Xử lý vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
Original Article  
Handling of Physical Evidence in Criminal Cases According  
to the Vietnamese Criminal Procedure Law  
Nguyen Ngoc Chi1,*, Bui Thi Thu Huong2  
1 VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
2 Cau Giay District People's Procuratorate, 19, lane 11 Duy Tan,  
Dich Vong Hau, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 22 October 2021  
Revised 20 December 2021; Accepted 7 January 2022  
Abstract: Handling physical evidence is one of the criminal procedural activities, conducted by  
state bodies, during the process to resolve criminal cases. This activity requires the objectivity and  
fairness in the process of handling crimes, and the protection of legitimate rights and interests of  
relevant individuals and organizations; therefore, it contributes to the stability of the society and the  
development of the economy. Thus, a system of legal provisions on handling physical evidence have  
been developed to ensure the role of this activity, including not only criminal procedure law, but  
also provisions in the penal law, the civil law, and other relevant legal documents. Over the recent  
years, apart from successes, the implementation of activities to handle physical evidence in Vietnam  
in practice has revealed numerous limitations: the law on handling of physical evidence is not yet in  
line with the actual case settlement in practice; there are violations of the law on handling of physical  
evidence by competent persons, agencies, which might create conditions for abuse of powers,  
appropriating, damaging, losing physical evidence and might cause irreversible consequences. For  
those reasons, this article addresses theoretical and practical issues on the handling of physical  
evidence and, on that basis, proposes solutions to improve the efficiency of this activity in criminal  
cases at the requests of the judicial reform in Vietnam.  
Keywords: Physical evidence, handling physical evidence, methods to handle physical evidence,  
criminal procedure.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]  
1
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
2
Xử lý vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án theo  
luật tố tụng hình sự Việt Nam  
Nguyen Ngoc Chi1,*, Bui Thi Thu Huong2  
1 Khoa Luật, ĐHQGHN, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
2Viện Kiểm sát Nhân dân quận Cầu Giấy, 19, ngõ 11 Duy Tân, Dịch Vọng Hậu,  
Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 22 tháng 10 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 20 tháng 12 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 7 tháng 01 năm 2022  
Tóm tắt: Xử lý vật chứng là một trong những hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi các cơ  
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động này đòi  
hỏi bảo đảm tính khách quan công bằng khi xử lý tội phạm và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của  
cá nhân, tổ chức có liên quan, góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế. Do đó, hệ thống quy  
phạm pháp luật về xử lý vật chứng đã được hình thành, nó không chỉ là quy định của luật tố tụng  
hình sự mà còn bao gồm cả quy định của luật hình sự, luật dân sự và những văn bản pháp luật liên  
quan khác. Thực tế hoạt động xử lý vật chứng ở nước ta những năm qua bên cạnh thành công còn  
bộc lộ nhiều hạn chế biểu hiện trên các khía cạnh: pháp luật về xử lý vật chứng chưa phù hợp với  
thực tế giải quyết vụ án, còn có mâu thuẫn, chồng chéo, chưa cụ thể, gây khókhăn khi áp dụng pháp  
luật; còn có vi phạm trong việc xử lý vật chứng của cơ quan, người có trách nhiệm, buông lỏng quản  
lý tạo điều kiện cho việc lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt, làm hư hỏng, mất mát vật chứng  
gây ra hậu quả khó khắc phục. Góp phần khắc phục những hạn chế nêu trên, bài viết này phân tích  
một số vấn đề lý luận, thực tiễn về xử lý vật chứng, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả  
của hoạt động này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư  
pháp.  
Từ khóa: Vật chứng, xử lý vật chứng, hình thức xử lý vật chứng, tố tụng hình sự.  
1. Khái niệm xử lý vật chứng *  
“Xử lý vật chứng” là hoạt động tiếp theo của  
quá trình thu thập, sử dụng vật chứng để chứng  
minh tội phạm nên đòi hỏi không được làm mất  
đi giá trị chứng minh của chứng cứ nhưng đồng  
thời cũng phải bảo đảm tính nguyên vẹn, bảo  
đảm giá trị và giá trị sử dụng của tài sản là vật  
chứng đối với đời sống, xã hội, nhất là đối với  
việc duy trì, phát triển sản xuất ra của cải cho xã  
hội. Do vậy, khái niệm xử lý vật chứng không  
chỉ thuần túy về mặt pháp lý mà còn bao gồm  
những nội dung liên quan đến kinh tế xã hội, nó  
có nội hàm rộng hơn những khái niệm pháp lý  
đơn thuần. Vì vậy, cần tiếp cận khái niệm “xử  
Khái niệm “xử lý vật chứng” ít được đề cập  
trong các nghiên cứu so với những phạm trù,  
khái niệm khác của khoa học pháp lý tố tụng hình  
sự ở nước ta, gần đây bên cạnh một số giáo trình  
của các cơ sở đào tạo luật còn có một số luận án,  
luận văn đã đề cập đến những khía cạnh đơn lẻ  
của khái niệm này [1-2]. Do vậy, việc nghiên cứu  
cần phải được tiếp tục, bài viết này góp phần làm  
sáng tỏ khái niệm “xử lý vật chứng” trong tố tụng  
hình sự.  
________  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]m  
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
3
lý vật chứng” theo quan điểm tổng thể, toàn  
diện và đặt nó trong mối quan hệ với phát  
triển kinh tế xã hội. Với cách tiếp cận này,  
khái niệm “xử lý vật chứng” có những đặc  
điểm sau đây:  
Thứ nhất, quyết định xử lý vật chứng là hoạt  
động tố tụng của nhiều chủ thể, trong đó cơ quan,  
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thẩm  
quyền quyết định xử lý vật chứng  
nghĩa vụ và trách nhiệm khác nhau khi tham gia  
giải quyết vụ án. Tuy nhiên, hoạt động và việc ra  
quyết định xử lý vật chứng được diễn ra ở tất cả  
các giai đoạn tố tụng, ngay cả ở giai đoạn khởi  
tố vụ án hình sự cũng đã có hoạt động xử lý vật  
chứng tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại vật  
chứng để đảm bảo các lợi ích về kinh tế, xã hội.  
Đồng thời, việc xử lý vật chứng ở ngay từ giai  
đoạn đầu (giai đoạn khởi tố vụ án) của quá trình  
tố tụng còn có ý nghĩa bảo đảm để quyền và lợi  
ích hợp pháp của các chủ thể liên quan không bị  
thiệt hại do việc giữ vật chứng lâu ngày cho đến  
khi kết thúc vụ án.  
Hoạt động xử lý vật chứng bao gồm tổ hợp  
các hành vi tố tụng của các chủ thể có liên quan  
thể hiện và gắn liền với việc thực hiện các quyền,  
nghĩa vụ đối với hoạt động này theo quy định của  
pháp luật. Những hành vi tố tụng trong hoạt động  
xử lý vật chứng có thể khái quát thành những loại  
chính sau: Hành vi đánh giá hiện trạng của vật  
chứng, hành vi định giá vật chứng, hành vi giám  
định, thẩm định vật chứng; hành vi ra quyết định  
xử lý vật chứng… Việc thực hiện các hành vi này  
ở mức độ nào, đến đâu tùy thuộc vào vị trí, vai  
trò của từng loại chủ thể với các quyền, nghĩa vụ  
và trách nhiệm tương ứng theo quy định của  
pháp luật.  
Có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình giải  
quyết vụ án, nhưng trong đó cơ quan, người có  
thẩm quyền tiến hành tố tụng giữ vai trò chủ yếu,  
có quyền ra các quyết định xử lý vật chứng. Các  
chủ thể tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, bị hại,  
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,…) chỉ tham  
gia vào quá trình xử lý vật chứng khi họ có  
quyền, lợi ích hay nghĩa vụ liên quan và trong  
phạm vi, giới hạn theo quy định của pháp luật.  
Ngoài các chủ thể nêu trên, trong quá trình xử lý  
vật chứng còn có thể có sự tham gia của cá nhân,  
tổ chức, cơ quan khác nếu họ có quyền hoặc  
nghĩa vụ liên quan đối với việc xử lý vật chứng.  
Tuy được tham gia vào quá trình xử lý vật chứng  
nhưng những người này không có quyền quyết  
định xử lý vật chứng. Nói cách khác, nhà nước  
chỉ trao thẩm quyền quyết định xử lý vật chứng  
cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng chứ không giao cho các chủ thể khác. Thẩm  
quyền này xuất phát từ quan điểm coi việc giải  
quyết vụ án hình sự là quan hệ công quyền, do  
đó, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng sau khi đã thu giữ vật chứng để chứng minh  
tội phạm thì họ phải có trách nhiệm xử lý vật  
chứng hướng tới các mục tiêu đề ra trên cơ sở  
tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về  
xử lý vật chứng.  
Quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự trải  
qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ khởi tố, điều  
tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Khoa  
học pháp lý TTHS Việt Nam quan niệm rằng:  
“TTHS bao gồm toàn bộ hoạt động của các chủ  
thể tố tụng hướng tới việc giải quyết vụ án khách  
quan, công bằng, góp phần bảo vệ công lý, bảo  
vệ quyền con người và các chủ thể khác trong xã  
hội, đấu trang phòng ngừa và chống tội phạm”  
[1]. Mỗi giai đoạn tố tụng có mục tiêu, nhiệm vụ  
cụ thể gắn liền với những chủ thể có các quyền,  
Thứ hai, về đối tượng và hình thức xử lý vật  
chứng  
i) Về nguyên tắc, vật hoặc tài sản bị thu giữ  
với tư cách là vật chứng - nghĩa là những vật thể,  
tài sản có giá trị chứng minh tội phạm và người  
phạm tội - mới thuộc phạm vi xử lý vật chứng.  
Nói cách khác, xử lý vật chứng chỉ áp dụng đối  
với vật chứng, còn những vật, tài sản bị thu giữ  
không phải là vật chứng trong quá trình giải  
quyết vụ án hình sự thì không được áp dụng các  
quy định về xử lý vật chứng của luật TTHS.  
Quan điểm đưa cả những vật không phải là vật  
chứng trong vụ án hình sự là đối tượng của việc  
xử lý vật chứng là không đảm bảo logic [3]. Việc  
xác định vật nào là vật chứng, vật nào không phải  
vật chứng để áp dụng đúng các quy định của  
pháp luật tương ứng được coi là vấn đề có tính  
chất nền tảng cho việc xử lý vật chứng.  
ii) Hình thức xử lý vật chứng là cách thức  
được sử dụng để xác định địa vị pháp lý của vật  
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
4
chứng sau khi có quyết định xử lý của cơ quan,  
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Hình  
thức xử lý vật chứng được thể hiện trong quyết  
định xử lý vật chứng của cơ quan, người có thẩm  
quyền tiến hành tố tụng và có hiệu lực thi hành,  
mang tính bắt buộc đối với cơ quan, tổ chức, cá  
nhân hữu quan. Quyết định xử lý vật chứng là  
căn cứ làm phát sinh các hệ quả của địa vị về mặt  
pháp lý đối với vật chứng. Địa vị pháp lý của vật  
chứng sau khi có Quyết định xử lý vật chứng, thể  
hiện ở các dạng thức sau: (i) Khôi phục lại quyền  
sở hữu cho chủ sở hữu, quyền chiếm hữu cho  
người quản lý hợp pháp vật chứng đối với  
những vật chứng được trả lại; (ii) Thay đổi chủ  
sở hữu đối với những vật chứng bị tịch thu nộp  
ngân sách nhà nước, bán theo quy định của  
pháp luật hoặc giao cho cơ quan quản lý  
chuyên ngành có thẩm quyền xử lý; (iii) Tước  
quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với những tài  
sản bị tịch thu tiêu hủy…  
Quyết định xử lý vật chứng của các chủ thể  
có thẩm quyền có hiệu lực thi hành là căn cứ để  
các chủ thể liên quan đến vật chứng nghiêm  
chỉnh chấp hành, chấm dứt việc khiếu kiện, tranh  
chấp đối với vật chứng. Trong một số trường  
hợp, đây cũng là căn cứ để cơ quan Nhà nước có  
thẩm thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu,  
quyền sử dụng tài sản cho công dân... theo quy  
định của pháp luật.  
Lý luận về hình thức xử lý vật chứng dựa vào  
tính chất lâu dài, vĩnh viễn hay tạm thời về địa vị  
pháp lý của vật chứng trong quyết định xử lý vật  
chứng để phân chia thành hai loại là hình thức xử  
lý triệt để và hình thức xử lý tạm thời. Theo đó,  
hình thức xử lý vật chứng triệt để được coi là  
hình thức xử lý lâu dài, vĩnh viễn khi ra quyết  
định về địa vị pháp lý của vật chứng và sẽ không  
bị thay đổi nếu không có vi phạm pháp luật  
nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết mới là thay  
đổi tính vụ án để xét lại vụ án theo thủ tục giám  
đốc thẩm, tái thẩm. Ngược lại, hình thức xử lý  
vật chứng tạm thời là hình thức xử lý vật chứng  
có thể bị thay đổi khi xuất hiện các tình tiết, căn  
cứ làm thay đổi địa vị tính chất pháp lý liên quan  
đến vật chứng so với địa vị pháp của vật chứng  
lúc đầu được ghi nhận trong quyết định xử lý vật  
chứng đã được ban hành. Với cách phân loại này  
thì hình thức xử lý vật chứng tạm thời gồm: bán  
vật chứng theo quy định của pháp luật, tạm giao  
cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp tiếp tục  
khai thác, sử dụng; hình thức xử lý vật chứng  
triệt để bao gồm: trả lại cho chủ sở hữu hoặc  
người quản lý hợp pháp, tịch thu nộp ngân sách  
nhà nước, tịch thu tiêu hủy, giao cho cơ quan  
quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý.  
Thứ ba, việc xử lý vật chứng được thực hiện  
bởi thủ tục tố tụng chặt chẽ, dân chủ, minh bạch,  
rõ ràng  
Thủ tục và cách thức xử lý vật chứng có ảnh  
hưởng lớn đến quyền và lợi ích của những cá  
nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan và quan  
trọng hơn nữa là có ý nghĩa đối với chức năng  
bảo vệ công lý, bảo về quyền con người trong tố  
tụng hình sự, đối với tính dân chủ, công bằng  
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Do đó,  
với cách tiếp cận này, luật TTHS quy định thủ  
tục xử lý vật chứng chặt chẽ, dân chủ, công khai,  
minh bạch trong việc ra quyết định xử lý vật  
chứng, triển khai thực thi các nội dung của quyết  
định xử lý vật chứng. Theo quy định của pháp  
luật Việt Nam, sau khi có quyết định xử lý vật  
chứng của người có thẩm quyền quyết định việc  
xử lý vật chứng, nếu vật chứng chưa được  
chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cùng  
cấp thì việc thi hành quyết định do những người  
tiến hành tố tụng được phân công (Điều tra viên,  
Kiểm sát viên) khi vật chứng được xử lý ở giai  
đoạn điều tra, truy tố. Trường hợp vật chứng đã  
được chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân  
sự cùng cấp thì việc xử lý vật chứng sẽ do cơ  
quan thi hành án thực hiện.  
Xử lý vật chứng là hoạt động tố tụng do đó  
nó phải tuân thủ quy định chung khi tiến hành  
hoạt động tố tụng đó là phải lập biên bản theo  
mẫu thống nhất và lưu vào hồ sơ vụ án. Đối với  
mỗi hình thức xử lý vật chứng lại đòi hỏi phải có  
những yêu cầu riêng về mặt thủ tục để đảm bảo  
việc xử lý vật chứng là khách quan. Ngoài ra, đối  
với mối hình thức xử lý vật chứng, luật TTHS lại  
quy định những thủ tục riêng biệt phù hợp đặc  
điểm của từng loại vật chứng và phương thức xử  
lý vật chứng, chẳng hạn: hình thức xử vật chứng  
là tiền, giấy tờ có giá bị tịch thu nộp vào ngân  
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
5
sách thì khi thực hiện cơ quan xử lý phải tuân  
theo thủ tục: thông báo bằng văn bản và tiến hành  
giao vật chứng đó cho cơ quan tài chính cùng cấp  
biết để tiếp nhận. Khi chuyển giao vật chứng  
phải kèm theo các quyết định liên quan đến việc  
xử lý vật chứng. Việc chuyển giao phải có sự có  
mặt của đại diện cơ quan giao và cơ quan nhận  
vật chứng và phải được lập biên bản, mô tả cụ  
thể thực trạng vật chứng, có chữ ký của người  
đại diện và dấu của cơ quan bên giao, chữ ký của  
người đại diện và dấu của cơ quan bên nhận.  
Trường hợp quyết định tịch thu đã được thi hành  
nhưng sau đó phát hiện có sai lầm và đã được cơ  
quan có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ quyết  
định tịch thu thì cơ quan xử lý và cơ quan tài  
chính đã nhận vật chứng phối hợp để làm thủ tục  
hoàn trả lại số tiền đã nộp vào ngân sách nhà  
nước theo quy định.  
2. “Xử lý vật chứng” trong mối quan hệ với  
“vật chứng” của hoạt động tố tụng hình sự  
i) Vật chứng là một trong những nguồn  
chứng cứ được quy định trong luật tố tụng hình  
sự (Điều 87 BLTTHS năm 2015) và có giá trị  
chứng minh tội phạm, hành vi của người thực  
hiện tội phạm khi vật chứng đó thỏa mãn đầy đủ  
các thuộc tính của vật chứng được quy định trong  
luật TTHS. Đã có nhiều cách định nghĩa vật  
chứng của các nhà nghiên cứu thể hiện trong các  
ấn phẩm được xuất bản [1, 2, 6], tuy nhiên trong  
thực tiễn giải quyết vụ án người ta thường sử  
dụng định nghĩa quy định tại Điều 89 BLTTHS  
năm 2015 “Vật chứng là vật được dùng làm công  
cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội  
phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc  
vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người  
phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết  
vụ án”. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi  
không có ý định bàn về khái niệm vật chứng mà  
chỉ dùng quy định của Điều 89 BLTTHS năm  
2015 để làm rõ mối quan hệ giữa nó với xử lý vật  
chứng. Theo quy định của điều luật này thì vật  
chứng là những vật thể chứa đựng những thông  
tin, dấu vết về tội phạm, thông qua đó có thể xác  
định được sự thật khách quan của và được thu  
thập bằng biện pháp hợp pháp theo quy định của  
pháp luật. Vì vậy, vật chứng khi sử dụng để  
chứng minh tội phạm phải thỏa mãn các thuộc  
tính: Tính khách quan của vật chứng; Tính liên  
quan của vật chứng; Tính hợp pháp của vật  
chứng [1]. Đây là những thuộc tính, đặc điểm  
chung, bất buộc của tất cả các tài liệu được coi  
là chứng cứ, trong đó có vật chứng để chứng  
minh tội phạm. Vì vậy, vật thể được thu giữ nếu  
thiếu một trong những đặc điểm, thuộc tính này  
sẽ không được coi là “vật chứng” và không được  
dùng làm căn cứ đế chứng minh tội phạm.  
Những đặc điểm trên đây thể hiện bản chất  
của hoạt động xử lý vật chứng, do đó, khái niệm  
“xử lý vật chứng” không thể thiếu những nội  
hàm khoa học này. Tuy nhiên, một số khái niệm  
về “xử lý vật chứng” ở một số ấn phẩm xuất bản  
gần đây ở nước ta lại không đề cập hoặc chỉ đề  
cập đến một vài đặc điểm nêu trên. Chẳng hạn,  
Từ điển Luật học đưa ra định nghĩa “xử lý vật  
chứng là xem xét, giải quyết vật chứng đã thu  
thập được” [4]. Một tài liệu khác định nghĩa: “Xử  
lý vật chứng là việc cơ quan, người tiến hành tố  
tụng có thẩm quyền, tùy thuộc vào từng giai đoạn  
tố tụng, căn cứ vào các quy định của pháp luật  
quyết định số phận pháp lý của vật chứng đã  
được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố, xét  
xử” [5].Ở các định nghĩa này, có thể nhận thấy  
nội hàm của khái niệm chưa được làm rõ, không  
chỉ ra được những thuộc tính bản chất của việc  
xử lý vật chứng.  
Vì vậy, với những đặc điểm được phân tích  
trên, có thể hiểu “xử lý vật chứng” như sau: Xử  
lý vật chứng là một trong những hoạt động tố  
tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành  
tố tụng với sự tham gia của các chủ thể khác có  
liên quan nhằm xác định địa vị pháp lý của vật  
chứng thông qua các hình thức xử lý theo thủ tục  
chặt chẽ của pháp luật tố tụng hình sự.  
Vật chứng là phương tiện quan trọng để  
chứng minh tội phạm, giá trị chứng minh của vật  
chứng cao, chứa đựng các dấu vết của tội phạm  
cho nên luật TTHS quy định chặt chẽ thủ tục phát  
hiện, thu thập, bảo quản vật chứng. Nếu không  
tuân thủ hoặc để mất mát, hư hỏng hay bị tiêu  
hủy hoặc đánh tráo sẽ bị xử lý theo quy định của  
pháp luật.  
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
6
Hoạt động chứng minh trong vụ án hình sự  
- Tính chất, đặc điểm, hình thức, kích cỡ, số  
là một quá trình tìm đến sự thật khách quan, quá  
trình tiệm cận chân lý của vụ án. Quá trình này  
thể năng lực tư duy của người có thẩm quyền tiến  
hành tố tụng và những người khác tham gia vào  
quá trình chứng minh giải quyết vụ án hình sự.  
Tư duy chủ quan của những người này đòi hỏi  
phải phù hợp với thực tế diễn biến của vụ án, sự  
tìm tòi, phát hiện, sử dụng chứng cứ để chứng  
minh phải dựa trên cơ sở khách quan, không  
được áp đặt ý muốn chủ quan, suy diễn, duy ý  
chí trong quá trình chứng minh. Nói cách khác,  
hoạt động chứng minh vụ án hình sự thể hiện sự  
phù hợp, tương thích của logic chủ quan đối với  
logic khách quan, diễn biến của vụ án. Khoa học  
pháp lý tố tụng hình sự đã khái quát quá trình đó  
thành các bước: phát hiện, thu thập chứng cứ;  
kiểm tra chứng cứ; đánh giá, sử dụng chứng cứ  
với những yêu cầu, đòi hỏi cụ thể để bảo đảm  
tính khách quan của quá trình chứng minh. Vật  
chứng là nguồn chứng cứ quan trọng trong quá  
trình chứng minh vụ án, bởi vì vật chứng có giá  
trị chứng minh cao, chứa đựng đậm đặc các dấu  
vết của tội phạm. Do đó, luật tố tụng hình sự quy  
định chặt chẽ thủ tục phát hiện, thu thập chứng  
cứ; kiểm tra chứng cứ; đánh giá, sử dụng chứng  
cứ.  
lượng vật chứng thu giữ trong quá trình chứng  
minh vụ án có ảnh hưởng mang tính quyết định  
đến hình thức xử xử lý vật chứng. Vì vậy, pháp  
luật TTTHS quy định nhiều hình thức xử lý vật  
chứng tương ứng, phù hợp với đặc điểm của từng  
loại vật chứng. BLTTHS năm 2015 quy định các  
hình thức xử lý vật chứng gồm: tịch thu nộp ngân  
sách nhà nước; trả lại cho chủ sở hữu hoặc người  
quản lý hợp pháp; tịch thu và tiêu hủy; bán theo  
quy định của pháp luật, không bán được thì tiêu  
hủy; giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có  
thẩm quyền xử lý. Các hình thức xử lý vật chứng  
này sẽ được người có thẩm quyền lựa chọn áp  
dụng cho phù hợp với đặc điểm của từng loại vật  
chứng, chẳng hạn: Đối với vật chứng là kho tàng,  
nhà xưởng, khách sạn, nhà, đất, cũng như các  
phương tiện sản xuất, kinh doanh khác, thì tuỳ  
từng giai đoạn tố tụng, cơ quan điều tra, Viện  
kiểm sát, Toà án đang thụ lý, giải quyết vụ án  
có thể giao tài sản đó cho chủ sở hữu hoặc  
người quản lý hợp pháp tiếp tục khai thác, sử  
dụng, nếu xét thấy những tài sản đó có khả  
năng sinh lời. Hoặc hình thức bán tài sản là vật  
chứng theo quy định của pháp luật được áp  
dụng đối với vật chứng thuộc loại mau hỏng  
hoặc khó bảo quản…  
ii) Xử lý vật chứng là một trong những hoạt  
động tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền  
tiến hành tố tụng với sự tham gia của các chủ thể  
khác có liên quan nhằm xác định địa vị pháp của  
vật chứng thông qua các hình thức xử lý theo thủ  
tục chặt chẽ của pháp luật tố tụng hình sự. Như  
vậy, xử lý vật chứng là một quá trình, bao gồm  
nhiều hành vi của TTHS được thực hiện đan xen  
hoặc sau khi vụ án kết thúc, nhưng có vai trò, ý  
nghĩa khác với quá trình chứng minh tội phạm.  
Nếu như vật chứng được thu giữ, kiểm tra, đánh  
giá được dùng làm căn cứ để chứng minh tội  
phạm, hành vi của người thực hiện tội phạm và  
các tình tiết khác có liên quan đến vụ án thì xử  
lý vật chứng chỉ có vai trò xác định địa vị pháp  
lý của vật chứng sau khi đã hoàn thành vai trò  
chứng minh. Tuy là hai quá trình khác nhau  
nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ biện chứng,  
ràng buộc lẫn nhau. Mối quan hệ biện chứng này  
thể hiện ở những khía cạnh sau:  
Những phân tích trên đây cho thấy tính  
chất, đặc điểm, hình thức, kích cỡ, số lượng vật  
chứng thu giữ trong quá trình chứng minh vụ  
án có ảnh hưởng mang tính quyết định đến  
hình thức xử lý vật chứng, đã khẳng định mối  
quan hệ biện chứng, trong đó những dấu hiệu  
thuộc về bản chất của vật chứng quyết định  
hình thức xử lý vật chứng.  
- Quá trình và hình thức xử vật chứng chỉ  
được tiến hành sau quá trình chứng minh giải  
quyết vụ án. Như đã phân tích ở các phần trên,  
việc thu thập, kiểm tra, đánh giá vật chứng trong  
trình chứng minh có vai trò làm sáng tỏ tội phạm  
và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án một  
cách khách quan. Do vậy, chỉ sau khi “vật  
chứng” hoàn thành vai trò được sử dụng làm căn  
cứ chứng minh này thì quá trình “xử lý vật  
chứng” mới được tiến hành. Nói cách khác, quá  
trình sử dụng vật chứng làm căn cứ chứng minh  
và xử lý vật chứng là hai quá trình trong tiến trình  
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
7
tố tụng giải quyết vụ án hình sự xảy ra kế tiếp  
nhau, trong đó, quá trình xử lý vật chứng được  
thực hiện sau, phụ thuộc vào quá trình chứng  
minh.  
xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Như  
vậy, thẩm quyền xử lý vật chứng được giao cho  
tất cả các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng ở mọi giai đoạn tố tụng giải quyết vụ án.  
- Tuy xử lý vật chứng ở vị trí phụ thuộc của  
“người đến sau” nhưng lại có vai trò ảnh hưởng  
tới việc củng cố, làm gia tăng giá trị chứng minh  
của vật chứng và những ý nghĩa về pháp lý, kinh  
tế, xã hội khác. Mối quan hệ tác động trở lại của  
“xử lý vật chứng” đến quá trình chứng minh thể  
hiện ở những khía cạnh sau: Thông qua hoạt  
động xử lý vật chứng, khẳng định tính khách  
quan, có căn cứ của vật chứng được dùng làm  
căn cứ chứng minh giải quyết vụ án; hoạt động  
xử lý vật chứng đúng đắn góp phần nâng cao  
hiệu quả, hiệu lực của hoạt động TTHS là một  
trong những mục tiêu của chiến lược Cải cách tư  
pháp đề ra; góp phần bảo đảm an ninh quốc gia,  
trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội;  
tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tiễn giải  
quyết vụ án.  
- Các hình thức xử lý vật chứng. BLTTHS  
năm 2015 quy định về các hình thức xử lý vật  
chứng gồm có: tịch thu nộp ngân sách nhà nước;  
trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp  
pháp; tịch thu và tiêu hủy; bán theo quy định của  
pháp luật, không bán được thì thì tiêu hủy; giao  
cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm  
quyền xử lý. Quy định này của BLTTHS năm  
2015 đã có sự kế thừa từ quy định tại Điều 76  
của BLTTHS năm 2003 và với nhiều sửa đổi bổ  
sung cho phù hợp với thực tiến đấu tranh, xử lý  
tội phạm.  
- Một số quy định khác liên quan đến xử lý  
vật chứng. Những quy định khác liên quan đến  
xử lý vật chứng bao gồm: (i) Trả lại đồ vật, tài  
liệu không phải là vật chứng quy định tại điểm a  
khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Theo đó,  
tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là  
vật chứng phải trả ngay cho chủ sở hữu hoặc  
người quản lý hợp pháp tài sản đó. Quy định này  
được bổ sung mới so với quy định tại Điều 76  
BLTTHS năm 2003; (ii) Giải quyết tranh chấp  
quyền sở hữu đối với vật chứng. Khoản 4, Điều  
106 BLTTHS năm 2015 quy định: “Trường hợp  
có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng  
thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố  
tụng dân sự”.  
3. Pháp luật Việt Nam về xử lý vật chứng  
Bộ luật TTHS năm 2015 và các văn bản pháp  
luật có liên quan khác đã hình hành khung pháp  
lý cho việc xử lý vật chứng trong quá trình tiến  
hành tố tụng giải quyết vụ án. Những văn bản  
này không những kế thừa pháp luật về xử lý vật  
chứng ở các giai đoạn trước mà còn thể hiện, cụ  
thể hóa định hướng cải cách tư pháp của Đảng,  
nhà nước ta cũng như chia sẻ, tham khảo kinh  
nghiệm quốc tế và một số quốc gia trên thế giới.  
Dó đó, về cơ bản khung pháp lý xử lý vật chứng  
trong tố tụng hình sự nước phù hợp với thực tế  
đấu tranh xử lý tội phạm, thể hiện ở những nội  
dung chính sau đây:  
- Thẩm quyền xử lý vật chứng được quy định  
tại khoản 1 Điều 106 BLTTHS năm 2015, theo  
đó, việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ  
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt  
động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ  
ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định  
nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do  
Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình  
chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét  
4. Một số hạn chế trong thực tiễn xử lý vật  
chứng những năm qua  
Những năm qua, việc xử lý vật chứng đã góp  
phần quan trọng vào việc khôi phục lại quyền sở  
hữu cho chủ sở hữu, quyền chiếm hữu cho người  
quản lý hợp pháp; xóa bỏ điều kiện phạm tội,  
động cơ phạm tội thông qua việc tịch thu sung  
quỹ nhà nước đối với các tài sản là công cụ,  
phương tiện phạm tội và các tài sản do phạm tội  
mà có; đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất các  
thiệt hại có thể gây ra cho các cơ quan, tổ chức,  
cá nhân có liên quan thông qua việc nhanh chóng  
bán các tài sản mau hỏng, khó bảo quản, tạm giao  
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
8
vật chứng… Tuy nhiên, hoạt động này cũng bộc  
lộ một số hạn chế sau:  
chính, Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn một số  
vấn đề về bảo quản, xử lý tài sản là vật chứng,  
tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố,  
xét xử vụ án hình sự đã hướng dẫn đối với hình  
thức xử lý này phải là bán đấu giá. Tuy nhiên  
thực tiễn có nơi không bán đấu giá, có nơi tổ  
chức bán đấu giá nhưng lại vi phạm quy trình,  
thủ tục bán đấu giá. Trong một vụ án buôn lậu  
xăng dầu, khi bán vật chứng của vụ án cơ quan  
tiến hành tố tụng không tổ chức bán đấu giá mà  
bán số xăng dầu bằng hình thức tham khảo giá  
dẫn đến giá bán thực tế thấp hơn rất nhiều so với  
giá bán xăng dầu tại thời điểm đó [11].  
- Nhầm lẫn giữa xử lý vật chứng và biện pháp  
tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến  
tội phạm và trả lại tài sản. Điều 47 BLHS năm  
2015 có quy định về tịch thu vật, tiền trực tiếp  
liên quan đến tội phạm và Điều 48 BLHS năm  
2015 quy định về trả lại tài sản, sửa chữa hoặc  
bồi thường thiệt hại, theo đó người phạm tội phải  
trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc  
người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi  
thường thiệt hại vật chất đã được xác định do  
hành vi phạm tội gây ra. Có thể nhận thấy, quy  
định về 02 biện pháp tư pháp nêu trên có nhiều  
điểm rất giống với quy định về xử lý vật chứng  
tại Điều 106 BLTTHS năm 2015 nên trong thực  
tiễn dễ bị nhầm lẫn.  
- Việc tịch thu nộp vật chứng vào ngân sách  
nhà nước còn tình trạng chưa đúng quy định của  
pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của  
người khác. Thực tiễn đã chỉ ra, nguyên tắc bảo  
đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của  
cá nhân, tổ chức được quy định trong Hiến pháp  
năm 2013 chưa được thực hiện nghiêm chỉnh  
trong hoạt động xử lý vật chứng, còn xảy ra vi  
phạm. Những vi phạm này thường ở dạng tịch  
thu sung công quỹ cả những tài sản không liên  
quan đến việc thực hiện tội phạm, chẳng hạn:  
Trong các vụ án về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh  
bạc, các đối tượng sử dụng xe máy làm phương  
tiện đi lại đi đến địa điểm đánh bạc và gửi xe ở  
gần nơi đánh bạc, không trực tiếp sử dụng xe  
máy vào việc đánh bạc nhưng bản án cấp sơ thẩm  
[7] và phúc thẩm [8] đều tuyên tịch thu sung quỹ  
nhà nước. Quyết định giám đốc thầm [9] đã hủy  
một phần bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm  
để xét xử lại theo hướng trả lại các xe máy trên  
cho các bị cáo.  
- Trả lại vật chứng không đúng quy định của  
pháp luật, tài sản là phương tiện, công cụ phạm  
tội nhưng lại được cơ quan có thẩm quyền tiến  
hành tố tụng trả lại cho chủ sở cũng chính là  
người thực hiện tội phạm.  
Những hạn chế trong việc xử lý vật chứng  
nêu trên có nhiều nguyên nhân trong đó có sự bất  
cập từ quy định của pháp luật, như: Thiếu quy  
định về căn cứ để xử lý đối với một số vật chứng,  
hoặc một vật chứng có thể vận dụng nhiều căn  
cứ để xử lý; Pháp luật quy định chưa rõ ràng nên  
gây khó khăn khi xác định vật chứng thuộc loại  
nào để xử lý cho phù hợp do quy định về các hình  
thức xử lý vật chứng; Thiếu quy định về việc xử  
lý vật chứng trong một số trường hợp đặc biệt,  
như: vật chứng không thuộc sở hữu của một chủ  
sở hữu duy nhất mà là tài sản chung của hai hay  
nhiều người, khi đó việc xử lý vật chứng sẽ  
tương đối phức tạp hoặc đối với vật chứng là tài  
sản đang được sử dụng để đảm bảo cho việc thực  
hiện nghĩa vụ. Yêu cầu đối với quy định của pháp  
luật về xử lý vật chứng là cần bảo đảm việc xử  
lý vật chứng trong mọi trường hợp đều phải đảm  
bảo tính có căn cứ. Nếu cùng một loại vật chứng  
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không đúng  
quy định của pháp luật. Vật chứng không có giá  
trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu tiêu  
hủy, tuy nhiên một số vụ án do đánh giá chủ quan  
của người tiến hành tố tụng nên đã xử lý vật  
chứng không đúng. Trong một vụ án về tội hiếp  
dâm, Cơ quan điều tra có thu tinh dịch trong âm  
đạo của người bị hại và lông, tóc của người bị  
buộc tội nhưng lại không cho giám định mà lại  
tự ý tiêu hủy bằng cách đốt với lý do Cơ quan  
điều tra cho rằng mẫu vật không đảm bảo để  
giám định [10].  
- Bán vật chứng không đúng quy định của  
pháp luật. BLTTHS năm 2015 không quy định  
hình thức bán hàng hóa mau hỏng khó bảo quản  
là bán thông thường hay bán đấu giá, tuy nhiên  
tại mục 6, 7 phần I Thông tư liên tịch số 06 ngày  
24/10/1998 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện  
kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tài  
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
9
có thể được xử lý bằng nhiều hình thức xử lý  
khác nhau thì pháp luật cần chỉ rõ khi nào được  
áp dụng hình thức nào. Quy định hình thức xử lý  
vật chứng không rõ ràng, thiếu chặt chẽ sẽ dẫn  
đến khó khăn, sai lầm khi áp dụng.  
cho cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp. Vật  
chứng là đối tượng của tội phạm thì trả lại cho  
chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp; tịch thu tiêu  
hủy; tịch thu nộp ngân sách nhà nước hoặc giao  
cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm  
quyền xử lý. Vật chứng là vật khác có giá trị  
chứng minh tội phạm và người phạm tội thì tịch  
thu nộp ngân sách nhà nước; trả lại cho chủ sở  
hữu, người quản lý hợp pháp hoặc tịch thu tiêu  
hủy. Bổ sung quy định này sẽ bảo đảm thuận tiện  
khi áp dụng pháp luật khi xử lý vật chứng, tránh  
được tình trạng nhầm lẫn hoặc lợi dụng trong quá  
trình xử lý vật chứng của người có thẩm quyền  
tiến hành tố tụng.  
Thứ hai, bổ sung quy định để chi tiết hóa  
trường hợp một loại vật chứng có thể xử lý được  
theo nhiều hình thức theo hướng phải quy định  
rõ các điều kiện kèm theo để đảm bảo một vật  
chứng trong một tình huống cụ thể chỉ có thể áp  
dụng một hình thức xử lý. Như đã phân tích nêu  
trên, các loại vật chứng đều có thể áp dụng được  
nhiều hơn một cách thức xử lý, do đó đều cần  
được quy định rõ các điều kiện kèm theo khi áp  
dụng. Cụ thể là:  
Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội  
thuộc sở hữu của người phạm tội thì tịch thu nộp  
ngân sách nhà nước nếu có giá trị, tịch thu tiêu  
hủy nếu không có giá trị; thuộc sở hữu của người  
khác nếu người này không có lỗi trong việc quản  
lý thì trả lại, nếu có lỗi thì tịch thu nộp ngân sách  
nhà nước.  
Vật chứng là đối tượng của tội phạm nếu là  
tài sản thông thường bị người phạm tội chiếm  
đoạt thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản  
lý hợp pháp, nếu là vật cấm lưu hành thì giao cho  
cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử  
lý đối với một số vật chứng đặc biệt, tịch thu nộp  
ngân sách nhà nước đối với những tài sản có giá  
trị, tịch thu tiêu hủy đối với những vật không có  
giá trị.  
Như vậy, thực tiễn áp dụng các quy định về  
xử lý vật chứng đã phát sinh một số vướng mắc,  
bất cập cần sửa đổi, bổ sung như: một số vật  
chứng không có căn cứ để xử lý hoặc có thể được  
xử lý theo nhiều căn cứ khác nhau; khó khăn khi  
xác định vật chứng thuộc loại nào để xử lý cho  
phù hợp do quy định về các hình thức xử lý vật  
chứng không rõ ràng, chưa chặt chẽ; thiếu quy  
định về việc xử lý vật chứng trong một số trường  
hợp đặc biệt. Một số sai sót của cơ quan có thẩm  
quyền khi xử lý vật chứng như: áp dụng các hình  
thức không đúng quy định của pháp luật gây thiệt  
hại đến lợi ích hợp pháp Nhà nước, của công dân;  
nhầm lẫn giữa xử lý vật chứng và biện pháp tư  
pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội  
phạm và trả lại tài sản.  
5. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của  
pháp luật về xử lý vật chứng  
Những hạn chế trong thực tiễn xử lý vật  
chứng của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến  
hành tố tụng đã ảnh hưởng đến hiệu quả giải  
quyết vụ án hình sự. Do đó, trên cơ sở định  
hướng cải cách tư pháp, trên cơ sở chính sách  
pháp luật của nhà nước ta trong giai đoạn hiện  
nay theo hướng bảo đảm xử lý vật chứng đúng  
pháp luật, chính xác, tôn trọng quyền sở hữu hợp  
pháp tài sản của chủ sở hữu, hạn chế các ảnh  
hưởng tiêu cực của hoạt động xử lý vật chứng  
đến sản xuất, kinh doanh, bài viết này đưa ra một  
số kiến nghị sau:  
Thứ nhất, cần bổ sung quy định về hình thức  
xử lý vật chứng có thể được áp dụng đối với từng  
loại vật chứng được quy định tại Điều 89  
BLTTHS (vật chứng). Cụ thể là: Vật chứng là  
vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm  
tội thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; tịch  
thu tiêu hủy hoặc trả lại cho chủ sở hữu, người  
quản lý hợp pháp. Vật chứng là vật mang dấu vết  
của tội phạm thì bị tịch thu tiêu hủy hoặc trả lại  
Vật chứng là vật mang dấu vết tội phạm nếu  
không có giá trị thì tịch thu tiêu hủy, nếu có giá  
trị thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc tịch thu sung  
công nếu không xác định được chủ sở hữu.  
Vật chứng là vật khác có giá trị chứng minh  
tội phạm và người phạm tội nếu do phạm tội mà  
có thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước, nếu  
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
10  
không do phạm tội mà có thì trả lại cho chủ sở  
hữu [12].  
nước, nghĩa vụ đang được bảo đảm thực hiện  
bằng tài sản là sẽ chuyển thành nghĩa vụ không  
có bảo đảm [13].  
Thứ ba, hoàn thiện quy định về các hình thức  
xử lý vật chứng đảm bảo chặt chẽ về mặt cấu trúc  
và cụ thể đối với từng hình thức xử lý. Theo đó,  
cần sửa đổi cấu trúc của khoản 2, khoản 3 Điều  
106 BLTTHS năm 2015 như sau: “2.Vật chứng  
được xử lý như sau: a) Tịch thu, nộp ngân sách  
nhà nước; b) Tịch thu, tiêu hủy; c) Trả lại cho  
chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; d) Giao  
cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm  
quyền xử lý; đ) Bán theo quy định của pháp luật;  
e) Tạm giao cho chủ sở hữu, người quản lý hợp  
pháp tiếp tục khai thác, sử dụng”. Đối với những  
vật chứng được bán theo quy định của pháp luật  
hoặc tạm giao cho chủ sở hữu, người quản lý hợp  
pháp tiếp tục khai thác, sử dụng thì quá trình giải  
quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ  
theo kết quả điều tra, xác minh để quyết định xử  
lý triệt để bằng hình thức: tịch thu, nộp ngân sách  
nhà nước; tịch thu, tiêu hủy hoặc trả lại cho chủ  
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.  
Thứ tư, đối với trường hợp vật chứng không  
thuộc sở hữu của một chủ sở hữu duy nhất mà là  
tài sản chung của hai hay nhiều người, cần có  
quy định hướng dẫn việc xử lý vật chứng trong  
trường hợp này. Theo quan điểm của tác giả, xử  
lý vật chứng là tài sản chung cần căn cứ quy định  
của Bộ luật dân sự năm 2015 về sở hữu chung và  
chia tài sản thuộc sở hữu chung. Theo đó, trước  
tiên làm rõ vật chứng đó là tài sản thuộc sở hữu  
chung có thể phân chia hay là tài sản thuộc sở  
hữu chung không thể phân chia bằng hiện vật.  
Nếu tài sản chung có thể phân chia mà xác định  
tài sản đó thuộc trường hợp phải tịch thu nộp  
ngân sách nhà nước thì phải tịch thu nộp ngân  
sách phần tài sản của người phạm tội. Nếu là tài  
sản chung không phân chia được bằng hiện vật  
mà xác định cần phải tịch thu nộp ngân sách nhà  
nước thì bán phần quyền sở hữu của người phạm  
tội và tịch thu số tiền bán được nộp ngân sách  
nhà nước.  
Thứ sáu, đối với vật chứng là tài sản chưa  
xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý  
hợp pháp cần quy định thời hạn và cách thức  
niêm yết thông báo tìm kiếm. Không thể áp dụng  
tương tự pháp luật dân sự về xác lập quyền sở  
hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở  
hữu để xử lý đối với vật chứng của vụ án mà cần  
phải ban hành một quy định riêng, cụ thể về cách  
thức thông báo và thời hạn thông báo để đảm bảo  
tính khách quan và bảo đảm quyền và lợi ích của  
chủ sở hữu tài sản trong trường hợp này.  
Thứ bảy, cần ban hành thông tư hướng dẫn  
cụ thể, chi tiết đối với từng hình thức xử lý vật  
chứng về trình tự, thủ tục và điều kiện áp dụng.  
Nội dung của thông tư này cần hướng dẫn xác  
định vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội  
trong những trường hợp cụ thể thường gặp như:  
xe máy dùng để đi đánh bạc, ngôi nhà sử dụng  
để hoạt động mại dâm có phải là công cụ,  
phương tiện phạm tội hay không; nếu những tài  
sản này được xác định là công cụ, phương tiện  
phạm tội và thuộc sở hữu của người phạm tội thì  
có được tịch thu nộp ngân sách nhà nước hay  
không./.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyễn  
Ngọc Chí – Lê Lan Chi (đồng chủ biên), Giáo trình  
Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc  
gia Hà Nội, Hà Nội (2019).  
[2] V. X. Thao, Đối tượng chứng minh trong vụ án  
hình sự, Luận án tiến sỹ luật học - Khoa Luật, Đại  
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2020.  
[3] H. T. Thơ, Xử lý vật chứng khi xét xử vụ án hình  
sự - bất cập và kiến nghị, Tạp chí điện tử Tòa án  
luat/xu-ly-vat-chung-khi-xet-xu-vu-an-hinh-su-  
bat-cap-va-kien-nghi (truy cập ngày 19/8/2021).  
[4] Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Từ điển luật  
học, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006.  
[5] H. Quân, Bàn về xử lý vật chứng trong một số  
trường hợp pháp luật chưa có quy định,  
trao-doi.aspx?ItemID=2591(truycậpngày27/8/2021).  
Thứ năm, đối với vật chứng là tài sản đang  
được sử dụng để đảm bảo cho việc thực hiện  
nghĩa vụ cần bổ sung quy định nếu xác định tài  
sản là vật chứng thuộc loại phải tịch thu nộp ngân  
sách nhà nước thì tịch thu nộp ngân sách nhà  
N.N. Chi, B. T. T. Huong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 38, No. 1 (2022) 1-11  
11  
[6] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố  
tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an Nhân dân,  
Hà Nội, 2018.  
[10] Dương Thanh Biểu (2008), Tranh luận tại phiên tòa  
phúc thẩm, NXB Tư pháp, Hà Nội.  
[11] Thái Chí Bình, Hoàn thiện quy định về vật chứng  
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí  
Nghiên cứu lập pháp, số 17, 2012, tr.30-42.  
[12] Đặng Văn Quý, Bàn về khái niệm vật chứng trong  
luật TTHS Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số  
2/2010.  
[13] Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu  
(2008), Kháng nghị phúc thẩm số 210/VKS ngày  
18/4/2008.  
[7] Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc - tỉnh Đồng  
Tháp, Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2017/HSST  
ngày 01/9/2017.  
[8] Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc - tỉnh Đồng Tháp,  
Bản án hình sự phúc thẩm số 359/2017/HSPT ngày  
12/12/2017.  
[9] Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí  
Minh, Quyết định giám đốc thẩm số 04/2019/HS-  
GĐT ngày 19/02/2019.  
pdf 11 trang Thùy Anh 11600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xử lý vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án theo luật tố tụng hình sự Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxu_ly_vat_chung_trong_qua_trinh_giai_quyet_vu_an_theo_luat_t.pdf