Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của tòa án nhân dân cấp tỉnh trong tố tụng trọng tài
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
Ths. Lê Hải Chinh
Tóm tắt: Áp dụng biện pháp cẩn khấp tạm thời là nhu cầu cần thiết trong giải
quyết tranh chấp, bao gồm cả giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại tại
Trọng tài thương mại. Lần đầu tiên, Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định về
biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đây là bước phát triển của Luật trọng tài thương mại
nhưng trong quá trình áp dụng có nhiều bất cập như xung đột pháp luật về lựa chọn
biện pháp khẩn cấp tạm thời, thủ tục áp dụng… Do vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện các
quy định là cần thiết. Muốn làm được điều đó, chúng ta cần phải giải quyết ngay từ
nguyên tắc áp dụng pháp luật, sửa đổi hoặc ban hành mới quy định về thủ tục áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời. Có như vậy, pháp luật về áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời của tòa án trong tố tụng trọng tài mới đi vào trong cuộc sống thuận lợi.
Từ khóa: tố tụng trọng tài, biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài.
Abstract: Applying interim urgent measures is necessary in dispute settlement,
including the settlement of business and commercial disputes by Commercial
Arbitration. This is the first time and a development step of Commercial Arbitration
Law (2010). But in the process of application, there are many shortcomings such as
legal conflicts over the selection of provisional urgent measures, application
procedures... Therefore, the completion of these legal provisions about interim urgent
measures is necessary. We need to deal with the principle of application of the law,
amend or promulgate new regulations on procedures for applying provisional
emergency measures. Thus, the law on the application of the court's provisional
emergency measures in arbitration proceedings has come to life smoothly.
Keywords: arbitration proceedings, interim urgent measures in arbitration
proceedings
1. Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài
462
Tranh chấp trong kinh doanh, thương mại có thể được giải quyết bằng thương
lượng, hòa giải, giải quyết tại tòa án nhân dân (Tòa án) hoặc Trọng tài thương mại
(TTTM). Trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TTTM, xuất
phát từ nhu cầu cấp thiết, có khả năng gây thiệt hại hoặc ảnh hưởng đến lợi ích của một
bên (thường là nguyên đơn), họ có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng một
hoặc nhiều biện pháp có tính cấp thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của họ. Biện pháp
đó gọi là biện pháp khẩn cấp tạm thời (KCTT) trong tố tụng trọng tài.
Trước đây, khái niệm biện pháp KCTT thường được tiếp cận trong tố tụng dân sự. Biện
pháp KCTT thuộc thẩm quyền áp dụng của Hội đồng trọng tài lần đầu tiên được quy
định trong Luật TTTM năm 2010. Tuy nhiên, khái niệm biện pháp KCTT chưa được
luật định nghĩa. Bộ Luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2015 chỉ nêu những trường hợp
được quyền yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT và những biện pháp KCTT được quyền
yêu cầu áp dụng. Và tương tự, Luật TTTM năm 2010 cũng chưa định nghĩa biện pháp
KCTT.
Các góc nhìn khác nhau đã đưa các định nghĩa biện pháp KCTT. Góc nhìn môn học
pháp luật tố tụng dân sự, biện pháp KCTT là biện pháp tố tụng do Tòa án áp dụng khi
đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện
có đơn yêu cầu hoặc do Tòa án chủ động áp dụng trong những trường hợp pháp luật
cho phép để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức
khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây
thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi
hành án hoặc cho rằng, biện pháp KCTT là biện pháp Tòa án quyết định áp dụng trong
quá trình giải quyết việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo
vệ bằng chứng hoặc bảo đảm việc thi hành án. Góc nhìn chung nhất, biện pháp KCTT
được hiểu là một công đoạn tố tụng rút ngắn và đơn giản nhằm giúp cơ quan tài phán
can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản tranh chấp hoặc các đảm
bảo khác thiết yếu cho thi hành các nghĩa vụ, trong khi phiên tranh tụng chính chưa kết
thúc… Các góc nhìn có những điểm chung của biện pháp KCTT là: (i) biện pháp KCTT
thực hiện theo yêu cầu của đương sự trong vụ kiện, không phải do cơ quan có thẩm
quyền tự mình áp dụng trong tố tụng giải quyết (trừ một số trường hợp luật quy định);
(ii), biện pháp KCTT là thủ tục phụ, phái sinh có tính chất bổ trợ cho thủ tục chính, nên
quy trình thủ tục áp dụng là ngắn gọn, đơn giản; (iii), mục đích của biện pháp KCTT là
xuất phát từ nhu cấu cấp bách, cần thiết nhằm tránh gây thiệt hại, hoặc có tính chất bảo
toàn một nội dung nào đó (tài sản, tính mạng, sức khỏe…). Do có mục đích như vậy,
463
Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng năm 1972 của chế độ Việt Nam cộng hòa còn gọi
biện pháp KCTT là Biện pháp bảo toàn (từ điều 332 đến điều 367).
Khi những biện pháp KCTT được áp dụng trong tố tụng trọng tài, chúng ta có
thể hiểu “Biện pháp KCTT trong tố tụng trọng tài là những biện pháp được Hội đồng
trọng tài hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh áp dụng khi một bên trong tố tụng trọng tài
yêu cầu áp dụng”.
Như vậy, trong quá trình vụ việc, theo yêu cầu của đương sự, Hội đồng trọng tài, Tòa
án cấp tỉnh quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp cần thiết để giải quyết như
cầu cấp bách của đương sự bảo vệ bằng chứng hoặc để đảm bảo thi hành phán quyết
của Hội đồng trọng tài.
2. Thực trạng pháp luật về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án trong
tố tụng trọng tài.
Hiện nay, các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài do Luật TTTM năm
2010 (điều 48 đến điều 53) và Bộ luật TTDS năm 2015 (điều 111 đến điều 142) quy
định.
2.1 Về các biện pháp khẩn cấp tạm thời được đương sự yêu cầu và Tòa án quyết định
áp dụng
Các biện pháp KCTT phải được Luật TTTM năm 2010 quy định, gồm 06 biện pháp
sau: (i) Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; (ii) Cấm hoặc buộc bất kỳ bên
tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành
vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài; (iii) Kê biên tài sản đang tranh chấp;
(iv) Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các
bên tranh chấp; (v) Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên; và (vi) Cấm chuyển
dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.
Các biện pháp KCTT được Bộ Luật TTDS năm 2015 quy định gồm 16 biện pháp
cụ thể và một biện pháp mở, và có thể chia thành ba nhóm như sau: (i), Nhóm các biện
pháp KCTT về dân sự, hꢀn nhân và gia đình, lao động (06 biện pháp: Giao người chưa
thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; buộc
thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ
464
bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; cấm tiếp xúc với nạn nhân
bạo lực gia đình; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh
nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người
lao động; tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động,
quyết định sa thải người lao động;); (ii), Nhóm các biện pháp KCTT về dân sự, thương
mại (10 biện pháp: Kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài sản
đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; cho
thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hoá khác; phong tỏa tài khoản tại
ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ;
phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định;
cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có
liên quan đến việc đấu thầu; bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án); và
(iii), Nhóm các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định.
Qua đó, chúng ta thấy, các biện pháp KCTT quy định trong Luật TTTM năm 2010 có
03 biện pháp trùng với các biện pháp KCTT do Bộ Luật TTDS năm 2015 (Kê biên tài
sản đang tranh chấp, cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp
và cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp); 03 biện pháp KCTT của Luật
TTTM năm 2010 khác hoàn toàn với quy định của Bộ luật TTDS năm 2015 (Cấm hoặc
buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm
ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài, yêu cầu bảo
tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp và
yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên) và ngược lại, 13 biện pháp KCTT còn
lại của Bộ Luật TTDS năm 2015 khác hoàn toàn với Luật TTTM năm 2010.
Khi giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, người có quyền yêu cầu Tòa án áp
dụng biện pháp KCTT nhưng các biện pháp KCTT Tòa án có thẩm quyền quyết định
áp dụng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Nguyên tắc áp dụng pháp luật về biện pháp
KCTT trong mối quan hệ giữa Luật TTTM năm 2010 và Bộ Luật TTDS năm 2015 cho
thấy: Ngoài các biện pháp KCTT quy định từ khoản 1 đến khoản 16 điều 114 Bộ Luật
TTDS, điều 114 Bộ Luật TTDS năm 2015 còn quy định thêm “các biện pháp khẩn cấp
tạm thời khác mà luật có quy định” và “ngoài các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định
tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 16 Điều 114 của Bộ luật TTDS, Tòa án có trách
nhiệm giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn tạm thời khác do luật khác quy định”
của Bộ luật TTDS, chúng ta có thể hiểu các biện pháp KCTT quy định trong Luật TTTM
465
năm 2010 là những “biện pháp KCTT khác” và “do luật khác quy định”. Biện pháp
KCTT do Luật TTTM năm 2010 là sự bổ sung các biện pháp KCTT mà Luật TTDS
năm 2015 chưa quy định.
Với cách hiểu như vậy, chúng ta có thể lập luận: (i) nếu vụ tranh chấp kinh doanh
thương mại giải quyết tại Tòa án và khi đương sự yêu cầu, Tòa án vẫn có thể và không
chỉ áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời do Bộ Luật TTDS năm 2015 quy định, mà
có thể áp dụng cả những biện pháp KCTT do Luật TTTM năm 2010 quy định; (ii),
Ngược lại, nếu vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại được giải quyết tại TTTM và khi
đương sự yêu cầu, Hội đồng trọng tài chỉ có thể áp dụng các biện pháp KCTT do Luật
TTTM quy định. Hội đồng trọng tài không được áp dụng các biện pháp KCTT khác (kể
cả những biện pháp KCTT do Bộ Luật TTDS năm 2015 quy định). Và nếu đương sự
yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp KCTT, khi đó Tòa án chỉ và phải áp dụng các biện
pháp KCTT của Luật TTTM năm 2010 quy định. Việc áp dụng biện pháp KCTT là thủ
tục phái sinh, thủ tục phụ và Tòa án chỉ là một cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục
phái sinh được quy định trong Luật TTTM năm 2010.
Cách hiểu này có yếu tố hợp lý, do Luật TTTM năm 2010 khi quy định “thẩm quyền,
trình tự, thủ tục của Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời” đã
nêu “trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
của Tòa án thực hiện theo quy định của Bộ luật TTDS”. Luật TTTM năm 2010 chỉ dẫn
chiểu “thẩm quyền, trình tự, thủ tục” của Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
khẩn cấp tạm thời đối với vụ kiện tại Trung tâm trọng tài, mà không dẫn chiếu những
biện pháp KCTT Tòa án có thể áp dụng.
Tuy nhiên, nếu xác định mối quan hệ giữa Bộ luật TTDS và Luật TTTM là giữa luật tố
tụng chung và luật chuyên ngành: biện pháp KCTT trong Luật TTTM được ưu tiên áp
dụng khi giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài và trong trường hợp Luật TTTM
chưa quy định hoặc quy định chưa rõ, chưa cụ thể thì áp dụng các nguyên tắc chung
hoặc những quy định trong Bộ luật TTDS về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS.
Do đó, tranh chấp kinh doanh, thương mại được giải quyết tại TTTM và khi đương sự
yêu cầu, Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án không chỉ có thể áp dụng các biện pháp KCTT
mà Luật TTTM quy định, mà còn có quyền áp dụng bao gồm các biện pháp KCTT quy
định trong Bộ Luật TTDS năm 2015.
466
2.2 Về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án trong
tố tụng trọng tài.
Khi các bên tranh chấp nộp hồ sơ khởi kiện giải quyết tranh chấp tại TTTM nhưng
nộp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ở Tòa án cấp tỉnh thì có hai vấn đề
phát sinh:
Thứ nhất, khi người có quyền yêu cầu yêu cầu, Tòa án tiến hành thụ lý đơn yêu cầu áp
dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Do việc yêu cầu áp Tòa án áp dụng biện pháp
KCTT là thủ tục phái sinh, thủ tục phụ của vụ tranh chấp chính nên về mặt thụ lý và
vào sổ thu lý việc áp dụng biện pháp KCTT đang được các Tòa án tiếp nhận khác nhau.
Có trường hợp, Tòa án thụ lý yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT như việc dân sự, nhưng
cũng có trường hợp Tòa án thụ lý yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT như vụ dân sự.
Thứ hai, Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT của đương sự theo trình
tự thủ tục quy định tại điều 53 Luật TTTM năm 2010 và điều 133 Bộ Luật TTDS năm
2015.
Trình tự, thủ tục của Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT vừa được quy
định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 53 Luật TTTM năm 2010 nhưng khoản 4
điều 53 Luật TTTM năm 2010 cũng đồng thời quy định thêm “trình tự, thủ tục áp dụng,
thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thực hiện theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự”. Nội dung này cũng thể hiện trong khoản 4 điều 12
Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP “trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
khẩn cấp tạm thời và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời của Tòa án thực hiện theo quy định tại các điều 48, 49, 52, 53 Luật
TTTM và quy định của BLTTDS”. Cả hai văn bản đều quy định vừa áp dụng quy định
của Luật TTTM năm 2010 và đồng thời cũng dẫn chiếu đến quy định của Bộ luật TTDS
năm 2015.
Hiện nay, nhiều Tòa án khi được yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT của các vụ tranh
chấp giải quyết tại TTTM, họ sẽ thực hiện trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp KCTT theo quy định của Bộ Luật TTDS năm 2015. Bởi hiểu Luật TTTM
năm 2010 và Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP là luật chuyên ngành, Bộ Luật TTDS năm
2015 và Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP là luật chung về TTDS, trình tự, thủ tục áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT của Luật TTTM năm 2010 và Nghị quyết
467
01/2014/NQ-HĐTP sẽ được Tòa án ưu tiên áp dụng. Nhưng do có sự dẫn chiếu áp dụng
Bộ Luật TTDS từ Luật TTTM năm 2010 và Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP nên sau đó
trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT quy định trong Bộ Luật
TTDS năm 2015 và Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP sẽ được áp dụng giải quyết các yêu
cầu áp dụng biện pháp KCTT.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng biện pháp KCTT tại Tòa án cũng xuất hiện một số
bất cập:
(i), Bộ luật TTDS năm 2015 quy định “Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự,
người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án
quy định tại Điều 187 của Bộ luật TTDS có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ
án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của
Bộ luật TTDS…” và Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP cho rằng “Đương sự, người đại
diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định
tại Điều 187 của Bộ luật TTDS (sau đây gọi chung là đương sự) có quyền yêu cầu Tòa
án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ
luật Tố tụng dân sự…”. Hơn nữa, nhiều ví dụ minh họa trong Nghị quyết số 02 chỉ là
những minh họa cho giải quyết các vụ án quy định tại điều 187 Bộ luật TTDS. Với cách
quy định và minh họa như vậy, trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
KCTT do tòa án áp dụng trong Bộ luật TTDS và hướng dẫn của Nghị quyết số
02/2020/NQ-HĐTP là chủ yếu áp dụng cho giải quyết các vụ án dân sự nên chưa phù
hợp với giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại TTTM.
(ii), Trong quá trình yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT, một số biện pháp KCTT, Tòa
án có quyền yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm. Luật TTTM năm 2010 và Nghị quyết
số 01/2014/NQ-HĐTP quy định về biện pháp bảo đảm khi quyết định áp dụng biện
pháp KCTT nhưng không quy định cụ thể về biện pháp bảo đảm (như mức thực hiện
bảo đảm, cách thức thực hiện biện pháp bảo đảm…). Bộ luật TTDS năm 2015 và Nghị
quyết số 02/2020/NQ-HĐTP cụ thể hơn nhưng cũng còn nhiều nội dung chưa rõ ràng.
Bộ luật TTDS quy định, biện pháp thực hiện bảo đảm “do Tòa án ấn định nhưng
phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khꢀng đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu”. Trên có sở đó, Nghị quyết số
02/2020/NQ-HĐTP đã cụ thể hóa quy định “mức tương đương”. Theo đó, “Thẩm phán
468
phải dự kiến và tạm tính có tính chất tương đối thiệt hại thực tế có thể xảy ra nhưng
không thấp hơn 20% giá trị tạm tính của tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, trừ trường hợp có chứng cứ rõ ràng chứng minh tổn thất hoặc thiệt hại thấp hơn
20% giá trị tạm tính của tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”. “Giá trị tạm
tính” rất khó xác định và gây khó khăn cho đương sự, như: Tòa án ấn định giá trị tạm
tính khác nhau, giá trị tạm tính quá lớn để tạo “độ an toàn” cho quyết định của Tòa án,
kể cả người yêu cầu (hoặc trong một số trường hợp, công ty mẹ của công ty con) cam
kết nếu áp dụng biện pháp KCTT không đúng và gây thiệt hại họ hoàn toàn chịu trách
nhiệm và bồi thường…
Những quy định về các biện pháp KCTT và trình tự thủ tục quyết định áp dụng biện
pháp KCTT cũng còn nhiều bất cập, khó thực thi trong thực tiễn. Những quy định đó
cần tiếp tục hoàn thiện nhằm thực hiện thuận lợi hơn trong thực tiễn.
3. Các kiến nghị hoàn thiện quy định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của
Tòa án trong tố tụng trọng tài
Việc yêu cầu của đương sự và quyết định áp dụng biện pháp KCTT của Tòa án
là một trong những nội dung quan trọng và cần thiết trong tố tụng trọng tài. Các quy
định hiện nay tạo thuận lợi cho đương sự yêu cầu và Tòa án áp dụng biện pháp KCTT
trong tố tụng trọng tài, nhưng cũng còn nhiều bất cập và cần phải hoàn thiện. Xuất phát
từ những bất cập, bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện như sau:
Một là, chúng ta cần giải quyết mối quan hệ giữa Luật TTTM và Bộ luật TTDS
liên quan đến các biện pháp KCTT mà đương sự có quyền yêu cầu áp dụng. Luật TTTM
cần xác định rõ các biện pháp KCTT đương sự có quyền yêu cầu áp dụng trong giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TTTM là những biện pháp do Luật TTTM
quy định, kể cả trong trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án quyết định áp dụng biện
pháp KCTT.
Hai là, Luật TTTM năm 2010 là luật chuyên ngành giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại TTTM. Luật TTTM năm 2010 quy định trình tự, thủ tục Tòa án áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT nhưng đồng thời cũng dẫn chiếu trình tự, thủ tục của
Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT trong Bộ luật TTDS. Chúng ta nên
thống nhất: (i), nếu biện pháp KCTT yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng sẽ áp dụng
trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT do Luật TTTM áp dụng;
(ii), nếu biện pháp KCTT yêu cầu Tòa án áp dụng, điều 53 Luật TTTM sẽ quy định có
469
tính chất dẫn chiếu trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT do Bộ
Luật TTDS quy định.
Trên cơ sở đó, trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT do Tòa án
áp dụng có hai hướng: sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP để thuận lợi
hơn cho Tòa án trong việc áp dụng biện pháp KCTT; hoặc, Hội đồng thẩm pháp Tòa án
nhân dân tối cao ban hành một Nghị quyết khác về trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp KCTT của Tòa án trong tố tụng trọng tài.
Ba là, khi sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP hoặc ban hành một Nghị
quyết khác về trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT của Tòa án
trong tố tụng trọng tài, chúng ta phải lưu ý và làm rõ căn cứ để xác định “giá trị tạm
tính” của tài sản, hợp đồng… để thuận lợi hơn cho việc ấn định của Tòa án. Đồng thời,
chúng ta cũng phải lưu ý nếu có trường hợp bảo lãnh hoặc cam kết của bên thứ ba, công
ty mẹ … để có thể kịp thời quyết định áp dụng biện pháp KCTT.
Tóm lại, việc đề nghị và quyết định áp dụng biện pháp KCTT trong tố tụng trọng tài
phải đảm bảo tính thống nhất trong áp dụng pháp luật. Đồng thời, nhiều quy định về
trình tự thủ tục áp dụng, hủy bỏ các biện pháp KCTT phải được điều chỉnh, bổ sung
hoặc ban hành mới để pháp luật hướng tới thuận lợi trong thực tiễn áp dụng.
470
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003
2. Luật trọng tài thương mại năm 2010
3. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
4. Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng năm 1972 của chế độ Việt Nam cộng hòa
5. Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng thẩm phán
TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài Thương
mại
6. Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm pháp
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp
khẩn cấp tạm thời của Bộ luật TTDS
7. Phạm Duy Nghĩa (2010), Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng
tài, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 23 (184).
8. Đại học luật TPHCM (2018), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB
Hồng Đức.
9. Trường Đại học Luật Hà nội (2011), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp
luật, NXB CAND.
10. Đoàn Đức Lương, Nguyễn Sơn Hải (đồng chủ biên) (2013), Giáo trình Luật
tố tụng dân sự Việt Nam, NXB ĐH Huế.
11. Nguyễn Ngọc Điện (2006), Một số vấn đề lý luận về các phương pháp phân
tích luật viết, NXB Tư pháp
471
Bạn đang xem tài liệu "Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của tòa án nhân dân cấp tỉnh trong tố tụng trọng tài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ap_dung_bien_phap_khan_cap_tam_thoi_cua_toa_an_nhan_dan_cap.pdf

