương ứng với Chương II -
Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân (cần nói thêm rằng, ngay từ năm
1945, vấn đề nhân quyền đã được Đảng ta đặt
ra với tinh thần là một vấn đề cấp bách của
thời cuộc, chứ không phải như những kẻ thù
địch đến lúc này vẫn bịa đặt, rêu rao Việt Nam
thiếu nhân quyền).
2- Võ trang nhân dân. Phát triển Quân giải
phóng Việt Nam.
3- Tịch thu tài sản của giặc nước và của
Việt gian, tùy từng trường hợp sung công làm
của quốc gia hay chia cho dân nghèo.
2 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập I (1919-1924), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr.435-439.
3 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập I (1919-1924), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr.435-439.
4
Số 16(440) - T8/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
- Các điểm 4, 6, 7, 8, 9 tương ứng với
Chương III - Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo
dục, khoa học, công nghệ và môi trường (cũng
ngay từ bấy giờ các vấn đề phổ cập giáo dục
sơ cấp; bảo hiểm xã hội, đặt lương tối thiểu,
cứu tế nạn dân, ban bố Luật Lao động - những
trụ cột chính của an sinh xã hội; nam nữ bình
quyền đã được đặt thành nhiệm vụ của Cách
mạng mà đến bây giờ chúng ta vẫn còn phải
tiếp tục và còn tiếp tục thực hiện lâu dài).
- Điểm 10 tương ứng với Đường lối đối
ngoại ở Điều 12 của Hiến pháp năm 2013.
Với “Hiến pháp tạm thời” này, Ủy ban Dân
tộc giải phóng (Chính phủ lâm thời) trong và
sau Cách mạng Tháng Tám đã có đầy đủ cơ
sở pháp lý để hành động, điều hành công việc
quốc gia.
năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí,
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các
nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành
mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm
soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống
pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống
nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định,
lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc
đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát
triển nhanh, bền vững”5.
Đường lối các Đại hội của Đảng về
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đặt ra hai nhóm vấn đề vô cùng
quan trọng: Một là, những vấn đề có tính
nguyên tắc chung: Xây dựng, hoàn thiện và
vận hành nhà nước phải do Đảng lãnh đạo;
bảo đảm tính đồng bộ giữa ba nhánh của
quyền lực nhà nước; đề cao năng lực và tính
hiệu lực, hiệu quả của bộ máy; bảo đảm các
nguyên tắc pháp quyền; phân công, phối
hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan
trong việc thực hiện quyền lực nhà nước...;
hai là, hàng loạt yêu cầu bức thiết, cụ thể
và khá nặng nề mà hoạt động lập pháp nhất
thiết phải từng bước bảo đảm, đó là 8 tính
chất của hệ thống pháp luật: Đầy đủ, kịp
thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công
khai, minh bạch, ổn định; đối tượng phục
vụ chính là Nhân dân và doanh nghiệp.
Trong 8 tính chất của hệ thống pháp luật
thì chỉ có tính chất công khai là hoạt động lập
pháp với chừng mức có thể yên tâm, còn các
tính chất khác là những “đoạn trường” phấn
đấu vô cùng gian nan và phức tạp, nhưng
không thể không thực hiện với nỗ lực hết
mình mà hàm ý của Chủ tịch Quốc hội đã yêu
cầu, đã chỉ đạo.
2. Tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong
đường lối của Đảng
Gần đây nhất, văn kiện các Đại hội XII và
XIII của Đảng đã xác định và ghi thành mục,
thành điểm rất trang trọng. Văn kiện Đại hội
XII chỉ rõ, “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng
lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ
thống chính trị… Trong tổ chức và hoạt động
của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân
thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra
sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn.
XâydựngNhànướcphápquyềnphảitiếnhành
đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và
được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống
chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu
quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp
và pháp luật”4.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng một lần
nữa khẳng định, “Tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì
Nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng
tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng,
Hà Nội 2016, tr.175.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị Quốc gia
Sự thật, Hà Nội 2021, tr.174-175.
Số 16(440) - T8/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
3. Yêu cầu và nhiệm vụ
chủ), do đó hai quyền lực trên bị giới hạn
bởi quyền lực của Nhân dân.
Thứ ba, các quyền con người, quyền công
dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã
hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo
đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Đây là một trong những nội dung cơ bản
của nguyên tắc pháp quyền không chỉ ở nước
ta mà còn được hầu hết các nước dân chủ và
pháp quyền trên thế giới thừa nhận. Trong
Nhà nước pháp quyền không cho phép bất
kỳ ai, cơ quan, tổ chức, đơn vị nào đứng trên
pháp luật, ngoài vòng pháp luật.
Thứ tư, pháp luật phải được mọi người
tôn trọng, bảo vệ và thực hiện trong mọi
hoạt động của Nhà nước cũng như của
toàn xã hội bằng công tác tổ chức thi hành
pháp luật.
Chúng ta đều biết, xây dựng được một hệ
thống pháp luật đúng đắn, có chất lượng, khả
thi cao đã khó, song đưa pháp luật vào cuộc
sống và duy trì được hiệu lực hiệu quả của
pháp luật còn khó hơn nhiều.
Thứ năm, khi thực hiện quyền tư pháp,
phải bảo đảm Tòa án xét xử độc lập, bảo vệ
công lý, công bằng, bảo vệ nhân phẩm, quyền
con người, quyền công dân...
Bảo đảm quyền tư pháp xét xử độc lập là
một yếu tố cấu thành nguyên tắc pháp quyền
trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa ở nước ta, trước hết và chủ yếu
là Thẩm phán, Hội thẩm khi xét xử phải độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật. Có độc lập thì
người xét xử mới đưa ra được những phán
quyết vô tư vì công lý, công bằng, vì quyền
con người, quyền công dân.
Tất cả các nguyên tắc pháp quyền nêu trên
có quan hệ mật thiết với nhau, không tách rời
nhau, tạo thành một tổng thể thống nhất cấu
thành “pháp quyền” ở nước ta.
Việc nghiên cứu quán triệt 6 yêu cầu và 8
nhiệm vụ (lĩnh vực) chính là việc trọng tâm
chỉ đạo thực thi Nghị quyết Đại hội XIII của
Đảng trên phương diện xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Như đã đề cập ở trên, Nghị quyết Đại hội
XIII của Đảng chỉ rõ, “Xác định rõ hơn vai
trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn của các cơ quan nhà nước... trên cơ sở
các nguyên tắc pháp quyền...”. Vậy các
nguyên tắc pháp quyền là gì, vai trò của nó
ra sao, cần được hiểu thống nhất để thực thi
cho đúng. Trên diễn đàn khoa học pháp lý
của nước ta hiện nay, mặc dù có cách diễn
đạt, cách phân chia khác nhau về nguyên
tắc pháp quyền, nhưng nội dung cốt lõi của
nguyên tắc này có sự thống nhất6, đó là:
Thứ nhất, pháp luật phải đúng đắn, rõ ràng,
công khai, ổn định và được áp dụng chung
cho toàn xã hội, thể hiện các giá trị xã hội có,
xã hội cần và xã hội ủng hộ dưới sự lãnh đạo
nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây là yếu tố cấu thành nguyên tắc pháp
quyền từ phương diện hình thức của pháp
luật và là yếu tố đầu tiên cấu thành pháp
quyền trong Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nước ta.
Thứ hai, quyền lực chính trị của Đảng
và quyền lực của Nhà nước được tổ chức
và thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và
pháp luật và bị kiểm soát, bị ràng buộc bởi
Hiến pháp và pháp luật.
Đây là yếu tố cấu thành nguyên tắc pháp
quyền về nội dung trong xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bởi
vì, đây là yếu tố thể hiện chủ quyền tối cao
thuộc về Nhân dân. Quyền lực chính trị của
Đảng (với vai trò lãnh đạo) và quyền lực
của Nhà nước (với vai trò quản lý) đều có
nguồn gốc, ra đời, tồn tại và phát triển từ
quyền lực của Nhân dân (với vai trò làm
Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nguyên tắc
pháp quyền có vai trò đặc biệt quan trọng:
Đó là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt trong quá
6 Xem: GS.TS. Trần Ngọc Đường, Các nguyên tắc pháp quyền và việc tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền
trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Tạp chí Cộng sản số 953 (11-2020).
6
Số 16(440) - T8/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa; là tư tưởng chủ đạo
trong quản trị quốc gia; là tiêu chí để đánh giá
trình độ pháp quyền trong việc quản lý nhà
nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa; và là tư tưởng chủ đạo trong quan hệ
quốc tế trong điều kiện ngày càng hội nhập
sâu rộng.
Theo tác giả, 6 yêu cầu và 8 định hướng
(lĩnh vực) mà Chủ tịch Quốc hội đề cập đều
thể hiện khá rõ ràng trong các nguyên tắc
pháp quyền nêu trên.
gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách
kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng
kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính
sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều
đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt
tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy
sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy
theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại,
mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới
mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã
hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp
phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững,
chăm sóc những người có công, những người
có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu
có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển
lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội
chủ nghĩa”7. Vấn đề môi trường sống (gồm
cả môi trường đất, môi trường nước và môi
trường khí) ở nước ta hiện nay vẫn đang là
vấn đề cực kỳ bức xúc, cấp bách. Chúng ta
cũng kiên quyết, không bao giờ đánh đổi môi
trường sống lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Chắc chắn hoạt động lập pháp phải “xắn tay
áo” để góp phẩn giải quyết với thời gian ngắn
hơn thời hạn giải quyết cơ bản các vấn đề xã
hội. Trong đó, một loạt các luật như Luật Đất
đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên
nước, Luật Khai thác khoáng sản... phải sớm
được hoàn thiện với chất lượng, tính khả thi
cao nhất. Có thể nói, đó là “mệnh lệnh của
cuộc sống”. Bởi vậy, định hướng chỉ đạo của
Chủ tịch Quốc hội là đúng đắn, kịp thời như là
một tất yếu trước cuộc sống hôm nay...
Có thể dẫn ra, yêu cầu Thứ sáu, “hoạt động
lập pháp phải bảo đảm Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng”. Yêu cầu này phù hợp với nội dung thứ
nhất (pháp luật phải đúng đắn, rõ ràng... dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam).
Điều cần nói thêm là, Đảng Cộng sản Việt
Nam là chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất
trong việc thực hiện nguyên tắc pháp quyền.
Theo “nguyên tắc nêu gương” của Đảng thì
các tổ chức đảng và đảng viên của Đảng hơn
ai hết phải thượng tôn pháp luật trong việc
tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền.
Hay là, yêu cầu Thứ hai, “hoạt động pháp
luật phải bảo đảm việc tôn trọng và bảo vệ
quyền con người, các quyền tự do của công
dân...” và Thứ ba, “xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về quyền con người, quyền công
dân”. Hai vấn đề này tương đồng với nội
dung thứ ba, các quyền con người, quyền
công dân... được công nhận, tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm...”. Chúng ta đều biết, các vấn
đề xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã nêu lên,
hình thành quan điểm và xử lý trong thực tế
từ Đại hội VII của Đảng (1991) đến nay vừa
tròn 30 năm mới “tương đối yên lòng” cả
về quan điểm, lý luận và cả về các phương
pháp, phương án xử lý trong thực tế mà vừa
rồi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tổng
kết: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính
quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa
trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải
Chúng ta hoàn toàn có quyền hy vọng một
sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ trong hoạt
động lập pháp khi các định hướng của Chủ
tịch Quốc hội được cụ thể hóa trong Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của
Quốc hội trong những năm tới
7 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Nguyễn Phú Trọng, Tạp chí Cộng sản số 966 (5-2021).
Số 16(440) - T8/2021
7
Bạn đang xem tài liệu "Chiến lược hoạt động lập Pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chien_luoc_hoat_dong_lap_phap.pdf

