Nguyên tắc sử dụng hợp lý và công bằng nguồn nước quốc tế và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG HỢP LÝ VÀ CÔNG BẰNG NGUỒN NƯỚC
QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Hà Thanh Hòa
ThS.-Bộ-môn-Công-pháp-quốc-tế,-Khoa-Pháp-luật-quốc-tế,-Trường-Đại-học-Luật-Hà-Nội
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Trong quan hệ quốc tế, nguyên tắc sử dụng công bằng và hợp lý
nguồn nước quốc tế là nền tảng pháp lý quan trọng nhất, có vai trò
định hình và phát triển Luật Quốc tế về nguồn nước quốc tế dựa trên
nền tảng chia sẻ công bằng và sử dụng hợp lý các nguồn nước xuyên
quốc gia. Sự thiếu vắng nguyên tắc này trong việc điều chỉnh mối
quan hệ giữa các quốc gia trong khai thác, quản lý nguồn nước quốc
tế sẽ gây ra những tác hại khôn lường đối với các quốc gia trong lưu
vực sông quốc tế, đặc biệt là các quốc gia ở hạ lưu, khi các quốc gia
này ở vào vị trí yếu thế hơn nhiều so với các quốc gia ở vùng thượng
lưu. Việt Nam là quốc gia nằm ở vị trí địa lý không thuận lợi của lưu
vực sông Mê Kông nên phải gánh chịu nhiều hệ lụy từ sự sử dụng
không hợp lý, không công bằng tại các nước ở thượng nguồn. Việc
tìm hiểu các quy định của Pháp luật Quốc tế về nội dung nguyên tắc
sử dụng công bằng, hợp lý nguồn nước quốc tế và vận dụng nguyên
tắc trong khai thác, quản lý nguồn nước sông Mê Kông sẽ góp phần
giúp Việt Nam và các quốc gia ven lưu vực khác tìm kiếm được các
giải pháp hiệu quả hơn để đảm bảo phát triển bền vững các lợi ích
từ con sông này.
Từ khóa: Nguyên tắc sử dụng hợp lý
và công bằng; nguồn nước quốc tế;
sông Mê Kông.
Lịch sử bài viết:
Ngày nhận bài : 24/8/2020
Biên tập
: 14/9/2020
: 18/9/2020
Duyệt bài
Article Infomation:
Keywords: The principle of equitable
and reasonable utilization; of the
international watercourses; the
Mekong River.
Article History:
Received
Edited
Approved
: 24 Aug. 2020
: 14 Sep. 2020
: 18 Sep. 2020
Abstract:
In the international relationship, the principle of equitable and
reasonable utilization of the international watercourses is the most
important legal foundation and plays a role in shaping and
developing the International Law on Water Resources, which is
based on the ground of fair sharing and reasonable utilization of the
transnational water resources. The missing of this principle in
regulating the relationship among the nations in the exploitation and
management of the international water resources will have
immeasurable impacts on the nations in the international river basin,
especially downstream basin nations when they are in a much weaker
position than the upstream basin nations. Vietnam is a geographically
located nation that is not favorable for the storage of the Mekong
River, so it suffers from several difficulties from unreasonable and
inequitable utilization of upstream water sources. Understanding the
provisions of the International Law on the principle of equitable and
reasonable utilization of the international watercourses and the
application of the principle of the exploitation and management of
water resources of the Mekong River will provide a contribution to
helping Vietnam and other nations in the basin in seeking a more
efficient way to secure the benefits of this river.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
15
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
1. Nguyên tắc sử dụng công bằng và hợp
lý nguồn nước quốc tế
không làm thiệt hại vô lý đến các quốc gia
ven nguồn nước khác, phù hợp với lợi ích
công cộng và phát triển bền vững”5.
“Công bằng” theo giải thích của Tòa án
công lý quốc tế Liên hợp quốc (ICJ) trong
vụ Thềm lục địa biển Bắc là “một khái niệm
pháp lý bắt nguồn trực tiếp từ tư tưởng công
lý”1. Sử dụng công bằng không có nghĩa là
chia đều tài nguyên hoặc chia đều việc sử
dụng và lợi ích2. Nói cách khác, bình đẳng
không có nghĩa là mỗi quốc gia ven nguồn
nước có quyền chia sẻ ngang nhau trong việc
sử dụng và lợi ích của nguồn nước cũng
không có nghĩa là số lượng nước của nguồn
nước quốc tế sẽ được chia thành các phần
giống hệt nhau. Thay vào đó, mỗi quốc gia
ven nguồn nước có quyền sử dụng và hưởng
lợi từ nguồn nước theo một cách thức công
bằng. Phạm vi quyền của một quốc gia trong
việc sử dụng công bằng phụ thuộc vào hoàn
cảnh cụ thể của từng trường hợp3. Sử dụng
hợp lý bao gồm sự phù hợp và tính đến
những nhân tố như sự phát triển kinh tế - xã
hội của quốc gia4. Cụ thể hơn, theo giải thích
của Ủy ban xây dựng kế hoạch và quản lý
nguồn nước thuộc Hiệp hội kỹ sư xây dựng
Mỹ, “sử dụng hợp lý là sử dụng nước, cả về
số lượng và cách thức, cần thiết cho việc sử
dụng kinh tế và hiệu quả mà không lãng phí,
Theo quy định tại Công ước của Liên
hợp quốc về Luật sử dụng các nguồn nước
quốc tế vào mục đích phi giao thông thủy
năm 1997 (Công ước Liên hợp quốc 1997)
và Công ước về bảo vệ và sử dụng các nguồn
nước xuyên biên giới và các hồ quốc tế của
Ủy ban Kinh tế châu Âu (Công ước
Hensinki 1992), nguyên tắc sử dụng công
bằng và hợp lý nguồn nước quốc tế bao gồm
những nội dung sau:
Thứ nhất, một quốc gia ven nguồn nước
được sử dụng và phát triển nguồn nước quốc
tế nhằm mục đích đạt được việc sử dụng tối
ưu và bền vững và lợi ích từ việc sử dụng
đó, có tính đến lợi ích của những quốc gia
ven nguồn nước có liên quan, phù hợp với
việc bảo vệ đầy đủ nguồn nước. Nói cách
khác, trong phạm vi lãnh thổ của mình, mỗi
quốc gia ven nguồn nước có quyền được sử
dụng và phát triển nguồn nước quốc tế nhằm
đạt khả năng sử dụng hiệu quả nhất nguồn
nước về mặt kinh tế, tránh sự lãng phí, đồng
thời, phải tuân thủ nghĩa vụ sau:
Một là, đảm bảo khả năng đạt được lợi
ích tối đa cho tất cả các quốc gia ven nguồn
1
2
Xem: ICJ (1969), North Sea Continental Shelf (Federal Republic of Germany/Denmark), Judgment of 20
February 1969, ICJ Report 1969, para 71.
Xem: UN Watercourses Convention, User’s Guide Fact Sheet Series: Number 4 - Equitable and Reasonable
Reasonable-Utilisation.pdfm, truy cập ngày 1//3/2019.
3
Xem: The United Nations Economic Commission for Europe (UNECE) (2013), Guide to Implementing
WAT_Guide_to_implementing_Convention/ECE_MP.WAT_39_Guide_to_implementing_water_conventio
n_small_size_ENG.pdf, truy cập ngày 1/6/2019.
4
5
Xem: UN Watercourses Convention, User’s Guide Fact Sheet Series: Number 4 - Equitable and
Equitable-and-Reasonable-Utilisation.pdfm, truy cập ngày 1//3/2019.
Xem: Robert E. Beck, (2004) The Regulated Riparian Model Water Code: Blueprint for Twenty First
Century Water Management, 25 Wm.
&
Mary Envtl. L.
&
Pol’y Rev. 113;
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
16
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
nước và khả năng đáp ứng lớn nhất có thể
những nhu cầu của tất cả các quốc gia này
trong khi giảm đến mức tối thiểu những tác
hại hoặc những nhu cầu không đạt được của
mỗi bên6. Nói cách khác, việc sử dụng nguồn
nước của một quốc gia không được làm tổn
hại đến các quyền của quốc gia ven nguồn
nước khác.
công bằng lợi ích và bang Kansas có thể yêu
cầu sự hỗ trợ chống lại những hành động
của bang Colorado”8.
Trong vụ Gabcíkovo-Nagymaros Case,
Tòa án đã khẳng đinh, “hoạt động đơn
phương của Slovakia khi tiến hành dự án
trên sông Danube cho phép Slovakia (tại
thời điểm đó là Tiệp Khắc) sử dụng từ 80 đến
90% nước của dòng sông xuyên biên giới vì
lợi ích riêng của nước này, điều này đã vi
phạm quyền cơ bản của Hungary trong việc
chia sẻ hợp lý và công bằng nguồn nước
quốc tế”9. Trước đó, trong vụ River Oder
case, Tòa án thường trực quốc tế đã khẳng
định, “lợi ích của cộng đồng tại các dòng
sông tàu thuyền có thể qua lại trở thành cơ
sở của một quyền pháp lý chung mà nội
dung nổi bật của quyền này là sự bình đẳng
hoàn toàn của tất cả các quốc gia ven sông
trong việc sử dụng toàn bộ dòng sông và loại
trừ bất kỳ đặc quyền ưu đãi của bất kỳ một
quốc gia ven sông nào trong mối quan hệ với
những quốc gia khác”10.
Trong vụ Kansas v. Colorado7, Tòa án
liên bang Mỹ đã từ chối yêu cầu trợ giúp của
bang Kansas nằm ở hạ nguồn sông Arkansas
nhằm chống lại bang Colorado do những
thiệt hại đáng kể phát sinh từ việc chuyển
hướng nguồn nước sông vì Tòa cho rằng, đó
là sự sử dụng công bằng. Tòa nhận thấy
rằng, việc bang Colorado chiếm hữu nước
sông Arkansas nhằm mục đích tưới tiêu đã
làm giảm lượng nước chảy vào bang Kansas,
đồng thời cũng khai hoang những khu vực
rộng lớn tại bang Colorado, biến hàng ngàn
mẫu đất thành những cánh đồng mầu mỡ.
Tòa cũng khẳng định rằng trong khi tác động
từ việc giảm lượng nước chảy vào bang
Kansas đã gây thiệt hại rõ ràng đến phần
nước tại khu vực thung lũng Arkansas ở
bang này thì tác động đến các khu vực lớn
của thung lũng nếu có thiệt hại là rất ít. Tuy
nhiên, Tòa đã bổ sung, “rõ ràng là, nếu sự
cạn kiệt của nước sông Colorado tiếp tục
tăng thêm, sẽ không còn là sự phân chia
Hai là, việc sử dụng và phát triển nguồn
nước của quốc gia phải phù hợp với việc bảo
vệ đầy đủ nguồn nước. Theo giải thích của
ILC, bảo vệ đầy đủ không chỉ bao gồm
những biện pháp như bảo tồn, an ninh mà
còn bao gồm những biện pháp kiểm soát về
phương diện kỹ thuật, thủy văn như kiểm
6
7
8
9
Xem: International Law Commission (1994), Draft articles on the law of the non-navigational uses of
international watercourses and commentaries thereto and resolution on transboundary confined
groundwater, Yearbook of the International Law Commission, 1994, vol. II, Part Two, p.97.
Xem: International Law Commission (1994), Draft articles on the law of the non-navigational uses of
international watercourses and commentaries thereto and resolution on transboundary confined
groundwater, Yearbook of the International Law Commission, 1994, vol. II, Part Two, p.98.
Xem: International Law Commission (1994), Draft articles on the law of the non-navigational uses of
international watercourses and commentaries thereto and resolution on transboundary confined
groundwater, Yearbook of the International Law Commission, 1994, vol. II, Part Two, p.98.
Xem: Case Concerning the Gabcíkovo-Nagymaros Project (Hungary v Slovakia) Judgement of 25
September 1997 (Gabcíkovo-Nagymaros Case) [1997] ICJ Reports 1997, 7 at 54, para 78.
10 Xem: River Oder case, Judgement no. 16 (10 September 1929), PCIJ Series A, No. 23, at 5-46.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
17
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
soát lũ lụt, ô nhiễm, xói mòn để giảm thiểu
hạn hán và kiểm soát xâm nhập mặn11.
sử dụng, phát triển và bảo vệ nguồn nước
quốc tế theo một cách thức hợp lý và công
bằng. Nội dung của nghĩa vụ này là, sự hợp
tác giữa các quốc gia ven nguồn nước, thông
qua sự tham gia, trên cơ sở công bằng và hợp
lý vào việc tiến hành những biện pháp, hoạt
động nhằm đạt được việc sử dụng tối ưu
nguồn nước quốc tế, phù hợp với việc bảo
vệ đầy đủ nguồn nước quốc tế như thực hiện
các biện pháp phòng chống lũ lụt, các
chương trình giảm thiểu ô nhiễm, lập kế
hoạch giảm thiểu hạn hán, chống xói mòn,
điều tiết dòng chảy, bảo vệ công trình thủy
lợi, bảo vệ môi trường…13
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng
hợp lý và công bằng nguồn nước quốc tế
Theo quy định tại Điều 6 Công ước Liên
hợp quốc năm 1997, việc sử dụng nguồn
nước hợp lý và công bằng cần tính đến tất cả
các yếu tố và hoàn cảnh sau:
Ngoài ra, nghĩa vụ sử dụng hợp lý và
công bằng còn gắn với vấn đề phát triển bền
vững nguồn nước quốc tế. Điều này đã được
ghi nhận trong những quy định của Công
ước UNCE cũng như Công ước của Liên
hợp quốc với nội dung: “Nguồn nước sẽ
được quản lý để những nhu cầu hiện tại được
đáp ứng mà không làm tổn hạn đến việc đáp
ứng những nhu cầu của chính họ trong tương
lai” (Điều 2 Công ước UNCE) hay “Đặc biệt
một nguồn nước quốc tế sẽ được sử dụng và
được phát triển bởi các quốc gia nguồn nước
với tầm nhìn để đạt được việc sử dụng tối ưu
và bền vững lợi ích từ đó, có tính đến lợi ích
của các quốc gia nguồn nước liên quan, phù
hợp với việc bảo vệ đầy đủ nguồn nước”
(Điều 5, Công ước Liên hợp quốc 1997). Nói
cách khác, việc sử dụng một nguồn nước
không được xem xét như là công bằng một
cách hợp pháp nếu không bền vững. Do đó,
việc sử dụng nguồn nước mang lại lợi ích tối
đa cho các quốc gia ven sông theo cách
không phù hợp với việc bảo tồn nguồn nước
như một tài nguyên thiên nhiên sẽ không đáp
ứng tiêu chuẩn để được coi là sử dụng công
bằng và hợp lý. Vì thế, vấn đề sử dụng hợp
lý và công bằng không chỉ được áp dụng để
điều chỉnh các vấn đề liên quan đến số lượng
hay phân bổ nguồn nước mà còn liên quan
đến chất lượng của nguồn nước quốc tế12.
Thứ hai, các quốc gia ven nguồn nước
- Yếu tố địa lý, thủy văn, thủy học, sinh
thái và những nhân tố tự nhiên khác
Theo giải thích của ILC, yếu tố địa lý
bao gồm phạm vi của nguồn nước quốc tế
trong lãnh thổ của mỗi nguồn nước; yếu tố
thủy văn liên quan đến sự mô tả và lập bản
đồ các vùng nước của dòng nước; yếu tố
thủy học liên quan đến các tính chất của
nước, bao gồm cả nguồn nước và sự phân bổ
của nước; yếu tố hệ sinh thái nhấn mạnh đến
khả năng tác động đối với sự cân bằng sinh
thái của nguồn nước quốc tế có liên quan đến
việc đánh giá sự công bằng trong việc sử
11 Xem: International Law Commission (1994), Draft articles on the law of the non-navigational uses of
international watercourses and commentaries thereto and resolution on transboundary confined
groundwater, Yearbook of the International Law Commission, 1994, vol. II, Part Two, p.98.
12 Xem: The United Nations Economic Commission for Europe (UNECE) (2013), Guide to Implementing
WAT_Guide_to_implementing_Convention/ECE_MP.
convention_small_size_ENG.pdf, truy cập ngày 1/6/2019.
WAT_39_Guide_to_implementing_water_
13 Xem: International Law Commission (1994), Draft articles on the law of the non-navigational uses of
international watercourses and commentaries thereto and resolution on transboundary confined
groundwater, Yearbook of the International Law Commission, 1994, vol. II, Part Two, p.97.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
18
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
dụng nguồn nước14. Nói cách khác, những
yếu tố tự nhiên có khả năng phù hợp theo
tiêu chí này bao gồm, độ dài mặt tiền sông;
phạm vi của khu vực thoát nước nằm trong
lãnh thổ của các quốc gia lưu vực và sự phân
bổ của nước vào dòng chảy tại các quốc gia
lưu vực sông15.
tiền sông có thể được tính đến trong quá
trình thiết lập một chế độ công bằng cho việc
sử dụng các nguồn nước quốc tế, nhưng chỉ
là một yếu tố để điều chỉnh sự phân bổ”17.
- Khu vực thoát nước
Yếu tố thứ hai là phạm vi của khu vực
thoát nước trong lãnh thổ của các quốc gia
lưu vực sông. Trong vụ tranh chấp Narmada,
bang Madhya Pradesh yêu sách mở rộng lưu
vực sông đến 97.59%. Tòa đã đưa ra ý kiến
rằng những nhu cầu kinh tế, xã hội của các
bên là các nhân tố quan trọng nhất để xem
xét và trên cơ sở đó, kết luận rằng bang
Gujarat được hưởng 37.59%, bang Madhya
Pradesh hưởng 62.41% nguồn nước. Tuy
nhiên, trên cơ sở xem xét lưu vực sông cũng
như áp dụng các tiêu chuẩn khác, Tòa đã
phân chia lại tỷ lệ này là 33% thuộc về
Gujarat và 67% thuộc về Madhya Pradesh.
Cụ thể, Tòa đã tuyên rằng: “Cần phải tính
đến khu vực thoát nước của Gujarat là 180
dặm vuông (00: 53%) và Madhya Pradesh
33,150 dặm vuông (97,59%) để phân bổ
nguồn nước trong trường hợp cụ thể này”18.
- Sự phân bổ của nước
- Mặt tiền sông
Thực tiễn cho thấy, mặt tiền sông hiếm
khi được viện dẫn như một cơ sở để xác định
một chế độ công bằng cho việc sử dụng của
một dòng sông quốc tế. Trong trường hợp
sông Colorado chảy qua Mexico chỉ có 100
dặm, ít hơn 10% so với chiều dài dặm 1.300
dặm của cả sông, do đó, chiều dài của dòng
sông chảy qua các lãnh thổ tương ứng của
Mexico và Mỹ không được coi là cơ sở cho
việc phân bổ các vùng nước theo Hiệp ước
1944 liên quan đến việc sử dụng các vùng
nước của sông Colorado và sông Tijuana và
Rio Grande16. Một ví dụ nữa liên quan đến
trường hợp sông Nile chảy qua lãnh thổ của
9 quốc gia. Đối với phần sông Nile chảy qua
lãnh thổ Sudan và Ai Cập, năm 1992, Vương
quốc Anh và Ai Cập đã ký thỏa thuận về việc
sử dụng sông Nile cho mục đích tưới tiêu với
tỷ lệ phân bổ là 1:12 nghiêng về Ai Cập; sau
khi Sudan giành độc lập, các điều khoản này
đã được thỏa thuận lại với tỷ lệ phân bổ mới
là 1:3 nghiêng về Ai Cập. Tuy nhiên, trong
cả hai lần thỏa thuận này, chiều dài mặt tiền
sông của các bên không được đề cập đến như
một yếu tố liên quan. Nói cách khác, “mặt
Trong vụ tranh chấp Narmada, Tòa đã
khẳng định rằng cho dù sự phân bổ của nước
ít có sự quan trọng bằng những nhu cầu kinh
tế, xã hội nhưng yếu tố này cũng cần phải
tính đến trong quá trình phân bổ nguồn
nước. Trên thực tế, một số quốc gia cũng đã
viện dẫn đến yếu tố sự phân bổ của nước như
trường hợp năm 1956, Thổ Nhĩ Kỳ đã khẳng
14 Xem: International Law Commission (1994), Draft articles on the law of the non-navigational uses of
international watercourses and commentaries thereto and resolution on transboundary confined
groundwater, Yearbook of the International Law Commission, 1994, vol. II, Part Two, p.101.
15 Xem: Owen Mcintyre (2007), Environmental protection of international watercourses under international
law, Ashgate Publishing Limited, England, p.180.
16 Xem: C. J. Meyers, ‘The Colorado Basin’, in Garretson et al., supra, n. 45, at 486.
17 Xem: Ministry of Irrigation of the Sudan, The Nile Waters Question (Khartoum, 1955), at 43.
18 Xem: Narmada Water dispute tribunal, Report of the Narmada Water Disputes Tribunal, vol. 1, at 66–9;
III.pdf.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
19
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
định các quyền của mình đối với sông Nile
trên cơ sở 60% dòng chảy của sông Nile
phân bổ trên lãnh thổ nước này. Tuy nhiên,
trong nhiều trường hợp, yếu tố này đã bị bỏ
qua hoặc bỏ qua phần lớn. Chẳng hạn, mặc
dù không có sự phân bổ đáng kể dòng chảy
sông Nile trên lãnh thổ Ai Cập nhưng nước
này cũng được phân bổ ¾ nguồn nước19.
- Nhu cầu kinh tế, xã hội của các quốc
gia ven nguồn nước có liên quan
Nhu cầu kinh tế, xã hội của quốc gia ven
nguồn nước liên quan đã được tính đến như
một yếu tố trong việc sử dụng nguồn nước
công bằng trong nhiều phán quyết của các
cơ quan tài phán quốc gia. Tòa trọng tài
trong vụ tranh chấp Krishna, Narmada đều
tuyên bố “Sự cần thiết trong việc chuyển
dòng nước sang một lưu vực khác có thể là
yếu tố liên quan trong việc phân bổ công
bằng”20. Cũng trong vụ tranh chấp Krishna,
Tòa đã dành cho bang Andhra Pradesh với
dân số ít hơn và đất không thể tưới được một
tỷ lệ phân bổ nước cao hơn vì nhu cầu kinh
tế của nước này phụ thuộc cao vào nguồn
nước đó.
nước Narmada đã khẳng định rằng: “Dân
chúng của các quốc gia phụ thuộc vào việc
cung cấp nước và mức độ của sự phụ thuộc
này là một yếu tố liên quan”. Kết luận tương
tự cũng được Tòa đưa ra trong vụ tranh chấp
nước Krishana. Trong vụ tranh chấp nước
sông Atuel giữa hai tỉnh La Pampa và
Mendoza, Tòa án tối cao Argentina đã chỉ ra
rằng 100.000 người dân tại tỉnh Mendoza
gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nền nông
nghiệp, do đó, phụ thuộc vào nguồn nước
sông Atuel trong khi chỉ có 3.024 người dân
tại tỉnh La Pampa hưởng lợi ích từ nguồn
nước này. Đây là một trong những lý do để
Tòa tuyên 100% nguồn nước sông Atuel
thuộc về tỉnh Mendoza.
Mặc dù Công ước của Liên hợp quốc
hay Quy tắc Helsinki đều không đề cập đến
khía cạnh sử dụng nào sẽ được ưu tiên hơn
nhưng thực tiễn các quốc gia và thực tiễn
hoạt động của các cơ quan tư pháp cho thấy,
những nhu cầu cơ bản xác định, đặc biệt là
sử dụng nước để uống và những mục đích
dân sinh khác của người dân sẽ được ưu tiên.
Tòa án liên bang Mỹ đã khẳng định, “sử
dụng nước để uống và dùng cho những mục
đích dân sinh khác là việc sử dụng cao nhất
nguồn nước”. Các điều ước Mỹ ký kết cũng
có cách tiếp cận tương tự. Chẳng hạn Điều
3 Hiệp định giữa Mỹ và Mexico về việc sử
dụng nước của sông Colorado và Tijuana và
Rio Grande đã ghi nhận những yêu cầu ưu
tiên bao gồm: (1) dùng cho dân sinh và đô
- Sự phụ thuộc của dân chúng vào
nguồn nước quốc tế
Theo giải thích của Ủy ban pháp luật
quốc tế (ILC), yếu tố “sự phụ thuộc của dân
chúng vào nguồn nước quốc tế” liên quan
đến quy mô của dân chúng cũng như mức độ
phụ thuộc của dân chúng vào nguồn nước
quốc tế21. Tòa trọng tài trong vụ tranh chấp
19 Xem: M. R. Lowi, Water and Power: The Pol
itics of a Scarce Resource in the Jordan River Bas
in
(Cambridge University Press, Cambridge, 1993), at 71.
20 Xem: Krishna Water dispute tribunal, Report o
f the Krishna Water Disputes Tribunal, vol. 2, at 13
8;
Report of the Narmada Water Disputes Trib
sites/default/files/NARMADA%20WATER%20DISP
718468760.pdf; Narmada Water dispute tribunal,
unal, vol. 1, at 66–9;
UTES%20TRIBUNAL-VOL-III.pdf.
21 Xem: International Law Commission (1994), D
raft articles on the law of the non-navigational uses
of
eto and resolution on transboundary confined
mission, 1994, vol. II, Part Two, p.101.
international watercourses and commentaries ther
groundwater, Yearbook of the International Law Com
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
20
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
thị; (2) nông nghiệp và dự trữ; (3) năng
lượng điện; (4) dùng cho công nghiệp. Tòa
trọng tài trong vụ tranh chấp nước Krishana
đã nhấn mạnh, “việc sử dụng nước để uống,
cho các việc nhà và gia súc được xem như
việc sử dụng hàng đầu mà những việc sử
dụng khác đều là phát sinh”22, Tòa trọng tài
trong vụ tranh chấp nước Narmada cũng
tuyên bố: “Với khí hậu nóng và khô cằn của
Ấn Độ, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp
với 75% dân số phụ thuộc vào nông nghiệp
để kiếm sống và thực tế là không có gì thay
thế cho nước trong việc tưới tiêu, do đó, việc
sử dụng nước để tưới tiêu của Narmada sẽ
được ưu tiên hơn so với việc sử dụng nước
để làm thủy điện trong bất kỳ trường hợp
xung đột nào giữa hai mục đích sử dụng”23.
- Khả năng sẵn sàng thay thế, so sánh
giá trị của việc sử dụng hiện tại với việc sử
dụng đã được lên kế hoạch cụ thể
Yếu tố này liên quan đến sự phụ thuộc
của mỗi quốc gia, hoặc liên quan đến những
nhu cầu thiết yếu của con người hoặc như
cầu kinh tế và xã hội, đó là khả năng sẵn có
của các nguồn thay thế đối với một quốc gia
để ngầm định rằng, quốc gia đó ít phụ thuộc
hơn quốc gia mà nhu cầu nguồn nước của họ
không thể được đáp ứng bởi các nguồn khác.
Ủy ban tưới tiêu Ấn Độ đã thừa nhận: “Có
nhiều trường hợp khi phải lựa chọn giữa sử
dụng nước nhằm mục đích tưới tiêu hay làm
thủy điện, việc cân nhắc không chỉ dựa trên
những yếu tố kinh tế mà còn trên cơ sở thừa
nhận thực tế rằng, tưới tiêu chỉ có thể thực
hiện bằng việc sử dụng nguồn nước trong
khi năng lượng có thể được tạo ra từ những
nguồn khác như than đá, gas, dầu”24.
Bình luận của ILC đã giải thích, khả
năng thay thế không chỉ đem lại những
nguồn cung cấp nước khác mà còn là những
hình thức khác không liên quan đến việc sử
dụng nước, đáp ứng được những nhu cầu sử
dụng nước, ví dụ các nguồn năng lượng hoặc
phương tiện giao thông thay thế25. Trong vụ
tranh chấp nước Narmada, Tòa trọng tài đã
bác bỏ yêu cầu của bang Gujarat đối với
nguồn nước phục vụ cho mục đích tươi tiêu
khu vực Mahi do khu vực này đã được tưới
tiêu hoặc đã được lên kế hoạch tưới tiêu bởi
nước sông Mahi26. Trong vụ tranh chấp nước
Krishna, Tòa trọng tài cũng bác bỏ lập luận
của bang Maharashtra và bang Mysore rằng,
bang Andhra Pradesh có thể đáp ứng những
nhu cầu của mình bằng cách làm trệch
hướng dòng nước của sông Godavari; bởi vì,
tại thời điểm đó, việc làm trệch hướng của
sông Godavari chỉ đơn thuần là một khả
năng rất nhỏ do sự chia sẻ của bang Andhra
Pradesh đối với nước sông Krishna không
thể giảm được27.
22 Xem: Krishna Water dispute tribunal, Report of the Krishna Water Disputes Tribunal, vol. 2, at 138;
23 Xem: Narmada Water dispute tribunal, Report of the Narmada Water Disputes Tribunal, vol. 1, at 66–9;
III.pdf.
24 Xem: Narmada Water dispute tribunal, tlđd.
25 Xem: International Law Commission (1994), Draft articles on the law of the non-navigational uses of
international watercourses and commentaries thereto and resolution on transboundary confined
groundwater, Yearbook of the International Law Commission, 1994, vol. II, Part Two, p.101.
26 Xem: Narmada Water dispute tribunal, Report of the Narmada Water Disputes Tribunal, vol. 1, at 66–9;
27 Xem: Krishna Water dispute tribunal, Report of the Krishna Water Disputes Tribunal, vol. 2, at 138;
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
21
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Ngoài những yếu tố trên, Công ước Liên
hợp quốc năm 1997 còn quy định một số yếu
tố khác ảnh hưởng đến việc sử dụng công
bằng, hợp lý nguồn nước quốc tế bao gồm
tác động của việc sử dụng hoặc sẽ sử dụng
đối với quốc gia nguồn nước khác; việc sử
dụng hiện tại và trong tương lai nguồn nước;
bảo tồn, bảo vệ, phát triển và sử dụng kinh
tế nguồn nước và những chi phí thực hiện
những hoạt động này.
lưu vực còn chứa đựng vô số các vùng đất
ngập nước, đóng vai trò quan trọng trong
việc hỗ trợ sinh kế của người dân địa
phương, cung cấp môi trường sản xuất cho
nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt
thủy sản, thủy sản phi cá và doanh thu du
lịch cũng như mang lại những lợi ích gián
tiếp quan trọng không kém như giảm thiểu
lũ lụt, trữ nước và xử lý nước thải28. Khoảng
80% trong số hơn 70 triệu người sống trong
LMB phụ thuộc trực tiếp vào sông Mê Kông
để lấy thức ăn. Ngoài ra, khu vực thủy sản
nội địa lớn nhất có giá trị kinh tế khoảng 17
tỷ đô la Mỹ mỗi năm chiếm ba phần trăm
tổng sản phẩm quốc nội của khu vực.
Từ đầu những năm 2000 đến nay, một
số lượng lớn các đập thủy điện đã được xây
dựng trên sông Mê Kông, thể hiện qua các
bảng thống kê sau: (Xem Hình 1)
Mạng lưới dày đặc các đập đã gây ra
những tác động tiêu cực sau đối với các quốc
gia ở hạ nguồn, trong đó có Việt Nam.
Thứ nhất, đối với nông nghiệp. Đồng
bằng sông Cửu Long ở phía Tây Nam Việt
Nam, nơi sông Mê Kông tiếp cận trước khi
đổ vào Biển Đông là vùng trồng lúa, hoa quả
và thủy sản lớn nhất ở Việt Nam. Mỗi năm,
sông Mê Kông chuyển về vùng đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL) khoảng 450 - 475
tỷ mét khối nước, tải theo khoảng 160 triệu
tấn phù sa trong đó lượng mưa tại chỗ ở
ĐBSCL chỉ chiếm 11% số đó29. Nước ở lưu
vực Mê Kông ít thì nước ở ĐBSCL ít, kéo
theo đỉnh lũ thấp vào khoảng giữa tháng 10
ở ĐBSCL và xâm nhập mặn sâu vào khoảng
tháng 3 dương lịch, sau Tết Nguyên Đán. Vì
3. Sử dụng công bằng và hợp lý nguồn
nước sông Mê Kông và một số vấn đề đặt
ra đối với Việt Nam
Sông Mê Kông bắt nguồn từ Cao
nguyên Tây Tạng ở Trung Quốc kéo dài
khoảng 4900 km qua sáu quốc gia bao gồm
Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào,
Campuchia và Việt Nam, và chảy ra Biển
Đông. Lưu vực sông Mê Kông có tổng diện
tích 795.000 km2, từ lưu vực phía đông của
cao nguyên Tây Tạng cho đến vùng châu thổ
Mê Kông. Phần hạ nguồn của lưu vực Mê
Kông nằm ở các quốc gia Đông Nam Á với
tỷ lệ tại các quốc gia lần lượt là Lào (25%),
Thái Lan (23%), Campuchia (20%), Việt
Nam (8%) và Myanmar (3%), chiếm tổng
số 79% lưu vực Mê Kông trong khi 21% còn
lại - thượng nguồn lưu vực, hay còn goi là
lưu vực Lancang - nằm ở Trung Quốc. Lưu
vực sông Mê Kông (LMB) bao gồm một loạt
các vùng địa lý và khí hậu, tạo ra nguồn tài
nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú.
Trung bình mỗi giây có 15.000 m3 nước
chảy vào sông Mê Kông từ những lưu vực
xung quanh, lượng nước đủ để cung cấp nhu
cầu hàng ngày cho 100.000 người. Ngoài ra,
nuoc_83347.html.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
22
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Hình 1: Hiện trạng các đập thủy điện trên sông Mê Kông
vậy, mực nước ở ĐBSCL phụ thuộc lớn vào
lượng nước từ phía trên chảy về30. Những
năm gần đây, thủy điện trên dòng chính sông
Mê Kông được xây dựng dầy đặc. Trung
Quốc, Lào và Campuchia đã quy hoạch hơn
20 đập thủy điện, trong đó Trung Quốc đã
xây được 8 đập ở thượng nguồn, Lào và
Campuchia có kế hoạch xây 11 đập ở hạ
nguồn. Gần đây nhất, Lào tuyên bố xây dựng
đập Pak Beng - đập thủy điện lớn thứ ba, sau
hai đập Xayaburi và Don Sahong, bất chấp
sự phản đối từ phía các nước thuộc tiểu vùng
sông Mê Kông. Liên tục nhiều năm qua, khu
vực đồng bằng sông Cửu Long hầu như
không có lũ. Một số đoạn sông Mê Kông
khô cạn đáy ngay cả trong mùa mưa. Theo
nghiên cứu của Tổ chức Mekong Freedom
Network (Thái Lan), 8 đập thủy điện chắn
ngang sông Mê Kông (Lan Thương) trên đất
Trung Quốc đã giữ lại tổng cộng hơn 40 tỷ
mét khối nước cho các mục đích phát điện,
tưới tiêu..., làm thay đổi dòng chảy. Bên
cạnh đó, các chuyên gia chỉ ra 3 nguyên
nhân chính khiến mực nước sông Mê Kông
ở Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam
xuống thấp kỷ lục là: lượng mưa năm nay
giảm; đập Cảnh Hồng (Trung Quốc) xả ít
nước; đập Xayaburi ở Lào hoạt động. Báo
cáo của Ủy hội sông Mê Kông31 chỉ ra rằng,
nếu cả 3 công trình thủy điện của Lào:
Xayaburi, Don Sahong, Pak Beng đi vào
hoạt động, thì tổng lượng dòng chảy sẽ giảm
30 Xem: Đình Tuyển (2019), Nước sông Mê Kông thấp kỷ lục, Biển Hồ nhiều chỗ trơ đáy, đe dọa ĐBSCL;
1104042.html, truy cập ngày 2/11/2019.
nuoc_83347.html.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
23
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Hình 2: Phân bổ những đập lớn trên sông Mê Kông
Nguồn: International Rivers
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
24
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
6,2%/tháng, xâm nhập trên sông xâm nhập
mặn trên sông Tiền, sông Hậu lấn sâu vào từ
2,8-3,8 km. Và với viễn cảnh không xa, khi
cả chuỗi 11 đập thủy điện hoạt động thì tổng
lượng dòng chảy sẽ giảm hơn 27%/tháng,
xâm nhập mặn sẽ vào sâu trên sông Tiền,
sông Hậu khoảng từ 10-18 km. Hơn nữa,
nước ngọt có thể sẽ bị suy thoái và trở thành
một vấn đề ngày càng bức xúc do phát triển
thủy điện trên sông Mê Kông. Trong Báo
cáo năm 2010, Ủy hội sông Mê Kông cho
rằng, sự phát triển trong công nghiệp, nông
nghiệp và thủy điện đã bắt đầu ảnh hưởng
đến chất lượng nước ngọt ở sông Mê Kông32.
Cho đến nay, nước ngọt ở sông Mê Kông
thường được coi là nguồn cung cấp nước
ngọt không bị ô nhiễm. Ví dụ, chất lượng
nước ở hạ lưu sông Sê San là một trong
những nhánh chính của sông Mê Kông đã bị
đục hơn bởi sự gia tăng xói lở bờ sông hơn
trước khi đập Yali được xây dựng trên nhánh
sông này. Việt Nam nằm ở hạ nguồn, nơi
sông Mê Kông chảy qua trước khi đi vào
Biển Đông. Như vậy, quốc gia phải đối mặt
với nguy cơ cao bị nước đục “không sạch”
từ thượng nguồn33. Chất lượng nước sông ở
đồng bằng sông Cửu Long tồi tệ hơn có thể
làm giảm năng suất của trái cây hoặc gạo.
Bên cạnh đó, các đập thượng nguồn ở Trung
Quốc đã giữ lại 30% phù sa, đập xây trên
dòng chính của Lào và Campuchia sẽ chặn
khoảng 5% nữa34. Ít nhất 50% đất canh tác
ở ĐBSCL sẽ bị tác động do mất phù sa và
dinh dưỡng từ các công trình thủy điện35.
Nếu tính thêm tác động bậc thang của 11
công trình thủy điện dòng chính ở hạ nguồn
lưu vực sông và của các công trình thủy điện
dòng nhánh sông Mê Kông, tổng lượng phù
sa bùn cát hàng năm giảm tới 80%36. Tính
toán sơ bộ, tác động tích lũy của dự án thủy
điện trên dòng chính cùng với các bậc thang
thủy điện dòng chính sông Mê Kông có thể
làm giảm từ 6-10% nguồn chất dinh dưỡng
(đạm và lân) cho ĐBSCL. Theo đó, năng
suất cây trồng được dự báo sẽ giảm từ 0,6-1
tấn/ha37.
Thứ hai, đối với hoạt động nghề cá, giá
trị thương mại của các loài cá trên lưu vực
sông Mê Kông thường được chia thành “cá
đen”, loại cá sinh sống ở vùng nước nông,
có lượng ô xy thấp, di chuyển chậm và “cá
trắng”, loại cá sinh sống ở vùng nước sâu,
đủ ô xy, di chuyển nhanh38. Về cơ bản, có ba
loại môi trường sống của cá ở sông Mê Kông
32 Xem: MRC (Mekong River Commission), 20
Commission, Phnom Penh
03. State of the Basin Report: 2003. Mekong Riv
er
33 Xem: Đỗ Diệu Linh (2018), “Tác động của phát
Nam”, Tạp chí Công thương, số 5, tr. 28-40.
triển thủy điện Mê Kông đến an ninh lương thực ở Vi
ệt
34 Xem:
1211310.html.
35 Xem: . International Centre for Environmental
-thuy-dien-trung-quoc-gay-han-ha-luu-song-me-kong
-
Management (ICEM) 2010a, Strategic Environment
al
ummary-13oct.pdf>.
Assessment of Hydropower on the Mekong M
Publications/Consultations/SEA-Hydropower/SEA-FR-s
37 Xem: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018), “Nghi
chính sông Mekong”.
trung-quoc-gay-han-ha-luu-song-me-kong-1211310.htm
l.
ên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng
38 Xem: MRC (Mekong River Commission), 20
Commission, Phnom Penh.
03. State of the Basin Report: 2003. Mekong Riv
er
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
25
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
gồm: (i) dòng sông, bao gồm tất cả các
nhánh chính, dòng sông ở khu vực nước lũ
chính và hồ Tonle Sap, tất cả chiếm 30% sản
lượng đánh bắt tự nhiên; (ii) các vùng nước
mưa bên ngoài khu vực đồng bằng sông hình
thành do nước lũ, bao gồm chủ yếu là ruộng
lúa ở các khu vực trước đây trồng trọt thỉnh
thoảng bị ngập 50cm và chiếm 66% sản
lượng đánh bắt tự nhiên; và (iii) các khu vực
nước rộng lớn bên ngoài khu vực nước lũ,
bao gồm kênh, hồ chứa chiếm 4% sản lượng
đánh bắt tự nhiên39.
sông Mê Kông, chiếm khoảng 70% cá có giá
trị kinh tế cao nhất ở Việt Nam và loại cá này
sẽ bị mắc kẹt hoàn toàn sau khi xây dựng các
đập đề xuất trên cả dòng chính và các nhánh
của sông Mê Kông42. Số liệu của Ủy hội
Sông Mê Kông (MRC) cho thấy bình quân
sản lượng đánh bắt trên sông Mê Kông hằng
năm là hơn 2 triệu tấn với trị giá hàng chục
tỉ USD43. Với quy mô trên, một khi thủy sản
bị ảnh hưởng thì toàn bộ chuỗi thức ăn của
cả hệ sinh thái bị tác động dẫn đến nhiều hệ
lụy khôn lường đối với cộng đồng dân cư
không chỉ ở ĐBSCL mà còn ở các nước
thượng nguồn.
Theo một nghiên cứu của Ủy hội sông
Mê Kông, việc phát triển thủy điện đến năm
2040 – bao gồm cả một số đập ‘lớn’ của
Trung Quốc đang được xây dựng hoặc đã
được lên kế hoạch – sẽ dẫn tới trữ lượng cá
sẽ giảm 40-80%, trong đó, 40% loài cá trắng
ở Việt Nam và 37% ở Campuchia sẽ “rất dễ
bị tổn thương hoặc bị đe dọa” bởi các đập
thủy điện ở thượng nguồn. Các đập thủy
điện chặn lối đi và tăng thời gian đi lại của
tàu, tạo ra các rào cản vật lý bổ sung cho quá
trình di cư của cá40. Có khoảng 70% cá di
cư dọc theo sông Mê Kông, di chuyển giữa
các vùng thượng lưu và hạ lưu, giữa sinh
cảnh biển và nước ngọt, và giữa các nhánh
của sông Mê Kông và vùng đồng bằng ngập
nước41. Các đập thủy điện sẽ đe dọa làm gián
đoạn việc di cư của cá đến đồng bằng sông
Cửu Long. Cá da trơn, di cư từ thượng lưu
Xét ở góc độ nguyên tắc sử dụng công
bằng và hợp lý nguồn nước quốc tế, hành vi
xây dựng các đập thủy điện gây ảnh hưởng
bất lợi đến quyền của các quốc gia khác như
Việt Nam hay Thái Lan là vi phạm nguyên
tắc này. Vì vậy, Việt Nam có thể sử dụng linh
hoạt các biện pháp chính trị, ngoại giao,
pháp lý với nhiều kênh và cấp độ khác nhau
để giải quyết các tranh chấp liên quan đến
hoạt động xây dựng các đập thủy điện trên
sông Mê Kông nhằm bảo vệ lợi ích của
mình. Do chỉ có 4 trong tổng số 6 quốc gia
nơi sông Mê Kông chảy qua là thành viên
của Ủy hội sông Mê Kông nên chỉ có thể áp
dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo quy
định tại Hiệp định sông Mê Kông để giải
quyết tranh chấp liên quan đến những quốc
39 Xem: MRC (Mekong River Commission), 20
Commission, Phnom Penh.
03. State of the Basin Report: 2003. Mekong Riv
er
40 Xem: The Ministry of Natural Resources and Envi
ronment (2015), Study on the Impacts of Mainstream
Final-Project-Report-Eng.pdf>.
ye.com/wp-content/uploads/sites/2/2016/04/MDS-
41 Xem: Piesse, M (2016), Livelihood and food se
curity on the Mekong River, Strategic Analysis Pape
r,
<https://sydney.edu.au/arts/ciss/downloads/CISS_Food_S
ecurity_Policy_Report.pdf>.
42 Xem: The Ministry of Natural Resources and Envi
ronment (2015), Study on the Impacts of Mainstream
Final-Project-Report-Eng.pdf>.
ye.com/wp-content/uploads/sites/2/2016/04/MDS-
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
26
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
gia này. Cụ thể, đối với Lào, Campuchia hay
Thái Lan, theo quy định tại Điều 34 Hiệp
định sông Mê Kông, Việt Nam có thể đưa vụ
việc ra trước Ủy ban sông Mê Kông; trong
trường hợp Ủy ban không giải quyết được
trong thời gian hợp lý, tranh chấp sẽ được
chuyển đến cho Chính phủ các bên để giai
quyết bằng đàm phán thông qua các kênh
ngoại giao. Đối với Trung Quốc, vì nước này
không phải thành viên của Ủy hội sông Mê
Kông nên cần áp dụng cơ chế giải quyết
tranh chấp quốc tế theo luật quốc tế chung
để giải quyết. Trong việc giải quyết các tranh
chấp nói chung, Việt Nam luôn chủ trương
giải quyết mâu thuẫn thông qua thương
lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập,
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với
luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, không nên coi
thương lượng là biện pháp duy nhất để giải
quyết tranh chấp. Thực tế cho thấy, đàm
phán trực tiếp chỉ thực sự hiệu quả trong
trường hợp các bên thực sự thiện chí và tôn
trọng lẫn nhau cũng như tôn trọng những
quy tắc chung của luật pháp quốc tế. Do đó,
Việt Nam cần sử dụng nhiều biện pháp khác
nhau để giải quyết tranh chấp:
tăng cường tiến hành những hoạt động hợp
tác thực chất với các quốc gia khác trong khu
vực và trên thế giới, nhằm tranh thủ tối đa
“ngoại lực”, từ đó, tạo điều kiện tăng cường
“thế” và “lực” của Việt Nam trong quá trình
giải quyết tranh chấp.
Ba là, bên cạnh những biện pháp chính
trị, ngoại giao như trên, việc sử dụng các
biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua
các cơ quan tài phán quốc tế cũng cần được
tính đến.
Ngoài những biện pháp giải quyết tranh
chấp nêu trên, Việt Nam cần tăng cường chủ
động đưa ra sáng kiến và thúc đẩy các thành
viên còn lại trong Ủy hội sông Mê Kông bổ
sung những nội dung pháp lý trong Hiệp
định sông Mê Kông nhằm tạo ra một khuôn
khổ pháp lý hoàn thiện hơn cho hoạt động
hợp tác. Cụ thể, cho đến nay, Hiệp định sông
Mê Kông chỉ ghi nhận điều khoản về tham
vấn và thông báo trong trường hợp xảy ra
tình huống khẩn cấp mà không quy định về
tham vấn khi một quốc gia ven sông tiến
hành xây dựng các dự án, công trình như quy
định tại Hiệp định về sử dụng nguồn nước
quốc tế vào các mục đích phi hàng hải của
Liên hợp quốc năm 1997 (UN Watercourse).
Mặt khác, trong số các quốc gia mà sông Mê
Kông chảy qua, đến nay mới có Việt Nam
tham gia Công ước trên của Liên hợp quốc44
nên không thể áp dụng những quy định về
thông báo và tham vấn theo Công ước đối
với những quốc gia không phải là thành
viên. Do đó, cần thiết phải bổ sung quy định
về nghĩa vụ phải thông báo và tham vấn trước
khi tiến hành xây dựng bất kỳ một dự án nào
cho tất cả các quốc gia thành viên còn lại của
Một là, cùng với hoạt động đàm phán
trực tiếp, cần sử dụng các kênh ngoại giao
với nhiều cấp độ khác nhau, đặc biệt là thông
qua ASEAN và sử dụng các biện pháp ngoại
giao tập thể cùng với những quốc gia cũng
bị ảnh hưởng từ đập thủy điện như Thái Lan
và Campuchia để tạo ra sức ép, buộc các
quốc gia vi phạm chấm dứt việc tiếp tục xây
dựng các đập thủy điện.
Hai là, tiếp tục chủ động, đa dạng hóa,
đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế;
43 Xem: MRC (Mekong River Commission), 20
Commission, Phnom Penh.
03. State of the Basin Report: 2003. Mekong Riv
er
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
27
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Hiệp định cũng như thông báo cho Ủy hội
sông Mê Kông. Nội dung thông báo cần bao
gồm những dữ liệu và thông tin kỹ thuật của
dự án, bao gồm cả kết quả đánh giá tác động
môi trường để tạo điều kiện cho các quốc gia
và Ủy hội sông Mê Kông đánh giá về những
hoạt động dự định tiến hành. Trong trường
hợp có ý kiến phản đối, cần trao cho Ủy hội
quyền tiến hành điều tra về dự án và đưa ra
kết luận chính thức về việc dự án có vi phạm
nguyên tắc sử dụng công bằng, hợp lý, ảnh
hưởng đến sự phát triển bền vững nguồn nước
sông Mê Kông hay không. Kết luận điều tra
của Ủy hội cần có giá trị pháp lý bắt buộc đối
với các thành viên và quốc gia sẽ không được
tiến hành dự án nếu Ủy hội kết luận dự án có
ảnh hưởng bất lợi đáng kể đối với các quốc
gia ven sông khác, vi phạm nguyên tắc sử
dụng công bằng và hợp lý.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần chủ
động hơn nữa trong tăng cường hợp tác quản
lý tài nguyên nước với các quốc gia ven sông
Mê Kông khác, đặc biệt là Trung Quốc và
Lào. Đối với Trung Quốc, cần phải xây dựng
cơ chế hợp tác song phương; trong đó, tập
trung vào cơ chế phối hợp, trao đổi và tham
vấn thông tin nhằm xây dựng hệ thống quản
lý thông tin và dữ liệu thống nhất, phục vụ
cho thu thập, xử lý, phân tích và chia sẻ các
dữ liệu khí tượng thủy văn cùng những
thông tin liên quan khác, đặc biệt là thông
tin về những ảnh hưởng trước mắt và lâu dài
của phát triển thủy điện thượng nguồn.
Đối với Lào, cần xây dựng chiến lược
hợp tác hiệu quả với Lào trong phát triển
năng lượng. Lào hiện tại không có một quy
hoạch phát triển thủy điện, cũng như không
có một mục tiêu về doanh thu và sản lượng
điện cần sản xuất; việc phát triển thủy điện
ở Lào gần như hoàn toàn bị chi phối bởi các
nhà đầu tư nước ngoài. Các hợp đồng xây
dựng đập thủy điện tại Lào càng ngày càng
ít dần khi Thái Lan có thể sẽ không mua điện
từ Lào nữa do họ có thể mua từ Myanmar,
nơi có tiềm năng phát triển thủy điện cao gấp
năm lần Lào. Trung Quốc đang dư thừa năng
lực sản xuất điện và đang tìm kiếm khả năng
xuất khẩu điện. Campuchia là một thị trường
tương đối nhỏ và đã có khả năng tự cung cấp
80% nhu cầu điện của mình. Từ năm 2015
đến nay, Việt Nam đã chuyển từ quốc gia
xuất khẩu sang nhập khẩu năng lượng nhằm
đáp ứng 3% nhu cầu năng lượng tái tạo sơ
cấp (thủy điện) và tỷ lệ nhập khẩu này có thể
lên đến 24%, thậm chí 44% vào năm 203045,
Việt Nam có thể gia tăng việc mua điện từ
Lào, từ đó, đưa ra các điều kiện để đảm bảo
các đập thủy điện có nguy cơ gây ra tác động
tiêu cực tới Đồng bằng Sông Cửu Long sẽ
không được xây dựng46. Đồng thời, Việt
Nam cũng nên tăng cường các dự án hợp tác
quản lý nguồn nước sông Mê Kông với Lào,
trong đó, tập trung vào vấn đề thủy điện
nhằm trao đổi thông tin, tham vấn và thống
nhất các ý kiến trong việc lựa chọn các khu
vực xây dựng đập thủy điện
n
44 Xem: https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=XXVII-12&chapter=
27&clang=_en, truy cập ngày 22/11/2019.
45 Xem: Lan Nhi (2017), Việt Nam ngày càng nhập khẩu nhiều năng lượng;
ngày 22/11/2019.
46 Xem: Brian Eyler (2019), “Kết nối lưu vực sông MeKong”, tài liệu Hội thảo Quy hoạch tổng thể sử dụng
nước – năng lượng tại Hạ nguồn sông Mê Kông, tổ chức
ngày 30/62019 tại Hà
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
28
Số 18 (418) - T9/2020
Bạn đang xem tài liệu "Nguyên tắc sử dụng hợp lý và công bằng nguồn nước quốc tế và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nguyen_tac_su_dung_hop_ly_va_cong_bang_nguon_nuoc_quoc_te_va.pdf

