Phân định giữa khiếu nại và tố cáo và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng luật tố cáo và giải quyết tố cáo

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
PHÂN ĐỊNH GIỮA KHIẾU NẠI VÀ TỐ CÁO  
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC XÂY DỰNG  
LUẬT TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO  
ĐINH VăN MINH *  
(NCLP) Quyền khiếu nại, quyền tố cao đươc quy định tại Điều 74 Hiến phap 1992 và từ trươc đến nay,  
những vấn đề về khiếu nại, tố cao luôn đươc điều chỉnh trong cùng một văn bản phap luật. Đến nay, văn bản  
phap luật về khiếu nại, tố cao sẽ đươc tach thành hai đạo luật: “Luật Khiếu nại và giải quyết khiếu nại” và  
“Luật tố cao và giải quyết tố cao. Theo chương trình xây dưng Luật, phap lênh năm 2010 phap luật thì Quốc  
hội sẽ xem xét cho ý kiến hai đạo luật này vào kỳ họp thư 8, Quốc hội khoa XII. Tuy nhiên, viêc xây dưng Luật  
về tố cao và giải quyết tố cao đang co kha nhiều vấn đề vương mắc.  
rong những năm gần đây, các quy  
định của pháp luật về khiếu nại,  
tố cáo thường xuyên được sửa đổi,  
bổ sung. Điều đó thể hiện việc cố  
trong các văn bản pháp luật và rất ít khi được  
“đụng” đến trong những lần sửa đổi pháp luật  
về khiếu nại, tố cáo. Ngay hiện nay, khi Nhà  
nước đã quyết định sẽ ban hành đạo luật riêng  
về tố cáo thì không ít người băn khoăn vì chưa  
hình dung đạo luật đó sẽ nhằm giải quyết vấn  
đề gì và sẽ phải bao gồm những nội dung chủ  
yếu nào, khi mà các quy định về vấn đề này đã  
nằm rải rác trong không ít các văn bản có liên  
quan. Với mục đích góp phần luận giải những  
khó khăn đang đặt ra trong quá trình nghiên cứu  
nhằm đổi mới cơ chế giải quyết tố cáo hiện nay,  
chúng tôi xin đưa ra một cái nhìn tổng thể về sự  
hình thành và phát triển của các quy định pháp  
luật về tố cáo và giải quyết tố cáo, từ đó nhận  
định về bản chất hay nguyên nhân của những  
T
gắng hoàn thiện cơ chế luật pháp để tạo điều  
kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền  
khiếu nại, tố cáo của mình. Tuy nhiên, sự thay  
đổi thường xuyên các quy định của pháp luật  
chưa phát huy hiệu quả của nó trên thực tế và  
nhất là, nó thể hiện sự lúng túng của Nhà nước  
trong việc định ra những cơ chế và phương thức  
có hiệu quả để giải quyết vấn đề khiếu nại, tố  
cáo. Nếu như những quy định liên quan đến  
khiếu nại được sửa đổi liên tục và ngày càng  
tỏ ra rối rắm, khó thực hiện thì các quy định  
về tố cáo và giải quyết tố cáo lại tỏ ra mờ nhạt  
(*) Phó Viện trưởng Viện Khoa học thanh tra.  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 37  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
nhân dân từ khắp các địa phương gửi lên Chính  
phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh…  
vướng mắc đặt ra trong cơ chế giải quyết tố cáo  
hiện nay và những suy nghĩ về giải pháp khắc  
phục trong thời gian tới.  
Đầu tháng 2 năm 1946, Ban Thanh tra đặc  
biệt tiến hành thanh tra vụ tham ô của ông Chủ  
tịch tỉnh X. Sau khi nghiên cứu kỹ đơn, thư  
phản ảnh, tố giác của nhân dân và một số nhân  
sỹ về hành vi tham ô công quỹ của ông Chủ tịch  
nói trên, Ban Thanh tra đã trực tiếp đi điều tra  
vụ việc tại tỉnh X…  
1. Quá trình hình thành và phát triển pháp  
luật về tố cáo và sự phân biệt giữa khiếu  
nại và tố cáo  
1.1. Quá trình hình thành pháp luật về tố  
cáo  
Cuối tháng 5 năm 1946, Ban thanh tra đặc  
biệt nhận được nhiều đơn, thư của cán bộ, nhân  
viên và một số quần chúng nhân dân ở tỉnh Y.  
phản ảnh về việc cán bộ lãnh đạo tỉnh này có  
những hành động cửa quyền, lợi dụng quyền  
lực để ức hiếp quần chúng, trù dập những người  
dưới quyền… Ban Thanh tra đặc biệt đã về điều  
tra trực tiếp tại chỗ và chỉ rõ những hành động  
sai trái của một số lãnh đạo trong bộ máy chính  
Văn bản pháp lý đầu tiên quy định về việc  
giải quyết khiếu nại, tố cáo là Sắc lệnh số 64/  
SL ngày 23/11/1945 về thành lập Ban Thanh tra  
đặc biệt. Bản Sắc lệnh gồm 8 điều:  
“Điều thứ nhất: Chính phủ sẽ lập ngay một  
Ban thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám  
sát tất cả các công việc và các nhân viên của uỷ  
ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ cần  
thiết cho việc giám sát  
quyền tỉnh Y…”1  
Điều thứ hai: Ban thanh tra đặc biệt có toàn  
quyền:  
.
Những hoạt động trên đây chính là việc giải  
quyết các vụ việc tố cáo hiện nay mà chúng ta  
đang tiến hành. Tuy nhiên vào thời điểm đó, và  
cả thời gian rất lâu sau đó, chúng ta chưa có sự  
phân biệt giữa khiếu nại, tố cáo, mà với nhiều  
cách gọi khác nhau, hoạt động này được nhìn  
nhận chung như là việc tiếp nhận những thông  
tin, phản ánh, thắc mắc của người dân về việc  
làm sai trái của chính quyền hay của cán bộ,  
nhân viên nhà nước và yêu cầu cơ quan có thẩm  
quyền giải quyết, hoặc là để đòi lại lợi ích cho  
mình (khiếu nại), hoặc là vì phát giác để xử lý  
người vi phạm (tố cáo).  
Ngày 13/9/1958, Thủ tướng Chính phủ có  
Thông tư số 436 Quy định trách nhiệm, quyền  
hạn và tổ chức của các cơ quan chính quyền  
trong việc giải quyết loại thư khiếu nại, tố giác  
(gọi tắt là thư khiếu tố) của nhân dân.  
Thông tư này bắt đầu thể hiện sự phân biệt  
về khái niệm giữa khiếu nại và tố cáo (tố giác)  
nhưng trong văn bản này chưa tìm thấy chỗ nào  
thể hiện có sự khác nhau giữa khiếu nại và tố  
cáo (thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết),  
và được gọi chung là đơn thư khiếu tố.  
- Nhận các đơn khiếu nại của nhân dân…”  
Như vậy, ngay trong văn bản này chỉ có khái  
niệm khiếu nại, chưa hề xuất hiện khái niệm tố  
cáo hoặc khái niệm tương tự (tố giác, phản ánh,  
tin báo tội phạm…). Nhưng vì sao chúng tôi vẫn  
khẳng định quy định này liên quan đến việc giải  
quyết tố cáo? Đó là vì xuất phát từ sự phân tích  
bối cảnh và mục tiêu của việc ra đời Ban thanh  
tra đặc biệt lúc đó cũng như các quyền hạn trao  
cho nó trong Sắc lệnh số 64 là “điều tra, hỏi  
chứng… đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên  
nào… Tịch biên hoặc niêm phong những tang  
vật và dùng mọi cách điều tra… Truy tố tất cả  
các việc…” thì có thể thấy rằng, Ban thanh tra  
được trao những quyền hạn hết sức rộng lớn  
với mục đích là giám sát hoạt động của bộ máy  
nhà nước lúc bấy giờ và đương nhiên là có  
quyền tiếp nhận và giải quyết các phát hiện tố  
giác của người dân đối với việc làm vi phạm  
pháp luật của những người trong bộ máy chính  
quyền. Điều này càng được khẳng định khi  
chúng ta xem xét hoạt động của Ban thanh tra  
đặc biệt “Nhiệm vụ của Ban Thanh tra đặc biệt  
là thường xuyên nghiên cứu và giải quyết các  
đơn thư khiếu nại, phản ánh của các tầng lớp  
Hiến pháp năm 1959 lần đầu tiên quy định  
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Điều  
(1) Lịch sử Thanh tra Việt Nam 1945-2005, Thanh tra Chính phủ, Nxb.Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2005, tr. 17.  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
38 I  
I
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Tăng cường tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của người dân từ cơ sở sẽ hạn chế các vụ khiếu kiện đông người - Ảnh: S.T  
29: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng  
hoà có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ  
quan nào của Nhà nước về những hành vi vi  
phạm của nhân viên cơ quan nhà nước. Những  
việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải  
quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành  
vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước  
có quyền được bồi thường”. Như vậy, bắt đầu  
từ đây, khái niệm tố cáo đã được chính thức  
sử dụng trong các văn bản của Nhà nước. Tuy  
nhiên, cũng chưa có sự phân định giữa khiếu  
nại và tố cáo.  
cầu cơ quan có trách nhiệm giải quyết (đơn đề  
đạt nguyện vọng xếp vào loại đơn khiếu nại);  
- Đơn tố cáo là đơn nói những hành vi sai  
phạm của cán bộ, cơ quan làm sai chế độ, chính  
sách, pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích của tập  
thể và của Nhà nước.  
- Trường hợp đơn vừa khiếu nại vừa tố cáo  
thì xem xét việc nào là chủ yếu mà xếp vào  
việc đó.  
4. Đơn khiếu nại chủ yếu do thủ trưởng cơ  
quan trực tiếp có trách nhiệm phải giải quyết  
đến nơi đến chốn.  
Hiến pháp năm 1980 mở rộng đối tượng của  
khiếu nại, tố cáo hơn một chút, không chỉ cơ  
quan nhà nước mà cả “tổ chức xã hội, đơn vị  
vũ trang nhân dân”, nhưng vào thời kỳ này, các  
đối tượng này cũng không khác mấy so với cơ  
quan nhà nước, nên về cơ bản, không có sự thay  
đổi nhiều.  
Ngày 22/5/1971, Uỷ ban Thanh tra ban  
hành Thông tư số 60-UBTTr Hướng dẫn trách  
nhiệm của các ngành, các cấp trong việc xét và  
giải quyết đơn thư khiếu nại và tố cáo của công  
dân, trong đó lần đầu tiên có sự phân biệt giữa  
khiếu nại và tố cáo cũng như cách xử lý đối với  
từng loại đơn.  
Đơn tố cáo thì tuỳ nội dung sự việc và đối  
tượng bị tố cáo mà thủ trưởng cấp trên hoặc cơ  
quan chuyên môn, chịu trách nhiệm xét, giải  
quyết theo chức năng đã được Nhà nước quy  
định.  
5. Những đơn khiếu nại của công dân về đời  
sống kinh tế và chính trị; bị uy hiếp nghiêm  
trọng và cấp thiết; đơn của quân nhân, gia đình  
quân nhân và gia đình liệt sỹ được giải quyết  
trước.  
Đơn tố cáo tài sản, chính sách, chế độ nhà  
nước và tập thể bị xâm phạm nghiêm trọng, phải  
tập trung giải quyết để kịp thời ngăn chặn”.  
Ngày 29/3/1973, Uỷ ban Thanh tra đã ban  
hành hai Thông tư: Thông tư số 67-UBTTr/  
XKT Hướng dẫn việc xét, giải quyết đơn khiếu  
nại, tố cáo ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc  
“… 3. Phân loại đơn để giải quyết:  
- Đơn khiếu nại là để chỉ những sự việc của  
đương sự khiếu vì quyền lợi bị thiệt hại, yêu  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 39  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
trung ương và Thông tư số 68-UBTTr/XKT  
Hướng dẫn việc xét, giải quyết đơn thư khiếu  
nại, tố cáo ở cấp huyện. Tại hai Thông tư này  
đều có quy định về phân loại xử lý đơn thư:  
“Khi nghiên cứu cần làm rõ, phân loại như sau:  
Đơn khiếu nại hay tố cáo và các loại đơn khác”.  
Đặc biệt, Thông tư 68 còn đề cập rõ hơn về việc  
xử lý đơn tố cáo “Không giao nguyên đơn tố  
cáo cho người bị tố cáo, hoặc cơ quan, đơn vị bị  
tố cáo xét, giải quyết. Người giữ đơn tố cáo để  
xét, giải quyết không được để lộ tên, địa chỉ của  
người tố cáo. Đơn tố cáo nặc danh, nếu nói rõ  
sự việc cũng phải xét, giải quyết chu đáo, phải  
giao đơn cho Trưởng, Phó ngành, Chủ tịch, Phó  
Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã, Trưởng, Phó  
ban Kiểm soát hợp tác xã…”.  
Ngày 27/11/1981, Nhà nước ta đã ban hành  
Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các  
khiếu nại, tố cáo của công dân. Đây là văn bản  
pháp lý cao nhất từ trước đến nay quy định về  
vấn đề này, trong đó quy định trình tự, thủ tục,  
xác định thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết  
đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Tiếp đó,  
Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 58  
ngày 29/3/1982 quy định về việc thi hành Pháp  
lệnh kể trên. Nhìn một cách tổng quát thì Pháp  
lệnh này đã có nhiều quy định cụ thể hơn, nhưng  
vẫn chưa đưa ra định nghĩa về hai khái niệm  
khiếu nại và tố cáo. Sự phân biệt chủ yếu vẫn là  
về thẩm quyền giải quyết đối với từng loại đơn.  
Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân  
năm 1991 (thay thế cho Pháp lệnh năm 1981)  
đã đánh dấu một sự thay đổi căn bản trong việc  
phân định giữa khiếu nại và tố cáo. Ngay tại  
Điều 1 của Pháp lệnh đã chia thành hai khoản  
khác nhau, khoản một là về khiếu nại, khoản 2  
là về tố cáo. Đồng thời cũng quy định phạm vi  
điều chỉnh khiếu nại chỉ bao gồm đối tượng là  
cơ quan hành chính nhà nước, còn “Quyền khiếu  
nại của công dân đối với quyết định của cơ quan  
tiến hành tố tụng hình sự, dân sự, trọng tài kinh  
tế do pháp luật tố tụng hình sự, dân sự, trọng tài  
kinh tế quy định”. Pháp lệnh quy định khiếu nại,  
tố cáo thành hai vấn đề khá độc lập với nhau:  
Chương II Khiếu nại và việc giải quyết khiếu nại,  
Chương III Tố cáo và việc giải quyết tố cáo.  
Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở tiếp thu  
những quy định của Pháp lệnh năm 1991 đã quy  
định “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố  
cáo…” và như vậy, sự phân biệt giữa khiếu nại  
và tố cáo đã được khẳng định.  
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sau đó  
đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004 và  
2005) đã tiếp tục thể hiện tinh thần này và cho  
đến nay, chúng ta đang xây dựng hai đạo luật  
riêng biệt: Luật Khiếu nại và giải quyết khiếu  
nại; Luật Tố cáo và giải quyết tố cáo.  
1.2. Khái niệm tố cáo và sự phân biệt giữa  
khiếu nại và tố cáo theo quy định của pháp  
luật hiện hành  
Tố cáo theo nghĩa chung nhất là “vạch rõ tội  
lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc  
trước dư luận’’. Đây là một quyền chính trị cơ  
bản của công dân, nó ngày càng được quy định  
rõ ràng, cụ thể và chặt chẽ. Khoản 2, Điều 2  
Luật Khiếu nại, tố cáo ghi: “Tố cáo là việc công  
dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho  
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về  
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,  
tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa  
gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi  
ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.  
Từ đó cho thấy, mặc dù khiếu nại và tố cáo cùng  
được ghi nhận là một quyền, được quy định ở  
cùng một văn bản, thậm chí cùng một điều luật,  
nhưng giữa chúng có những khác biệt về cả nội  
dung lẫn cách thức giải quyết. Cụ thể:  
- Thứ nhất, theo quy định tại Điều 2 Luật  
Khiếu nại, tố cáo thì chủ thể của khiếu nại là cơ  
quan Nhà nước, tổ chức và công dân, còn chủ  
thể của tố cáo chỉ là công dân.  
- Thứ hai, đối tượng của khiếu nại là quyết  
định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết  
định kỷ luật đối với cán bộ, công chức. Còn tố  
cáo có đối tượng rộng hơn rất nhiều, đó là “hành  
vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức,  
cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt  
hại tới lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp  
pháp của công dân, cơ quan, tổ chức’’.  
- Thứ ba, mục đích của khiếu nại hướng tới  
bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp  
của người khiếu nại, còn mục đích của tố cáo  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
40 I  
I
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
không chỉ nhằm bảo vệ và khôi phục quyền và  
lợi ích hợp pháp của người tố cáo, mà còn hướng  
tới lợi ích của Nhà nước và xã hội.  
Như vậy, cùng lúc chúng ta có nhiều cơ chế  
trong khi đối tượng xử lý có rất nhiều nguy cơ  
trùng nhau (đều có thể là cán bộ, công chức là  
đảng viên) cho nên việc trùng chéo giữa các  
yếu tố của cơ chế, sự kém hiệu quả trong công  
tác giải quyết là tất yếu và đây chính là điều mà  
chúng ta cần phải nghiên cứu để có những giải  
pháp triệt để.  
2.1. Về cơ chế giải quyết tố cáo chung  
Những quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo  
về vấn đề này được coi như văn bản “gốc” để  
xác định cách thức giải quyết mọi tố cáo. Chính  
vì tính chất chung như vậy cho nên Luật chỉ có  
thể đưa ra những quy định chung nhất về tiếp  
nhận và xử lý đơn thư tố cáo và xác định thẩm  
quyền theo những nguyên tắc nhất định:  
“ …Điều 59  
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người  
bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ  
quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có  
trách nhiệm giải quyết.  
Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm  
vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức  
nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có  
trách nhiệm giải quyết.  
- Thứ tư, cách thức thực hiện của khiếu nại  
là việc người khiếu nại “đề nghị’người có thẩm  
quyền giải quyết khiếu nại “xem xét lại’’ các  
quyết định hành chính, hành vi hành chính...  
trong khi đó, cách thức thực hiện tố cáo là việc  
người tố cáo “báo’’ cho người có thẩm quyền  
giải quyết tố cáo “biết’về hành vi vi phạm pháp  
luật.  
- Thứ năm, giải quyết khiếu nại là việc xác  
minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của  
người giải quyết khiếu nại. Trong khi đó, giải  
quyết tố cáo là việc người giải quyết tố cáo xác  
minh, kết luận về nội dung tố cáo. Từ đó áp  
dụng biện pháp xử lý cho thích hợp với tính chất  
và mức độ sai phạm của hành vi chứ không ra  
quyết định giải quyết tố cáo.  
2. Cơ chế giải quyết tố cáo hiện nay và  
những vấn đề đang đặt ra  
Cơ chế giải quyết tố cáo là phương thức tiếp  
nhận và giải quyết các tố cáo của các cơ quan  
nhà nước. Nó bao gồm các quy định những vấn  
đề về thẩm quyền và trách nhiệm; về trình tự  
và thủ tục; về mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ  
chức… trong một chu trình giải quyết một vụ  
việc tố cáo.  
Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm  
vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ  
chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức  
cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có  
trách nhiệm giải quyết.  
Về mặt pháp luật, hiện nay chúng ta đang tồn  
tại cùng lúc:  
Điều 60  
- Cơ chế giải quyết tố cáo chung được quy  
định trong pháp luật về khiếu nại và tố cáo, nhất  
là trong Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản  
hướng dẫn thi hành;  
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội  
dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước  
của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm  
giải quyết.  
- Cơ chế giải quyết tố giác và tin báo tội  
phạm trong pháp luật về tố tụng hình sự, chủ  
yếu là trong Bộ luật Tố tụng hình sự;  
- Cơ chế giải quyết tố cáo tham nhũng theo  
quy định của pháp luật về phòng, chống tham  
nhũng, nhất là trong Luật Phòng, chống tham  
nhũng năm 2005.  
Ngoài ra, không thể không nhắc đến cơ chế  
giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức là  
đảng viên theo các quy định của Đảng về vấn  
đề này.  
Tố cáo hành vi phạm tội do các cơ quan tiến  
hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp  
luật tố tụng hình sự”...  
Có thể nói rằng, phần quy định về tố cáo là  
rất nghèo nàn và những người tham gia soạn  
thảo cũng chẳng thể làm được gì hơn. Các cuộc  
thảo luận khi thông qua cũng vậy, ngoại trừ  
một vấn đề luôn nóng bỏng, đó là thái độ và  
cách xử lý đối với đơn thư tố cáo nặc danh.  
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã qua hai lần  
sửa đổi vào các năm 2004 và 2005 nhưng cả  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 41  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
hai lần, nội dung sửa đổi đều chỉ liên quan đến  
phần khiếu nại, còn phần tố cáo thì không được  
“đụng” đến, đơn giản vì chẳng thể quy định  
gì hơn những cái đã có, đó là những nguyên  
tắc về thẩm quyền. Quy định về thẩm quyền  
và trách nhiệm của các tổ chức thanh tra trong  
Luật cũng trở nên lạc lõng, vì thực tế, thanh tra  
chỉ giúp thủ trưởng xem xét các tố cáo thuộc  
phạm vi thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan  
hành chính, vả lại khi luật quy định mọi loại tố  
cáo thì tại sao lại quy định trách nhiệm xem xét  
cho một loại tố cáo mà thôi? Điều này ai cũng  
thấy nhưng rồi cũng đành “lờ” đi mỗi khi sửa  
đổi, bổ sung Luật. Điều này càng rõ ràng hơn  
khi chúng ta có những quy định về tố cáo trong  
Luật phòng, chống tham nhũng và các văn bản  
hướng dẫn thi hành.  
136 “Những tố cáo về hành vi tham nhũng mà  
người tố cáo mạo tên, nội dung tố cáo không rõ  
ràng, thiếu căn cứ, những tố cáo đã được cấp  
có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng  
không có bằng chứng mới thì không được xem  
xét, giải quyết”.  
Quy định này được chép lại y nguyên tại  
Khoản 3 Điều 41 của Nghị định 120. Tuy nhiên  
tại Điều 43 Khoản 4 lại có quy định “4. Đối với  
những tố cáo không rõ họ, tên, địa chỉ người tố  
cáo nhưng nội dung tố cáo rõ ràng, bằng chứng  
cụ thể, có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì các cơ  
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nghiên  
cứu, tham khảo thông tin được cung cấp để  
phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng”.  
Quy định này thể hiện sự thay đổi về thái độ  
và nhận thức đối với đơn thư tố cáo nặc danh và  
điều đáng lưu ý là nó phù hợp với tinh thần của  
Công ước của Liên hợp quốc về chống tham  
nhũng.  
2.2. Về cơ chế giải quyết tố cáo trong Luật  
Phòng, chống tham nhũng và các văn bản  
hướng dẫn thi hành  
Trong Luật Phòng, chống tham nhũng,  
những quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo  
- như là một trong những giải pháp nhằm phát  
huy vai trò của công dân trong việc nâng cao  
hiệu quả phát hiện tham nhũng - gồm 4 điều, từ  
điều 64 đến điều 67: Điều 64. Tố cáo hành vi  
tham nhũng và trách nhiệm của người tố cáo;  
Điều 65. Trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết  
tố cáo; Điều 66. Trách nhiệm phối hợp của cơ  
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; Điều 67. Khen  
thưởng người tố cáo.  
Những quy định này hoàn toàn không có gì  
khác so với quy định của Luật Khiếu nại, tố  
cáo. Những quy định trong Nghị định số 120  
hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham  
nhũng cũng chỉ cụ thể hoá các hình thức tố  
cáo để tạo thuận lợi cho người tố cáo chứ cũng  
không đưa ra những quy định về việc phân  
định thẩm quyền giải quyết tố cáo. Một điểm  
duy nhất hiện nay có sự không thống nhất ngay  
trong Nghị định 120 và không thống nhất với  
quy định của Nghị định 136 hướng dẫn thi hành  
Luật khiếu nại, tố cáo là vấn đề xử lý đơn thư tố  
cáo nặc danh. Tinh thần chung của Luật Khiếu  
nại, tố cáo là không xem xét đơn thư tố cáo nặc  
danh và điều này được thể hiện trong Nghị định  
Tuy nhiên, dù giải thích thế nào đi chăng  
nữa, thì rõ ràng đã có sự mâu thuẫn giữa hai  
văn bản luật đối với việc xử lý đơn thư tố cáo  
nặc danh.  
2.3. Về cơ chế giải quyết tố cáo trong pháp  
luật về tố tụng hình sự  
Trong Bộ luật Hình sự có quy định về tố  
giác và tin báo về tội phạm. Điều 101 quy định:  
“Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan  
Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với cơ  
quan, tổ chức khác. Cơ quan, tổ chức khi phát  
hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải  
báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra  
bằng văn bản”.  
Thực ra, giữa tố giác, tin báo về tội phạm  
với tố cáo chỉ khác nhau ở một điểm: tố cáo thì  
đối tượng là mọi hành vi vi phạm pháp luật, còn  
tố giác và tin báo về tội phạm thì đối tượng chỉ  
bao gồm tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật  
có tính nguy hiểm cao và được quy định trong  
Bộ luật Hình sự. Nhưng phân biệt hành vi vi  
phạm đến mức nào là tội phạm là vấn đề cực  
kỳ khó khăn, nhất là đối với người dân đi tố  
cáo hay tố giác. Với quy định như hiện nay, khi  
phát hiện một hành vi vi phạm pháp luật, người  
dân hoàn toàn có thể thực hiện việc tố cáo theo  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
42 I  
I
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo mà cũng có  
thể tố giác theo quy định của Bộ luật Tố tụng  
hình sự mà giữa hai văn bản này lại có nhiều  
điểm không thống nhất. Đây có thể coi là một  
trong những nguyên nhân gây ra sự chồng chéo  
trong hoạt động của các cơ quan thanh tra, điều  
tra, viện kiểm sát, giữa cơ quan quản lý và cơ  
quan tiến hành tố tụng.  
Nhiều nội dung tố cáo cho thấy, khó có thể  
xác định được thẩm quyền giải quyết đối với  
các tố cáo đó. Trong khi đó, Luật Khiếu nại, tố  
cáo không phân biệt đến cấp nào bị tố cáo thì  
thuộc thẩm quyền của cơ quan Đảng.  
3. Một số suy nghĩ về hoàn thiện cơ chế giải  
quyết tố cáo và việc xây dựng luật tố cáo và  
giải quyết tố cáo  
2.4. Giải quyêt tố cáo đối với đảng viên  
Về nguyên tắc, đảng viên bị tố cáo khi vi  
phạm Điều lệ Đảng và thuộc thẩm quyền giải  
quyết của uỷ ban kiểm tra hoặc các cấp uỷ đảng.  
Tuy nhiên, ở nước ta, đa số cán bộ, công chức  
lại là đảng viên và theo quy định thì vi phạm  
pháp luật cũng là vi phạm Điều lệ Đảng. Như  
vậy, sai phạm của một đảng viên hoàn toàn có  
thể bị tố cáo đến các cơ quan nhà nước (cơ quan  
quản lý) hoặc tố giác với cơ quan tiến hành tố  
tụng và cũng đồng thời có thể bị tố cáo đến cơ  
quan kiểm tra của Đảng. Điều này lại làm phát  
sinh thêm sự chồng chéo về thẩm quyền giữa  
cơ quan nhà nước và cơ quan Đảng trong việc  
giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức là  
đảng viên. Để xử lý vấn đề này, một số văn bản  
đã được quy định, chẳng hạn như Quy định  
số 52/QĐ/TW ngày 05/5/1999 của Ban Chấp  
hành Trung ương Đảng về giải quyết tố cáo  
đối với đảng viên thuộc diện Trung ương quản  
lý, tiếp đó là Quy chế số 79 QC/KTTW ngày  
09/5/2000 của Uỷ ban kiểm tra Trung ương về  
phối hợp giải quyết tố cáo đối với đảng viên  
thuộc diện Trung ương quản lý. Tuy nhiên, trên  
thực tế, người tố cáo không thể biết được đâu  
là cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc mà  
mình muốn tố cáo, nên các cơ quan luôn phải  
chuyển đi chuyển lại đơn tố cáo.  
Những bất cập của cơ chế giải quyết tố cáo  
hiện nay đang dẫn đến tình trạng chồng chéo,  
trùng lặp trong hoạt động của các cơ quan nhà  
nước khi xử lý các loại đơn thư này. Nhu cầu  
nghiên cứu sửa đổi quy định liên quan đến việc  
tiếp nhận và xử lý các vụ việc tố cáo là tất yếu.  
Việc tách khiếu nại, tố cáo ra thành hai vấn đề  
để xử lý cho phù hợp là một quyết định, theo  
chúng tôi, là cần thiết. Tuy nhiên, có nên xây  
dựng một đạo luật riêng về tố cáo hay không thì  
lại là việc phải cân nhắc. Hãy thử hình dung các  
khả năng xảy ra tố cáo và từ đó “định vị” được  
các loại tố cáo để xác định cơ quan có thẩm  
quyền giải quyết. Để làm được điều này, theo  
chúng tôi, có ba vấn đề cần giải quyết:  
- Phân định giữa tố cáo hành vi vi phạm của  
cán bộ, công chức khi thực hiện công vụ với  
hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân  
nào với tư cách công dân;  
- Phân định giữa tố cáo tội phạm và tố cáo  
hành vi vi phạm pháp luật khác chưa đến mức  
độ tội phạm;  
- Phân định giữa tố cáo hành vi vi phạm  
pháp luật của cán bộ, công chức và hành vi vi  
phạm của công chức, cán bộ đó với tư cách là  
một đảng viên đã vi phạm Điều lệ Đảng.  
Tất nhiên đây sẽ là một vấn đề cực kỳ phức  
tạp và phương án giải quyết nào cũng sẽ có  
những điểm hạn chế, mâu thuẫn. Xin nêu ra đây  
mốt số giải pháp bước đầu:  
Trước hết, điều quan trọng nhất là xác định  
đối tượng bị tố cáo và tính chất hành vi bị tố  
cáo. Theo chúng tôi nên chia làm hai loại:  
Loại thứ nhất: đối tượng tố cáo là công dân  
bình thường và hành vi vi phạm của họ không  
liên quan đến nhân thân, nghề nghiệp của họ.  
Chẳng hạn hành vi đánh bạc, đua xe máy hay  
Chẳng hạn, từ tháng 6/1999 đến tháng  
5/2008, Thanh tra Chính phủ đã tiếp nhận 337  
đơn tố cáo liên quan đến cán bộ thuộc diện  
Trung ương quản lý, đã chuyển đến Ủy ban  
Kiểm tra Trung ương xem xét giải quyết. Cũng  
trong thời gian này, Uỷ ban Kiểm tra Trung  
ương đã chủ trì giải quyết 851 đơn thư tố cáo,  
trong số đó có những tố cáo vi phạm nguyên tắc  
tổ chức sinh hoạt đảng và vi phạm chính sách,  
pháp luật và phẩm chất, lối sống.  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 43  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
buôn lậu… có thể xảy ra với bất kỳ ai. Đối với  
đối tượng và loại hành vi này thì cơ quan có  
thẩm quyền giải quyết tố cáo là cơ quan quản  
lý nhà nước về lĩnh vực đó (chẳng hạn cơ quan  
giải quyết chuyện đánh bạc là cảnh sát, giải  
quyết tố cáo buôn lậu là cơ quan thuế…), nếu  
những hành vi này đến mức độ tội phạm thì cơ  
quan tố tụng hình sự có thẩm quyền giải quyết.  
Giữa hai loại cơ quan này có mối quan hệ qua  
lại để xử lý vụ việc tuỳ theo tính chất và mức  
độ nguy hiểm của nó. Nếu cơ quan quản lý thấy  
đến mức độ tội phạm thì chuyển cơ quan điều  
tra và ngược lại, nếu cơ quan điều tra nhận được  
tố cáo nhưng xét thấy hành vi đó chưa đến mức  
độ tội phạm thì gửi sang cơ quan quản lý để xử  
lý bằng các biện pháp hành chính.  
quan thanh tra nhà nước và cơ quan kiểm tra  
kỷ luật của Đảng. Chúng ta nên nhớ rằng, Đảng  
thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ (Điều 4  
Pháp lệnh Cán bộ, công chức và nguyên tắc  
đầu tiên về quản lý cán bộ, công chức là “Bảo  
đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”  
(Điều 5 Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực từ  
01/01/2010). Giải quyết tố cáo chắc chắn sẽ dẫn  
đến việc xử lý cán bộ (nếu tố cáo đó là đúng).  
Trong việc xử lý cán bộ thì ý kiến của cơ  
quan đảng có tính chất quyết định, vì vậy, công  
tác giải quyết các tố cáo của các tổ chức thanh  
tra nhà nước phải phối hợp chặt chẽ với các  
cơ quan kiểm tra của Đảng (theo chúng tôi, tốt  
nhất là cơ quan kiểm tra và kỷ luật của Đảng).  
Phương thức kết hợp có thể như sau:  
Loại thứ hai: đối tượng bị tố cáo là cán bộ,  
công chức và hành vi bị tố cáo liên quan đến  
việc thực thi nhiệm vụ, công vụ. Đây là vấn đề  
phức tạp nhất. Theo chúng tôi chỉ có một cách  
khả dĩ có thể tránh được sự phức tạp chồng  
chéo khi giải quyết loại tố cáo này là giao cho  
cơ quan thanh tra nhà nước, bởi vì về bản chất,  
cơ quan thanh tra chính là cơ quan giám sát  
việc thực thi nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán  
bộ, công chức (Điều 1 của Sắc lệnh số 64 ngày  
23/11/1945 đã thể hiện rõ điều này và đây chính  
là tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác thanh  
tra). Phương án này sẽ dễ dàng thực hiện với sự  
đổi mới toàn diện tổ chức và hoạt động của các  
cơ quan thanh tra nhà nước theo hướng, thanh  
tra sẽ thực hiện chức năng giám sát hành chính,  
việc giải quyết khiếu nại hành chính sẽ giao cho  
cơ quan chuyên trách (cơ quan tài phán hành  
chính như hiện nay đang nghiên cứu xây dựng),  
việc thanh tra các doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức  
ngoài nhà nước (thường được gọi là thanh tra  
kinh tế - xã hội) sẽ do các bộ, ngành đảm nhiệm  
theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của bộ,  
ngành đó trên các lĩnh vực mà họ được phân  
công phụ trách, bởi vì bất cứ lĩnh vực nào cũng  
đều đã có một bộ chịu trách nhiệm quản lý mà  
công tác thanh tra, kiểm tra là một khâu trong  
công tác quản lý của bộ ngành đó.  
- Đối với cán bộ, công chức là đảng viên bình  
thường thì cơ quan thanh tra tiến hành xem xét,  
xác minh tố cáo về những vi phạm pháp luật  
của người này, sau đó kiến nghị cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật (nếu đến mức  
độ hình sự thì chuyển cho cơ quan tố tụng hình  
sự), đồng thời báo cáo cơ quan kiểm tra, kỷ luật  
đảng để xử lý về mặt Đảng.  
- Đối với cán bộ công chức là đảng viên  
thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý thì có thể cơ  
quan kiểm tra kỷ luật của Đảng chủ trì phối hợp  
với cơ quan thanh tra nhà nước xem xét giải  
quyết tố cáo đó. Hoặc có thể trong quá trình  
xem xét giải quyết tố cáo một đảng viên giữ vị  
trí lãnh đạo, quản lý trong cơ quan nhà nước, cơ  
quan kiểm tra kỷ luật của Đảng có thể yêu cầu  
cơ quan thanh tra tiến hành xem xét làm rõ một  
hoặc một số vấn đề liên quan đến trách nhiệm  
của người bị tố cáo, sau đó báo cáo kết quả cho  
cơ quan kiểm tra kỷ luật của Đảng để cơ quan  
này quyết định xử lý đối với cán bộ, đảng viên  
đó. Cơ quan kiểm tra, kỷ luật của Đảng sau khi  
đã có kết luận và xử lý về mặt Đảng sẽ yêu cầu  
cơ quan nhà nước xử lý theo pháp luật đối với  
người bị tố cáo.  
Để thực hiện sự phối hợp này thì phương  
án kết hợp giữa cơ quan thanh tra nhà nước và  
cơ quan kiểm tra, kỷ luật của Đảng theo mô  
hình “một nhà hai cửa” của Trung Quốc sẽ là  
tối ưu.  
Tiếp đó nếu cán bộ, công chức đó là đảng  
viên thì phải giải quyết mối quan hệ giữa cơ  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
44 I  
I
pdf 8 trang Thùy Anh 11960
Bạn đang xem tài liệu "Phân định giữa khiếu nại và tố cáo và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng luật tố cáo và giải quyết tố cáo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_dinh_giua_khieu_nai_va_to_cao_va_nhung_van_de_dat_ra_tr.pdf