Xử lý vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
Original Article
Handling of Physical Evidence in Criminal Cases According
to the Vietnamese Criminal Procedure Law
Nguyen Ngoc Chi1,*, Bui Thi Thu Huong2
1 VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
2 Cau Giay District People's Procuratorate, 19, lane 11 Duy Tan,
Dich Vong Hau, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
Received 22 October 2021
Revised 20 December 2021; Accepted 7 January 2022
Abstract: Handling physical evidence is one of the criminal procedural activities, conducted by
state bodies, during the process to resolve criminal cases. This activity requires the objectivity and
fairness in the process of handling crimes, and the protection of legitimate rights and interests of
relevant individuals and organizations; therefore, it contributes to the stability of the society and the
development of the economy. Thus, a system of legal provisions on handling physical evidence have
been developed to ensure the role of this activity, including not only criminal procedure law, but
also provisions in the penal law, the civil law, and other relevant legal documents. Over the recent
years, apart from successes, the implementation of activities to handle physical evidence in Vietnam
in practice has revealed numerous limitations: the law on handling of physical evidence is not yet in
line with the actual case settlement in practice; there are violations of the law on handling of physical
evidence by competent persons, agencies, which might create conditions for abuse of powers,
appropriating, damaging, losing physical evidence and might cause irreversible consequences. For
those reasons, this article addresses theoretical and practical issues on the handling of physical
evidence and, on that basis, proposes solutions to improve the efficiency of this activity in criminal
cases at the requests of the judicial reform in Vietnam.
Keywords: Physical evidence, handling physical evidence, methods to handle physical evidence,
criminal procedure.*
________
* Corresponding author.
E-mail address: [email protected]
1
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
2
Xử lý vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án theo
luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nguyen Ngoc Chi1,*, Bui Thi Thu Huong2
1 Khoa Luật, ĐHQGHN, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
2Viện Kiểm sát Nhân dân quận Cầu Giấy, 19, ngõ 11 Duy Tân, Dịch Vọng Hậu,
Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 22 tháng 10 năm 2021
Chỉnh sửa ngày 20 tháng 12 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 7 tháng 01 năm 2022
Tóm tắt: Xử lý vật chứng là một trong những hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi các cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động này đòi
hỏi bảo đảm tính khách quan công bằng khi xử lý tội phạm và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức có liên quan, góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế. Do đó, hệ thống quy
phạm pháp luật về xử lý vật chứng đã được hình thành, nó không chỉ là quy định của luật tố tụng
hình sự mà còn bao gồm cả quy định của luật hình sự, luật dân sự và những văn bản pháp luật liên
quan khác. Thực tế hoạt động xử lý vật chứng ở nước ta những năm qua bên cạnh thành công còn
bộc lộ nhiều hạn chế biểu hiện trên các khía cạnh: pháp luật về xử lý vật chứng chưa phù hợp với
thực tế giải quyết vụ án, còn có mâu thuẫn, chồng chéo, chưa cụ thể, gây khókhăn khi áp dụng pháp
luật; còn có vi phạm trong việc xử lý vật chứng của cơ quan, người có trách nhiệm, buông lỏng quản
lý tạo điều kiện cho việc lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt, làm hư hỏng, mất mát vật chứng
gây ra hậu quả khó khắc phục. Góp phần khắc phục những hạn chế nêu trên, bài viết này phân tích
một số vấn đề lý luận, thực tiễn về xử lý vật chứng, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả
của hoạt động này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư
pháp.
Từ khóa: Vật chứng, xử lý vật chứng, hình thức xử lý vật chứng, tố tụng hình sự.
1. Khái niệm xử lý vật chứng *
“Xử lý vật chứng” là hoạt động tiếp theo của
quá trình thu thập, sử dụng vật chứng để chứng
minh tội phạm nên đòi hỏi không được làm mất
đi giá trị chứng minh của chứng cứ nhưng đồng
thời cũng phải bảo đảm tính nguyên vẹn, bảo
đảm giá trị và giá trị sử dụng của tài sản là vật
chứng đối với đời sống, xã hội, nhất là đối với
việc duy trì, phát triển sản xuất ra của cải cho xã
hội. Do vậy, khái niệm xử lý vật chứng không
chỉ thuần túy về mặt pháp lý mà còn bao gồm
những nội dung liên quan đến kinh tế xã hội, nó
có nội hàm rộng hơn những khái niệm pháp lý
đơn thuần. Vì vậy, cần tiếp cận khái niệm “xử
Khái niệm “xử lý vật chứng” ít được đề cập
trong các nghiên cứu so với những phạm trù,
khái niệm khác của khoa học pháp lý tố tụng hình
sự ở nước ta, gần đây bên cạnh một số giáo trình
của các cơ sở đào tạo luật còn có một số luận án,
luận văn đã đề cập đến những khía cạnh đơn lẻ
của khái niệm này [1-2]. Do vậy, việc nghiên cứu
cần phải được tiếp tục, bài viết này góp phần làm
sáng tỏ khái niệm “xử lý vật chứng” trong tố tụng
hình sự.
________
* Tác giả liên hệ.
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
3
lý vật chứng” theo quan điểm tổng thể, toàn
diện và đặt nó trong mối quan hệ với phát
triển kinh tế xã hội. Với cách tiếp cận này,
khái niệm “xử lý vật chứng” có những đặc
điểm sau đây:
Thứ nhất, quyết định xử lý vật chứng là hoạt
động tố tụng của nhiều chủ thể, trong đó cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thẩm
quyền quyết định xử lý vật chứng
nghĩa vụ và trách nhiệm khác nhau khi tham gia
giải quyết vụ án. Tuy nhiên, hoạt động và việc ra
quyết định xử lý vật chứng được diễn ra ở tất cả
các giai đoạn tố tụng, ngay cả ở giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự cũng đã có hoạt động xử lý vật
chứng tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại vật
chứng để đảm bảo các lợi ích về kinh tế, xã hội.
Đồng thời, việc xử lý vật chứng ở ngay từ giai
đoạn đầu (giai đoạn khởi tố vụ án) của quá trình
tố tụng còn có ý nghĩa bảo đảm để quyền và lợi
ích hợp pháp của các chủ thể liên quan không bị
thiệt hại do việc giữ vật chứng lâu ngày cho đến
khi kết thúc vụ án.
Hoạt động xử lý vật chứng bao gồm tổ hợp
các hành vi tố tụng của các chủ thể có liên quan
thể hiện và gắn liền với việc thực hiện các quyền,
nghĩa vụ đối với hoạt động này theo quy định của
pháp luật. Những hành vi tố tụng trong hoạt động
xử lý vật chứng có thể khái quát thành những loại
chính sau: Hành vi đánh giá hiện trạng của vật
chứng, hành vi định giá vật chứng, hành vi giám
định, thẩm định vật chứng; hành vi ra quyết định
xử lý vật chứng… Việc thực hiện các hành vi này
ở mức độ nào, đến đâu tùy thuộc vào vị trí, vai
trò của từng loại chủ thể với các quyền, nghĩa vụ
và trách nhiệm tương ứng theo quy định của
pháp luật.
Có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình giải
quyết vụ án, nhưng trong đó cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng giữ vai trò chủ yếu,
có quyền ra các quyết định xử lý vật chứng. Các
chủ thể tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,…) chỉ tham
gia vào quá trình xử lý vật chứng khi họ có
quyền, lợi ích hay nghĩa vụ liên quan và trong
phạm vi, giới hạn theo quy định của pháp luật.
Ngoài các chủ thể nêu trên, trong quá trình xử lý
vật chứng còn có thể có sự tham gia của cá nhân,
tổ chức, cơ quan khác nếu họ có quyền hoặc
nghĩa vụ liên quan đối với việc xử lý vật chứng.
Tuy được tham gia vào quá trình xử lý vật chứng
nhưng những người này không có quyền quyết
định xử lý vật chứng. Nói cách khác, nhà nước
chỉ trao thẩm quyền quyết định xử lý vật chứng
cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng chứ không giao cho các chủ thể khác. Thẩm
quyền này xuất phát từ quan điểm coi việc giải
quyết vụ án hình sự là quan hệ công quyền, do
đó, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng sau khi đã thu giữ vật chứng để chứng minh
tội phạm thì họ phải có trách nhiệm xử lý vật
chứng hướng tới các mục tiêu đề ra trên cơ sở
tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về
xử lý vật chứng.
Quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự trải
qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Khoa
học pháp lý TTHS Việt Nam quan niệm rằng:
“TTHS bao gồm toàn bộ hoạt động của các chủ
thể tố tụng hướng tới việc giải quyết vụ án khách
quan, công bằng, góp phần bảo vệ công lý, bảo
vệ quyền con người và các chủ thể khác trong xã
hội, đấu trang phòng ngừa và chống tội phạm”
[1]. Mỗi giai đoạn tố tụng có mục tiêu, nhiệm vụ
cụ thể gắn liền với những chủ thể có các quyền,
Thứ hai, về đối tượng và hình thức xử lý vật
chứng
i) Về nguyên tắc, vật hoặc tài sản bị thu giữ
với tư cách là vật chứng - nghĩa là những vật thể,
tài sản có giá trị chứng minh tội phạm và người
phạm tội - mới thuộc phạm vi xử lý vật chứng.
Nói cách khác, xử lý vật chứng chỉ áp dụng đối
với vật chứng, còn những vật, tài sản bị thu giữ
không phải là vật chứng trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự thì không được áp dụng các
quy định về xử lý vật chứng của luật TTHS.
Quan điểm đưa cả những vật không phải là vật
chứng trong vụ án hình sự là đối tượng của việc
xử lý vật chứng là không đảm bảo logic [3]. Việc
xác định vật nào là vật chứng, vật nào không phải
vật chứng để áp dụng đúng các quy định của
pháp luật tương ứng được coi là vấn đề có tính
chất nền tảng cho việc xử lý vật chứng.
ii) Hình thức xử lý vật chứng là cách thức
được sử dụng để xác định địa vị pháp lý của vật
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
4
chứng sau khi có quyết định xử lý của cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Hình
thức xử lý vật chứng được thể hiện trong quyết
định xử lý vật chứng của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng và có hiệu lực thi hành,
mang tính bắt buộc đối với cơ quan, tổ chức, cá
nhân hữu quan. Quyết định xử lý vật chứng là
căn cứ làm phát sinh các hệ quả của địa vị về mặt
pháp lý đối với vật chứng. Địa vị pháp lý của vật
chứng sau khi có Quyết định xử lý vật chứng, thể
hiện ở các dạng thức sau: (i) Khôi phục lại quyền
sở hữu cho chủ sở hữu, quyền chiếm hữu cho
người quản lý hợp pháp vật chứng đối với
những vật chứng được trả lại; (ii) Thay đổi chủ
sở hữu đối với những vật chứng bị tịch thu nộp
ngân sách nhà nước, bán theo quy định của
pháp luật hoặc giao cho cơ quan quản lý
chuyên ngành có thẩm quyền xử lý; (iii) Tước
quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với những tài
sản bị tịch thu tiêu hủy…
Quyết định xử lý vật chứng của các chủ thể
có thẩm quyền có hiệu lực thi hành là căn cứ để
các chủ thể liên quan đến vật chứng nghiêm
chỉnh chấp hành, chấm dứt việc khiếu kiện, tranh
chấp đối với vật chứng. Trong một số trường
hợp, đây cũng là căn cứ để cơ quan Nhà nước có
thẩm thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu,
quyền sử dụng tài sản cho công dân... theo quy
định của pháp luật.
Lý luận về hình thức xử lý vật chứng dựa vào
tính chất lâu dài, vĩnh viễn hay tạm thời về địa vị
pháp lý của vật chứng trong quyết định xử lý vật
chứng để phân chia thành hai loại là hình thức xử
lý triệt để và hình thức xử lý tạm thời. Theo đó,
hình thức xử lý vật chứng triệt để được coi là
hình thức xử lý lâu dài, vĩnh viễn khi ra quyết
định về địa vị pháp lý của vật chứng và sẽ không
bị thay đổi nếu không có vi phạm pháp luật
nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết mới là thay
đổi tính vụ án để xét lại vụ án theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm. Ngược lại, hình thức xử lý
vật chứng tạm thời là hình thức xử lý vật chứng
có thể bị thay đổi khi xuất hiện các tình tiết, căn
cứ làm thay đổi địa vị tính chất pháp lý liên quan
đến vật chứng so với địa vị pháp của vật chứng
lúc đầu được ghi nhận trong quyết định xử lý vật
chứng đã được ban hành. Với cách phân loại này
thì hình thức xử lý vật chứng tạm thời gồm: bán
vật chứng theo quy định của pháp luật, tạm giao
cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp tiếp tục
khai thác, sử dụng; hình thức xử lý vật chứng
triệt để bao gồm: trả lại cho chủ sở hữu hoặc
người quản lý hợp pháp, tịch thu nộp ngân sách
nhà nước, tịch thu tiêu hủy, giao cho cơ quan
quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý.
Thứ ba, việc xử lý vật chứng được thực hiện
bởi thủ tục tố tụng chặt chẽ, dân chủ, minh bạch,
rõ ràng
Thủ tục và cách thức xử lý vật chứng có ảnh
hưởng lớn đến quyền và lợi ích của những cá
nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan và quan
trọng hơn nữa là có ý nghĩa đối với chức năng
bảo vệ công lý, bảo về quyền con người trong tố
tụng hình sự, đối với tính dân chủ, công bằng
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Do đó,
với cách tiếp cận này, luật TTHS quy định thủ
tục xử lý vật chứng chặt chẽ, dân chủ, công khai,
minh bạch trong việc ra quyết định xử lý vật
chứng, triển khai thực thi các nội dung của quyết
định xử lý vật chứng. Theo quy định của pháp
luật Việt Nam, sau khi có quyết định xử lý vật
chứng của người có thẩm quyền quyết định việc
xử lý vật chứng, nếu vật chứng chưa được
chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cùng
cấp thì việc thi hành quyết định do những người
tiến hành tố tụng được phân công (Điều tra viên,
Kiểm sát viên) khi vật chứng được xử lý ở giai
đoạn điều tra, truy tố. Trường hợp vật chứng đã
được chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân
sự cùng cấp thì việc xử lý vật chứng sẽ do cơ
quan thi hành án thực hiện.
Xử lý vật chứng là hoạt động tố tụng do đó
nó phải tuân thủ quy định chung khi tiến hành
hoạt động tố tụng đó là phải lập biên bản theo
mẫu thống nhất và lưu vào hồ sơ vụ án. Đối với
mỗi hình thức xử lý vật chứng lại đòi hỏi phải có
những yêu cầu riêng về mặt thủ tục để đảm bảo
việc xử lý vật chứng là khách quan. Ngoài ra, đối
với mối hình thức xử lý vật chứng, luật TTHS lại
quy định những thủ tục riêng biệt phù hợp đặc
điểm của từng loại vật chứng và phương thức xử
lý vật chứng, chẳng hạn: hình thức xử vật chứng
là tiền, giấy tờ có giá bị tịch thu nộp vào ngân
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
5
sách thì khi thực hiện cơ quan xử lý phải tuân
theo thủ tục: thông báo bằng văn bản và tiến hành
giao vật chứng đó cho cơ quan tài chính cùng cấp
biết để tiếp nhận. Khi chuyển giao vật chứng
phải kèm theo các quyết định liên quan đến việc
xử lý vật chứng. Việc chuyển giao phải có sự có
mặt của đại diện cơ quan giao và cơ quan nhận
vật chứng và phải được lập biên bản, mô tả cụ
thể thực trạng vật chứng, có chữ ký của người
đại diện và dấu của cơ quan bên giao, chữ ký của
người đại diện và dấu của cơ quan bên nhận.
Trường hợp quyết định tịch thu đã được thi hành
nhưng sau đó phát hiện có sai lầm và đã được cơ
quan có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ quyết
định tịch thu thì cơ quan xử lý và cơ quan tài
chính đã nhận vật chứng phối hợp để làm thủ tục
hoàn trả lại số tiền đã nộp vào ngân sách nhà
nước theo quy định.
2. “Xử lý vật chứng” trong mối quan hệ với
“vật chứng” của hoạt động tố tụng hình sự
i) Vật chứng là một trong những nguồn
chứng cứ được quy định trong luật tố tụng hình
sự (Điều 87 BLTTHS năm 2015) và có giá trị
chứng minh tội phạm, hành vi của người thực
hiện tội phạm khi vật chứng đó thỏa mãn đầy đủ
các thuộc tính của vật chứng được quy định trong
luật TTHS. Đã có nhiều cách định nghĩa vật
chứng của các nhà nghiên cứu thể hiện trong các
ấn phẩm được xuất bản [1, 2, 6], tuy nhiên trong
thực tiễn giải quyết vụ án người ta thường sử
dụng định nghĩa quy định tại Điều 89 BLTTHS
năm 2015 “Vật chứng là vật được dùng làm công
cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội
phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc
vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người
phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết
vụ án”. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi
không có ý định bàn về khái niệm vật chứng mà
chỉ dùng quy định của Điều 89 BLTTHS năm
2015 để làm rõ mối quan hệ giữa nó với xử lý vật
chứng. Theo quy định của điều luật này thì vật
chứng là những vật thể chứa đựng những thông
tin, dấu vết về tội phạm, thông qua đó có thể xác
định được sự thật khách quan của và được thu
thập bằng biện pháp hợp pháp theo quy định của
pháp luật. Vì vậy, vật chứng khi sử dụng để
chứng minh tội phạm phải thỏa mãn các thuộc
tính: Tính khách quan của vật chứng; Tính liên
quan của vật chứng; Tính hợp pháp của vật
chứng [1]. Đây là những thuộc tính, đặc điểm
chung, bất buộc của tất cả các tài liệu được coi
là chứng cứ, trong đó có vật chứng để chứng
minh tội phạm. Vì vậy, vật thể được thu giữ nếu
thiếu một trong những đặc điểm, thuộc tính này
sẽ không được coi là “vật chứng” và không được
dùng làm căn cứ đế chứng minh tội phạm.
Những đặc điểm trên đây thể hiện bản chất
của hoạt động xử lý vật chứng, do đó, khái niệm
“xử lý vật chứng” không thể thiếu những nội
hàm khoa học này. Tuy nhiên, một số khái niệm
về “xử lý vật chứng” ở một số ấn phẩm xuất bản
gần đây ở nước ta lại không đề cập hoặc chỉ đề
cập đến một vài đặc điểm nêu trên. Chẳng hạn,
Từ điển Luật học đưa ra định nghĩa “xử lý vật
chứng là xem xét, giải quyết vật chứng đã thu
thập được” [4]. Một tài liệu khác định nghĩa: “Xử
lý vật chứng là việc cơ quan, người tiến hành tố
tụng có thẩm quyền, tùy thuộc vào từng giai đoạn
tố tụng, căn cứ vào các quy định của pháp luật
quyết định số phận pháp lý của vật chứng đã
được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố, xét
xử” [5].Ở các định nghĩa này, có thể nhận thấy
nội hàm của khái niệm chưa được làm rõ, không
chỉ ra được những thuộc tính bản chất của việc
xử lý vật chứng.
Vì vậy, với những đặc điểm được phân tích
trên, có thể hiểu “xử lý vật chứng” như sau: Xử
lý vật chứng là một trong những hoạt động tố
tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng với sự tham gia của các chủ thể khác có
liên quan nhằm xác định địa vị pháp lý của vật
chứng thông qua các hình thức xử lý theo thủ tục
chặt chẽ của pháp luật tố tụng hình sự.
Vật chứng là phương tiện quan trọng để
chứng minh tội phạm, giá trị chứng minh của vật
chứng cao, chứa đựng các dấu vết của tội phạm
cho nên luật TTHS quy định chặt chẽ thủ tục phát
hiện, thu thập, bảo quản vật chứng. Nếu không
tuân thủ hoặc để mất mát, hư hỏng hay bị tiêu
hủy hoặc đánh tráo sẽ bị xử lý theo quy định của
pháp luật.
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
6
Hoạt động chứng minh trong vụ án hình sự
- Tính chất, đặc điểm, hình thức, kích cỡ, số
là một quá trình tìm đến sự thật khách quan, quá
trình tiệm cận chân lý của vụ án. Quá trình này
thể năng lực tư duy của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng và những người khác tham gia vào
quá trình chứng minh giải quyết vụ án hình sự.
Tư duy chủ quan của những người này đòi hỏi
phải phù hợp với thực tế diễn biến của vụ án, sự
tìm tòi, phát hiện, sử dụng chứng cứ để chứng
minh phải dựa trên cơ sở khách quan, không
được áp đặt ý muốn chủ quan, suy diễn, duy ý
chí trong quá trình chứng minh. Nói cách khác,
hoạt động chứng minh vụ án hình sự thể hiện sự
phù hợp, tương thích của logic chủ quan đối với
logic khách quan, diễn biến của vụ án. Khoa học
pháp lý tố tụng hình sự đã khái quát quá trình đó
thành các bước: phát hiện, thu thập chứng cứ;
kiểm tra chứng cứ; đánh giá, sử dụng chứng cứ
với những yêu cầu, đòi hỏi cụ thể để bảo đảm
tính khách quan của quá trình chứng minh. Vật
chứng là nguồn chứng cứ quan trọng trong quá
trình chứng minh vụ án, bởi vì vật chứng có giá
trị chứng minh cao, chứa đựng đậm đặc các dấu
vết của tội phạm. Do đó, luật tố tụng hình sự quy
định chặt chẽ thủ tục phát hiện, thu thập chứng
cứ; kiểm tra chứng cứ; đánh giá, sử dụng chứng
cứ.
lượng vật chứng thu giữ trong quá trình chứng
minh vụ án có ảnh hưởng mang tính quyết định
đến hình thức xử xử lý vật chứng. Vì vậy, pháp
luật TTTHS quy định nhiều hình thức xử lý vật
chứng tương ứng, phù hợp với đặc điểm của từng
loại vật chứng. BLTTHS năm 2015 quy định các
hình thức xử lý vật chứng gồm: tịch thu nộp ngân
sách nhà nước; trả lại cho chủ sở hữu hoặc người
quản lý hợp pháp; tịch thu và tiêu hủy; bán theo
quy định của pháp luật, không bán được thì tiêu
hủy; giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có
thẩm quyền xử lý. Các hình thức xử lý vật chứng
này sẽ được người có thẩm quyền lựa chọn áp
dụng cho phù hợp với đặc điểm của từng loại vật
chứng, chẳng hạn: Đối với vật chứng là kho tàng,
nhà xưởng, khách sạn, nhà, đất, cũng như các
phương tiện sản xuất, kinh doanh khác, thì tuỳ
từng giai đoạn tố tụng, cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Toà án đang thụ lý, giải quyết vụ án
có thể giao tài sản đó cho chủ sở hữu hoặc
người quản lý hợp pháp tiếp tục khai thác, sử
dụng, nếu xét thấy những tài sản đó có khả
năng sinh lời. Hoặc hình thức bán tài sản là vật
chứng theo quy định của pháp luật được áp
dụng đối với vật chứng thuộc loại mau hỏng
hoặc khó bảo quản…
ii) Xử lý vật chứng là một trong những hoạt
động tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng với sự tham gia của các chủ thể
khác có liên quan nhằm xác định địa vị pháp của
vật chứng thông qua các hình thức xử lý theo thủ
tục chặt chẽ của pháp luật tố tụng hình sự. Như
vậy, xử lý vật chứng là một quá trình, bao gồm
nhiều hành vi của TTHS được thực hiện đan xen
hoặc sau khi vụ án kết thúc, nhưng có vai trò, ý
nghĩa khác với quá trình chứng minh tội phạm.
Nếu như vật chứng được thu giữ, kiểm tra, đánh
giá được dùng làm căn cứ để chứng minh tội
phạm, hành vi của người thực hiện tội phạm và
các tình tiết khác có liên quan đến vụ án thì xử
lý vật chứng chỉ có vai trò xác định địa vị pháp
lý của vật chứng sau khi đã hoàn thành vai trò
chứng minh. Tuy là hai quá trình khác nhau
nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ biện chứng,
ràng buộc lẫn nhau. Mối quan hệ biện chứng này
thể hiện ở những khía cạnh sau:
Những phân tích trên đây cho thấy tính
chất, đặc điểm, hình thức, kích cỡ, số lượng vật
chứng thu giữ trong quá trình chứng minh vụ
án có ảnh hưởng mang tính quyết định đến
hình thức xử lý vật chứng, đã khẳng định mối
quan hệ biện chứng, trong đó những dấu hiệu
thuộc về bản chất của vật chứng quyết định
hình thức xử lý vật chứng.
- Quá trình và hình thức xử vật chứng chỉ
được tiến hành sau quá trình chứng minh giải
quyết vụ án. Như đã phân tích ở các phần trên,
việc thu thập, kiểm tra, đánh giá vật chứng trong
trình chứng minh có vai trò làm sáng tỏ tội phạm
và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án một
cách khách quan. Do vậy, chỉ sau khi “vật
chứng” hoàn thành vai trò được sử dụng làm căn
cứ chứng minh này thì quá trình “xử lý vật
chứng” mới được tiến hành. Nói cách khác, quá
trình sử dụng vật chứng làm căn cứ chứng minh
và xử lý vật chứng là hai quá trình trong tiến trình
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
7
tố tụng giải quyết vụ án hình sự xảy ra kế tiếp
nhau, trong đó, quá trình xử lý vật chứng được
thực hiện sau, phụ thuộc vào quá trình chứng
minh.
xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Như
vậy, thẩm quyền xử lý vật chứng được giao cho
tất cả các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng ở mọi giai đoạn tố tụng giải quyết vụ án.
- Tuy xử lý vật chứng ở vị trí phụ thuộc của
“người đến sau” nhưng lại có vai trò ảnh hưởng
tới việc củng cố, làm gia tăng giá trị chứng minh
của vật chứng và những ý nghĩa về pháp lý, kinh
tế, xã hội khác. Mối quan hệ tác động trở lại của
“xử lý vật chứng” đến quá trình chứng minh thể
hiện ở những khía cạnh sau: Thông qua hoạt
động xử lý vật chứng, khẳng định tính khách
quan, có căn cứ của vật chứng được dùng làm
căn cứ chứng minh giải quyết vụ án; hoạt động
xử lý vật chứng đúng đắn góp phần nâng cao
hiệu quả, hiệu lực của hoạt động TTHS là một
trong những mục tiêu của chiến lược Cải cách tư
pháp đề ra; góp phần bảo đảm an ninh quốc gia,
trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội;
tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tiễn giải
quyết vụ án.
- Các hình thức xử lý vật chứng. BLTTHS
năm 2015 quy định về các hình thức xử lý vật
chứng gồm có: tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp
pháp; tịch thu và tiêu hủy; bán theo quy định của
pháp luật, không bán được thì thì tiêu hủy; giao
cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm
quyền xử lý. Quy định này của BLTTHS năm
2015 đã có sự kế thừa từ quy định tại Điều 76
của BLTTHS năm 2003 và với nhiều sửa đổi bổ
sung cho phù hợp với thực tiến đấu tranh, xử lý
tội phạm.
- Một số quy định khác liên quan đến xử lý
vật chứng. Những quy định khác liên quan đến
xử lý vật chứng bao gồm: (i) Trả lại đồ vật, tài
liệu không phải là vật chứng quy định tại điểm a
khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Theo đó,
tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là
vật chứng phải trả ngay cho chủ sở hữu hoặc
người quản lý hợp pháp tài sản đó. Quy định này
được bổ sung mới so với quy định tại Điều 76
BLTTHS năm 2003; (ii) Giải quyết tranh chấp
quyền sở hữu đối với vật chứng. Khoản 4, Điều
106 BLTTHS năm 2015 quy định: “Trường hợp
có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng
thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự”.
3. Pháp luật Việt Nam về xử lý vật chứng
Bộ luật TTHS năm 2015 và các văn bản pháp
luật có liên quan khác đã hình hành khung pháp
lý cho việc xử lý vật chứng trong quá trình tiến
hành tố tụng giải quyết vụ án. Những văn bản
này không những kế thừa pháp luật về xử lý vật
chứng ở các giai đoạn trước mà còn thể hiện, cụ
thể hóa định hướng cải cách tư pháp của Đảng,
nhà nước ta cũng như chia sẻ, tham khảo kinh
nghiệm quốc tế và một số quốc gia trên thế giới.
Dó đó, về cơ bản khung pháp lý xử lý vật chứng
trong tố tụng hình sự nước phù hợp với thực tế
đấu tranh xử lý tội phạm, thể hiện ở những nội
dung chính sau đây:
- Thẩm quyền xử lý vật chứng được quy định
tại khoản 1 Điều 106 BLTTHS năm 2015, theo
đó, việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ
ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định
nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do
Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình
chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét
4. Một số hạn chế trong thực tiễn xử lý vật
chứng những năm qua
Những năm qua, việc xử lý vật chứng đã góp
phần quan trọng vào việc khôi phục lại quyền sở
hữu cho chủ sở hữu, quyền chiếm hữu cho người
quản lý hợp pháp; xóa bỏ điều kiện phạm tội,
động cơ phạm tội thông qua việc tịch thu sung
quỹ nhà nước đối với các tài sản là công cụ,
phương tiện phạm tội và các tài sản do phạm tội
mà có; đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất các
thiệt hại có thể gây ra cho các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan thông qua việc nhanh chóng
bán các tài sản mau hỏng, khó bảo quản, tạm giao
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
8
vật chứng… Tuy nhiên, hoạt động này cũng bộc
lộ một số hạn chế sau:
chính, Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn một số
vấn đề về bảo quản, xử lý tài sản là vật chứng,
tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố,
xét xử vụ án hình sự đã hướng dẫn đối với hình
thức xử lý này phải là bán đấu giá. Tuy nhiên
thực tiễn có nơi không bán đấu giá, có nơi tổ
chức bán đấu giá nhưng lại vi phạm quy trình,
thủ tục bán đấu giá. Trong một vụ án buôn lậu
xăng dầu, khi bán vật chứng của vụ án cơ quan
tiến hành tố tụng không tổ chức bán đấu giá mà
bán số xăng dầu bằng hình thức tham khảo giá
dẫn đến giá bán thực tế thấp hơn rất nhiều so với
giá bán xăng dầu tại thời điểm đó [11].
- Nhầm lẫn giữa xử lý vật chứng và biện pháp
tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm và trả lại tài sản. Điều 47 BLHS năm
2015 có quy định về tịch thu vật, tiền trực tiếp
liên quan đến tội phạm và Điều 48 BLHS năm
2015 quy định về trả lại tài sản, sửa chữa hoặc
bồi thường thiệt hại, theo đó người phạm tội phải
trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc
người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại vật chất đã được xác định do
hành vi phạm tội gây ra. Có thể nhận thấy, quy
định về 02 biện pháp tư pháp nêu trên có nhiều
điểm rất giống với quy định về xử lý vật chứng
tại Điều 106 BLTTHS năm 2015 nên trong thực
tiễn dễ bị nhầm lẫn.
- Việc tịch thu nộp vật chứng vào ngân sách
nhà nước còn tình trạng chưa đúng quy định của
pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của
người khác. Thực tiễn đã chỉ ra, nguyên tắc bảo
đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của
cá nhân, tổ chức được quy định trong Hiến pháp
năm 2013 chưa được thực hiện nghiêm chỉnh
trong hoạt động xử lý vật chứng, còn xảy ra vi
phạm. Những vi phạm này thường ở dạng tịch
thu sung công quỹ cả những tài sản không liên
quan đến việc thực hiện tội phạm, chẳng hạn:
Trong các vụ án về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh
bạc, các đối tượng sử dụng xe máy làm phương
tiện đi lại đi đến địa điểm đánh bạc và gửi xe ở
gần nơi đánh bạc, không trực tiếp sử dụng xe
máy vào việc đánh bạc nhưng bản án cấp sơ thẩm
[7] và phúc thẩm [8] đều tuyên tịch thu sung quỹ
nhà nước. Quyết định giám đốc thầm [9] đã hủy
một phần bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm
để xét xử lại theo hướng trả lại các xe máy trên
cho các bị cáo.
- Trả lại vật chứng không đúng quy định của
pháp luật, tài sản là phương tiện, công cụ phạm
tội nhưng lại được cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trả lại cho chủ sở cũng chính là
người thực hiện tội phạm.
Những hạn chế trong việc xử lý vật chứng
nêu trên có nhiều nguyên nhân trong đó có sự bất
cập từ quy định của pháp luật, như: Thiếu quy
định về căn cứ để xử lý đối với một số vật chứng,
hoặc một vật chứng có thể vận dụng nhiều căn
cứ để xử lý; Pháp luật quy định chưa rõ ràng nên
gây khó khăn khi xác định vật chứng thuộc loại
nào để xử lý cho phù hợp do quy định về các hình
thức xử lý vật chứng; Thiếu quy định về việc xử
lý vật chứng trong một số trường hợp đặc biệt,
như: vật chứng không thuộc sở hữu của một chủ
sở hữu duy nhất mà là tài sản chung của hai hay
nhiều người, khi đó việc xử lý vật chứng sẽ
tương đối phức tạp hoặc đối với vật chứng là tài
sản đang được sử dụng để đảm bảo cho việc thực
hiện nghĩa vụ. Yêu cầu đối với quy định của pháp
luật về xử lý vật chứng là cần bảo đảm việc xử
lý vật chứng trong mọi trường hợp đều phải đảm
bảo tính có căn cứ. Nếu cùng một loại vật chứng
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không đúng
quy định của pháp luật. Vật chứng không có giá
trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu tiêu
hủy, tuy nhiên một số vụ án do đánh giá chủ quan
của người tiến hành tố tụng nên đã xử lý vật
chứng không đúng. Trong một vụ án về tội hiếp
dâm, Cơ quan điều tra có thu tinh dịch trong âm
đạo của người bị hại và lông, tóc của người bị
buộc tội nhưng lại không cho giám định mà lại
tự ý tiêu hủy bằng cách đốt với lý do Cơ quan
điều tra cho rằng mẫu vật không đảm bảo để
giám định [10].
- Bán vật chứng không đúng quy định của
pháp luật. BLTTHS năm 2015 không quy định
hình thức bán hàng hóa mau hỏng khó bảo quản
là bán thông thường hay bán đấu giá, tuy nhiên
tại mục 6, 7 phần I Thông tư liên tịch số 06 ngày
24/10/1998 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tài
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
9
có thể được xử lý bằng nhiều hình thức xử lý
khác nhau thì pháp luật cần chỉ rõ khi nào được
áp dụng hình thức nào. Quy định hình thức xử lý
vật chứng không rõ ràng, thiếu chặt chẽ sẽ dẫn
đến khó khăn, sai lầm khi áp dụng.
cho cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp. Vật
chứng là đối tượng của tội phạm thì trả lại cho
chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp; tịch thu tiêu
hủy; tịch thu nộp ngân sách nhà nước hoặc giao
cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm
quyền xử lý. Vật chứng là vật khác có giá trị
chứng minh tội phạm và người phạm tội thì tịch
thu nộp ngân sách nhà nước; trả lại cho chủ sở
hữu, người quản lý hợp pháp hoặc tịch thu tiêu
hủy. Bổ sung quy định này sẽ bảo đảm thuận tiện
khi áp dụng pháp luật khi xử lý vật chứng, tránh
được tình trạng nhầm lẫn hoặc lợi dụng trong quá
trình xử lý vật chứng của người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng.
Thứ hai, bổ sung quy định để chi tiết hóa
trường hợp một loại vật chứng có thể xử lý được
theo nhiều hình thức theo hướng phải quy định
rõ các điều kiện kèm theo để đảm bảo một vật
chứng trong một tình huống cụ thể chỉ có thể áp
dụng một hình thức xử lý. Như đã phân tích nêu
trên, các loại vật chứng đều có thể áp dụng được
nhiều hơn một cách thức xử lý, do đó đều cần
được quy định rõ các điều kiện kèm theo khi áp
dụng. Cụ thể là:
Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội
thuộc sở hữu của người phạm tội thì tịch thu nộp
ngân sách nhà nước nếu có giá trị, tịch thu tiêu
hủy nếu không có giá trị; thuộc sở hữu của người
khác nếu người này không có lỗi trong việc quản
lý thì trả lại, nếu có lỗi thì tịch thu nộp ngân sách
nhà nước.
Vật chứng là đối tượng của tội phạm nếu là
tài sản thông thường bị người phạm tội chiếm
đoạt thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản
lý hợp pháp, nếu là vật cấm lưu hành thì giao cho
cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử
lý đối với một số vật chứng đặc biệt, tịch thu nộp
ngân sách nhà nước đối với những tài sản có giá
trị, tịch thu tiêu hủy đối với những vật không có
giá trị.
Như vậy, thực tiễn áp dụng các quy định về
xử lý vật chứng đã phát sinh một số vướng mắc,
bất cập cần sửa đổi, bổ sung như: một số vật
chứng không có căn cứ để xử lý hoặc có thể được
xử lý theo nhiều căn cứ khác nhau; khó khăn khi
xác định vật chứng thuộc loại nào để xử lý cho
phù hợp do quy định về các hình thức xử lý vật
chứng không rõ ràng, chưa chặt chẽ; thiếu quy
định về việc xử lý vật chứng trong một số trường
hợp đặc biệt. Một số sai sót của cơ quan có thẩm
quyền khi xử lý vật chứng như: áp dụng các hình
thức không đúng quy định của pháp luật gây thiệt
hại đến lợi ích hợp pháp Nhà nước, của công dân;
nhầm lẫn giữa xử lý vật chứng và biện pháp tư
pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm và trả lại tài sản.
5. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của
pháp luật về xử lý vật chứng
Những hạn chế trong thực tiễn xử lý vật
chứng của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng đã ảnh hưởng đến hiệu quả giải
quyết vụ án hình sự. Do đó, trên cơ sở định
hướng cải cách tư pháp, trên cơ sở chính sách
pháp luật của nhà nước ta trong giai đoạn hiện
nay theo hướng bảo đảm xử lý vật chứng đúng
pháp luật, chính xác, tôn trọng quyền sở hữu hợp
pháp tài sản của chủ sở hữu, hạn chế các ảnh
hưởng tiêu cực của hoạt động xử lý vật chứng
đến sản xuất, kinh doanh, bài viết này đưa ra một
số kiến nghị sau:
Thứ nhất, cần bổ sung quy định về hình thức
xử lý vật chứng có thể được áp dụng đối với từng
loại vật chứng được quy định tại Điều 89
BLTTHS (vật chứng). Cụ thể là: Vật chứng là
vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm
tội thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; tịch
thu tiêu hủy hoặc trả lại cho chủ sở hữu, người
quản lý hợp pháp. Vật chứng là vật mang dấu vết
của tội phạm thì bị tịch thu tiêu hủy hoặc trả lại
Vật chứng là vật mang dấu vết tội phạm nếu
không có giá trị thì tịch thu tiêu hủy, nếu có giá
trị thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc tịch thu sung
công nếu không xác định được chủ sở hữu.
Vật chứng là vật khác có giá trị chứng minh
tội phạm và người phạm tội nếu do phạm tội mà
có thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước, nếu
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
10
không do phạm tội mà có thì trả lại cho chủ sở
hữu [12].
nước, nghĩa vụ đang được bảo đảm thực hiện
bằng tài sản là sẽ chuyển thành nghĩa vụ không
có bảo đảm [13].
Thứ ba, hoàn thiện quy định về các hình thức
xử lý vật chứng đảm bảo chặt chẽ về mặt cấu trúc
và cụ thể đối với từng hình thức xử lý. Theo đó,
cần sửa đổi cấu trúc của khoản 2, khoản 3 Điều
106 BLTTHS năm 2015 như sau: “2.Vật chứng
được xử lý như sau: a) Tịch thu, nộp ngân sách
nhà nước; b) Tịch thu, tiêu hủy; c) Trả lại cho
chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; d) Giao
cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm
quyền xử lý; đ) Bán theo quy định của pháp luật;
e) Tạm giao cho chủ sở hữu, người quản lý hợp
pháp tiếp tục khai thác, sử dụng”. Đối với những
vật chứng được bán theo quy định của pháp luật
hoặc tạm giao cho chủ sở hữu, người quản lý hợp
pháp tiếp tục khai thác, sử dụng thì quá trình giải
quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ
theo kết quả điều tra, xác minh để quyết định xử
lý triệt để bằng hình thức: tịch thu, nộp ngân sách
nhà nước; tịch thu, tiêu hủy hoặc trả lại cho chủ
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
Thứ tư, đối với trường hợp vật chứng không
thuộc sở hữu của một chủ sở hữu duy nhất mà là
tài sản chung của hai hay nhiều người, cần có
quy định hướng dẫn việc xử lý vật chứng trong
trường hợp này. Theo quan điểm của tác giả, xử
lý vật chứng là tài sản chung cần căn cứ quy định
của Bộ luật dân sự năm 2015 về sở hữu chung và
chia tài sản thuộc sở hữu chung. Theo đó, trước
tiên làm rõ vật chứng đó là tài sản thuộc sở hữu
chung có thể phân chia hay là tài sản thuộc sở
hữu chung không thể phân chia bằng hiện vật.
Nếu tài sản chung có thể phân chia mà xác định
tài sản đó thuộc trường hợp phải tịch thu nộp
ngân sách nhà nước thì phải tịch thu nộp ngân
sách phần tài sản của người phạm tội. Nếu là tài
sản chung không phân chia được bằng hiện vật
mà xác định cần phải tịch thu nộp ngân sách nhà
nước thì bán phần quyền sở hữu của người phạm
tội và tịch thu số tiền bán được nộp ngân sách
nhà nước.
Thứ sáu, đối với vật chứng là tài sản chưa
xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý
hợp pháp cần quy định thời hạn và cách thức
niêm yết thông báo tìm kiếm. Không thể áp dụng
tương tự pháp luật dân sự về xác lập quyền sở
hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở
hữu để xử lý đối với vật chứng của vụ án mà cần
phải ban hành một quy định riêng, cụ thể về cách
thức thông báo và thời hạn thông báo để đảm bảo
tính khách quan và bảo đảm quyền và lợi ích của
chủ sở hữu tài sản trong trường hợp này.
Thứ bảy, cần ban hành thông tư hướng dẫn
cụ thể, chi tiết đối với từng hình thức xử lý vật
chứng về trình tự, thủ tục và điều kiện áp dụng.
Nội dung của thông tư này cần hướng dẫn xác
định vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội
trong những trường hợp cụ thể thường gặp như:
xe máy dùng để đi đánh bạc, ngôi nhà sử dụng
để hoạt động mại dâm có phải là công cụ,
phương tiện phạm tội hay không; nếu những tài
sản này được xác định là công cụ, phương tiện
phạm tội và thuộc sở hữu của người phạm tội thì
có được tịch thu nộp ngân sách nhà nước hay
không./.
Tài liệu tham khảo
[1] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyễn
Ngọc Chí – Lê Lan Chi (đồng chủ biên), Giáo trình
Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội (2019).
[2] V. X. Thao, Đối tượng chứng minh trong vụ án
hình sự, Luận án tiến sỹ luật học - Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2020.
[3] H. T. Thơ, Xử lý vật chứng khi xét xử vụ án hình
sự - bất cập và kiến nghị, Tạp chí điện tử Tòa án
luat/xu-ly-vat-chung-khi-xet-xu-vu-an-hinh-su-
bat-cap-va-kien-nghi (truy cập ngày 19/8/2021).
[4] Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Từ điển luật
học, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006.
[5] H. Quân, Bàn về xử lý vật chứng trong một số
trường hợp pháp luật chưa có quy định,
trao-doi.aspx?ItemID=2591(truycậpngày27/8/2021).
Thứ năm, đối với vật chứng là tài sản đang
được sử dụng để đảm bảo cho việc thực hiện
nghĩa vụ cần bổ sung quy định nếu xác định tài
sản là vật chứng thuộc loại phải tịch thu nộp ngân
sách nhà nước thì tịch thu nộp ngân sách nhà
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11
11
[6] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố
tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an Nhân dân,
Hà Nội, 2018.
[10] Dương Thanh Biểu (2008), Tranh luận tại phiên tòa
phúc thẩm, NXB Tư pháp, Hà Nội.
[11] Thái Chí Bình, Hoàn thiện quy định về vật chứng
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 17, 2012, tr.30-42.
[12] Đặng Văn Quý, Bàn về khái niệm vật chứng trong
luật TTHS Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số
2/2010.
[13] Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
(2008), Kháng nghị phúc thẩm số 210/VKS ngày
18/4/2008.
[7] Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc - tỉnh Đồng
Tháp, Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2017/HSST
ngày 01/9/2017.
[8] Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc - tỉnh Đồng Tháp,
Bản án hình sự phúc thẩm số 359/2017/HSPT ngày
12/12/2017.
[9] Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh, Quyết định giám đốc thẩm số 04/2019/HS-
GĐT ngày 19/02/2019.
Bạn đang xem tài liệu "Xử lý vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án theo luật tố tụng hình sự Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
xu_ly_vat_chung_trong_qua_trinh_giai_quyet_vu_an_theo_luat_t.pdf

