Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo công ước CISG 1980 và luật thương mại Việt Nam

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG  
THEO CÔNG ƯỚC CISG 1980 VÀ LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM  
LÊ THỊ THẢO*  
Bài viết phân tích những quy định của Công ước Viên 1980 (Công ước của Liên hợp quốc về  
mua bán hàng hóa quốc tế - CISG) và Luật thương mại Việt Nam về vấn đề bồi thường thiệt  
hại, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam tương thích  
với luật thương mại quốc tế về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.  
Từ khóa: CISG, Luật thương mại Việt Nam, bồi thường thiệt hại.  
Ngày nhận bài: 19/3/2021; Biên tập xong: 29/3/2021; Duyệt đăng: 10/4/2021  
The article analyzes the provisions of The United Nations Convention on Contracts  
for the International Sale of Goods (Viena, 1980 - CISG) and Vietnamese Commercial  
Law on damages compensation, then proposes solutions to improve Vietnamese law to be  
compatible with international commercial law on damages compensation in the contract for  
the international sale of goods.  
Keywords: CISG, Vietnamese Commercial Law, damages compensation.  
ợp đồng thương mại quốc tế là cơ sở pháp thiệt hại ra sao, xác định mức bồi thường thiệt hại  
lý trong hoạt động giao thương quốc tế  
được xác lập dựa trên quy định luật của  
như thế nào và các trường hợp nào được miễn  
trách nhiệm bồi thường thiệt hại…  
H
các quốc gia (luật riêng) và luật của các quốc  
gia cùng tham gia (luật chung – công ước CISG  
1980, Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng mua  
bán hàng hóa quốc tế, Luật về nguyên tắc giao kết  
hợp đồng của Châu Âu (Principles of European  
Contract Law – PECL), luật nước người bán, luật  
nước người mua, luật của nước thứ ba nơi giao kết  
hợp đồng...). Để tham gia trong “sân chơi chung”  
đòi hỏi pháp luật các quốc gia - luật riêng cần nội  
luật hóa các quy định của luật chung - các Công  
ước quốc tế mà các quốc gia tham gia để vừa bảo  
đảm quyền lợi của “công dân kinh doanh” và phù  
hợp lợi ích quốc gia, vừa bảo đảm quy định chung  
của các quốc gia trong “sân chơi chung” đó. Theo  
thống kê thương mại của WTO, 09 trong số 10  
quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu lớn nhất là các  
quốc gia kí kết CISG, 10 quốc gia này chiếm hơn  
50% thương mại quốc tế.1 Theo đó, hợp đồng mua  
bán hàng hóa quốc tế chiếm phần lớn các hợp  
đồng quốc tế liên quan đến thương mại. Trong  
quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế, vấn đề bồi  
thường thiệt hại là vấn đề liên quan trực tiếp tới  
quyền và lợi ích của các bên. Bồi thường thiệt hại  
do vi phạm hợp đồng là biện pháp pháp lý quan  
trọng có vai trò bù đắp cho bên bị thiệt hại (bên  
có quyền) những tổn thất là hậu quả của hành vi  
vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, các hệ thống pháp  
luật khác nhau có những khác biệt về biện pháp  
này, chẳng hạn như: Đối tượng thiệt hại nào được  
Luật thương mại (LTM) Việt Nam năm 2005  
quy định về chế tài bồi thường thiệt hại tại Điều  
302 và sẽ được áp dụng cho hợp đồng mua bán  
hàng hóa quốc tế khi luật điều chỉnh hợp đồng  
là luật Việt Nam. “1. Bồi thường thiệt hại là việc  
bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi  
phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. 2. Giá trị bồi  
thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực  
tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra  
và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được  
hưởng nếu không có hành vi vi phạm”.  
Điều 74 Công ước CISG đưa ra khung cơ bản  
cho việc đền bù thiệt hại: “Thiệt hại do vi phạm hợp  
đồng của một bên là tổng số các tổn thất kể cả lợi tức bị  
mất, mà bên kia phải chịu do hậu quả của việc vi phạm  
hợp đồng. Những thiệt hại như vậy không thể vượt quá  
tổn thất mà bên vi phạm hợp đồng đã dự đoán được  
hoặc buộc phải dự đoán được trong thời điểm ký kết  
hợp đồng như là hậu quả có thể xảy ra của vi phạm hợp  
đồng đó, trên cơ sở các thông tin và tình tiết mà bên vi  
phạm hợp đồng đã biết hoặc phải biết vào thời điểm đó”.  
Như vậy, so sánh quy định của CISG và LTM  
Việt Nam, chế tài bồi thường thiệt hại trong quan  
* Tiến sĩ, Phó trưởng khoa Luật Kinh tế, Trường Đại  
học Luật, Đại học Huế  
1ꢀ Nguồn truy cập: hꢁps://www.wto.org/english/  
res_e/statis_e/wts2016_e/WTO_Chapter_09_  
bồi thường, căn cứ áp dụng biện pháp bồi thường tables_e.pdf (last accessd 30 August 2017).  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 141  
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG...  
hệ hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và với hoàn cảnh5.  
CISG được xác định dưới các phương diện: (i) Về  
Điều 302 LTM năm 2005 quy định: (1) Bồi  
phạm vi thiệt hại được bồi thường; (ii) Về dự tính  
thiệt hại xảy ra; (iii) Về giá trị tính toán của các  
khoản bồi thường; (iv) Về nghĩa vụ chứng minh  
thiệt hại; (v) Về tiền lãi. Từ đó, tác giả đưa ra một  
số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam tương  
thích với các quy định quốc tế điều chỉnh về hợp  
đồng mua bán hàng hóa quốc tế.  
1. Quy định về căn cứ xác định trách nhiệm  
bồi thường và nguyên tắc bồi thường thiệt hại  
trong hợp đồng thương mại quốc tế  
thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường  
những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây  
ra cho bên bị vi phạm; (2) Giá trị bồi thường thiệt  
hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà  
bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra  
và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ  
được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Như  
vậy, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại  
trên cơ sở: (i) Có hành vi vi phạm hợp đồng (sự vi  
phạm hợp đồng này có thể biểu hiện qua không  
thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ  
hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ đã giao kết trong  
hợp đồng); (ii) Có tổn thất, thiệt hại xảy ra trên  
thực tế; (iii) Hành vi vi pham hợp đồng là nguyên  
nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.  
Hợp đồng thương mại quốc tế là hợp đồng  
mua bán có tính chất quốc tế (yếu tố nước ngoài,  
nhân tố nước ngoài). Theo CISG, tính chất quốc  
tế được xác định theo tiêu chí là bên giao kết hợp  
đồng có trụ sở thương mại đặt ở các quốc gia  
khác nhau2. Pháp luật Việt Nam không ghi nhận  
trực tiếp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế  
nhưng Điều 27 LTM năm 2005 quy định: “Mua  
bán hàng hóa quốc tế được thể hiện dưới hình thức:  
xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất,  
tái nhập và chuyển khẩu”3. Như vậy, tính chất quốc  
tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo  
pháp luật Việt Nam được xác định theo tiêu chí là  
đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa khi ra  
vào lãnh thổ Việt Nam, đó là “sự chuyển giao hàng  
hóa qua biên giới”. Và bồi thường thiệt hại chính là  
một chế định quan trọng trong hợp đồng mua bán  
hàng hóa quốc tế.  
Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương  
mại quốc tế được thống nhất theo nguyên  
tắc:“Người gây ra thiệt hại thì phải bồi thường”. Đây  
là một hình thức trách nhiệm do không thực hiện  
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của hợp  
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, được tất cả các  
nước trên thế giới áp dụng4. Theo CISG, việc giải  
quyết bồi thường thiệt hại theo 04 điều khoản của  
Công ước (từ Điều 74 đến Điều 77). Với quy định  
tại Điều 74 của CISG thì bồi thường thiệt hại bao  
gồm 02 nguyên tắc: Bồi thường đầy đủ và giới  
hạn trách nhiệm theo quy tắc có thể thấy trước.  
CISG không phân biệt thiệt hại bằng tiền hay  
không bằng tiền và không cấm bồi thường quá  
mức. Điều 74 trao cho Tòa án thẩm quyền rộng rãi  
trong việc giải quyết thiệt hại theo cách phù hợp  
Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại, cả LTM  
Việt Nam và Công ước CISG đều ghi nhận 02  
nguyên tắc: Bồi thường đầy đủ và giới hạn trách  
nhiệm theo quy tắc có thể thấy trước (tính dự  
đoán được thiệt hại bồi thường).  
2. Quy định về phạm vi thiệt hại được bồi  
thường trong hợp đồng thương mại quốc tế  
CISG và LTM năm 2005 đều giới hạn phạm vi  
thiệt hại được đền bù. LTM Việt Nam quy định  
giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm 02 loại là: Tổn  
thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi đáng lẽ được  
hưởng. Theo Điều 74 CISG, có 02 loại thiệt hại  
được bồi thường bao gồm: (i) Tổn thất mà bên bị  
vi phạm đã gánh chịu. Trong thực tế, thiệt hại xảy  
ra do vi phạm hợp đồng thường sẽ là: Những tài  
sản bị mất mát hoặc bị hủy hoại hoàn toàn, những  
hư hỏng, giảm sút về tài sản, chi phí mà bên bị vi  
phạm trong hợp đồng phải bỏ ra để ngăn chặn,  
hạn chế và khắc phục những hậu quả do bên vi  
phạm hợp đồng gây ra (ví dụ: Chi phí sửa chữa  
hàng hóa hư hỏng); người mua không thể đòi lại  
khoản lợi nhuận bị mất nếu người mua không  
thông báo theo Điều 44 Công ước CISG, tại Điều 5  
Công ước này còn quy định loại trừ việc áp dụng  
Công ước cho những thiệt hại do người chết hoặc  
bị thương; (ii) Khoản lợi bị bỏ lỡ (thu nhập thực tế  
bị mất, bị giảm sút) đối với bên bị vi phạm, là hậu  
quả của sự vi phạm hợp đồng6. Lợi nhuận bị mất  
cần được xác lập một cách hợp lý.  
LTM Việt Nam quy định giá trị bồi thường  
thiệt hại bao gồm 02 loại là tổn thất thực tế, trực  
2ꢀ Điều 1, CISG 1980.  
3ꢀ Xem thêm quy định tại Điều 28, Điều 29, Điều 30  
Luật thương mại Việt Nam năm 2005.  
5ꢀ Điều 70, Dự thảo Công ước năm 1978 (Secretariat  
4ꢀ Văn phòng Luật sư Bình Tân, Chế định bồi thường Commentary on the 1978 Draft). Link: cisg online.  
thiệt hại trong hợp đồng thương mại quốc tế. Link: hꢁp:// ch/index.cfm?pageID=644#Article%2070  
www.luatbinhtan.com/che-dinh-boi-thuong-thiet- 6ꢀ Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.edu/  
hai-trong-hop-dong-thuong-mai-quoc-te.html  
cases/960122c1.html  
142 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
LÊ THỊ THẢO  
tiếp và khoản lợi đáng lẽ được hưởng. Theo khoản một cách hợp lý, người mua hiểu rằng họ được  
2 Điều 302 LTM năm 2005, giá trị bồi thường thiệt cho một thời hạn bổ sung hợp lý để thực hiện hợp  
hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà đồng, chiếu theo Điều 63 CISG. Như vậy, tính  
bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra dự đoán trước của thiệt hại đối với bên vi phạm  
và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được CISG nhấn mạnh (tại Điều 25 và Điều 74).  
được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Trách Một bên khi áp dụng một hành động đối phó hay  
nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định do sự một biện pháp bảo hộ hợp lý với một vi phạm hợp  
thỏa thuận của các bên, có thể là một khoản tiền đồng của bên kia cần phải thông báo cho họ, tránh  
ấn định trước hoặc xác định theo hậu quả thực tế. trường hợp họ viện dẫn là không thể lường trước  
được thiệt hại. Pháp luật Việt Nam chưa có những  
Như vậy, trong việc nội luật hóa, LTM Việt  
quy định tương tự, vì thế các doanh nghiệp Việt  
Nam nên quy định giới hạn khoản bồi thường  
Nam cần chú ý nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.  
thiệt hại, đó là số tiền bồi thường thiệt hại không  
Điều 302 LTM Việt Nam có quy định về tính trực  
cao hơn giá trị tổn thất và khoản lợi đáng lẽ được  
tiếp, thực tế của thiệt hại mà không nói rõ về tính  
hưởng để việc bồi thường thiệt hại bảo đảm triết  
dự đoán trước.  
lý không được làm lợi cho bên có quyền.  
Về giá trị tính toán của các khoản bồi thường thiệt  
3. Quy định về tính dự đoán trước và giá trị  
hại: Điều 75 CISG đưa ra cách tính toán thiệt hại  
tính toán của thiệt hại được bồi thường trong  
trong trường hợp hợp đồng bị hủy và bên bị vi  
hợp đồng thương mại quốc tế  
phạm đã ký một hợp đồng thay thế. Lúc này, bên  
Về tính dự đoán trước: Theo CISG, các thiệt hại  
bị thiệt hại sẽ được bồi thường khoản chênh lệch  
được bồi thường không thể cao hơn những tổn  
giữa giá theo hợp đồng và giá của giao dịch thay  
thất và khoản lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm có khả  
thế. Điều 76 đưa ra cách tính toán thiệt hại trong  
năng đã dự liệu được vào lúc giao kết hợp đồng  
trường hợp hủy hợp đồng nhưng bên bị thiệt hại  
như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp  
đã không ký hợp đồng thay thế. Hiện không tìm  
đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc  
thấy những quy định về vấn đề này trong LTM  
đáng lẽ phải biết. CISG không quy định rõ ràng  
Việt Nam.  
về tính chất trực tiếp hay gián tiếp của thiệt hại  
Như vậy, cần quy định rõ thiệt hại là có tính  
được bồi thường nhưng các khoản thiệt hại phải  
dự đoán trước bên cạnh tính thực tế, trực tiếp. Quy  
được tính toán và chứng minh một cách hợp lý.  
định cách tính toán thiệt hại trong trường hợp hợp  
Tính hợp lý ở đây được đánh giá một cách khách  
đồng bị hủy với hai khả năng là bên bị vi phạm đã  
quan, dựa trên thực tiễn các yếu tố tranh chấp và  
ký hợp đồng thay thế hoặc không.  
thị trường. Nguyên tắc này không cho phép các  
bên thổi phồng thiệt hại của mình lên một cách vô  
4. Về nghĩa vụ chứng minh thiệt hại, tiền lãi  
và đồng tiền tính toán thiệt hại được bồi thường  
trong hợp đồng thương mại quốc tế  
căn cứ, bất hợp lý.7  
Trường hợp án lệ SARL Ego Fruits v. Sté La  
Verja Begasti (1999)8: Trong tranh chấp này, người  
Quyền được bồi thường thiệt hại của người  
bán đã lập luận rằng việc mình tiến hành bảo mua theo điểm b khoản 1 Điều 45 và quyền được  
quản hàng là hợp lý, đặc biệt hàng trong trường bồi thường của người bán theo điểm b khoản 1  
hợp này là hàng nhanh hỏng (không bền - theo Điều 61 xuất phát từ nghĩa vụ tương ứng của các  
lập luận của người bán). Tuy nhiên, việc bảo quản bên do hợp đồng quy định, đặc biệt là nghĩa vụ  
bằng cách cô đặc hàng hóa đã làm thay đổi đối  
tượng hàng hóa theo hợp đồng là nước cam ép  
nguyên chất, và đây không thể là một cách bảo  
quản hàng hợp lý. Đặc biệt, người bán không  
thông báo và nêu lý do về sự cần thiết phải làm  
điều đó khi người mua chậm nhận hàng. Như  
vậy, người mua không thể tiên liệu được thiệt hại  
đó khi họ không thực hiện nghĩa vụ của mình và  
nêu trong Điều 30 và Điều 53. Bất kỳ loại vi phạm  
nào, dù là vi phạm nhỏ nhất đối với nghĩa vụ hợp  
đồng đều có thể dẫn đến quyền được bồi thường  
thiệt hại. Ngoài ra, vi phạm nghĩa vụ bồi hoàn khi  
hủy bỏ hợp đồng, khi trốn tránh (khoản 2 Điều 81)  
dẫn đến trách nhiệm pháp lý theo Điều 74. CISG  
không quy định về tính xác thực của thiệt hại và  
xác định mức độ mà bên bị thiệt hại cần chứng  
minh về tổn thất được đền bù.  
Điều 302 LTM Việt Nam quy định nghĩa vụ  
chứng minh thiệt hại thuộc về bên yêu cầu bồi  
thường thiệt hại. Họ phải chứng minh tổn thất,  
mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và  
khoản lợi trực tiếp mà bên vi phạm đáng lẽ được  
hưởng nếu không có hành vi vi phạm.  
7ꢀ Trường Đại học Ngoại thương (2016), 101 câu hỏi –  
đáp về Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán  
hàng hóa quốc tế (CISG).  
8ꢀ Case SARL Ego Fruits v. Sté La Verja Begasti (1999).  
Link:  
truy cập ngày 20/8/2020.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 143  
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG...  
CISG không có hướng dẫn rõ ràng về lãi suất. hại chưa được thanh lý cũng như đã thanh lý,  
Rất nhiều án lệ của CISG đã đề cập đến vấn đề  
này nhưng không nhất quán trong cách hiểu. Các  
tòa án đã đưa ra ít nhất ba lý thuyết khác nhau về  
luật điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tuân theo  
CISG: (1) Bản thân CISG xác định lãi suất bằng  
cách dựa vào các nguyên tắc chung của nó9; (2) Tỷ  
lệ quan tâm được xác định theo luật áp dụng dựa  
trên các quy tắc xung đột luật của diễn đàn; (3) Tỷ  
không đưa ra hướng dẫn để tính lãi và như vậy,  
không đưa ra dấu hiệu về các trường hợp nên  
được hưởng lãi trước khi xét xử. Điều 78 Công  
ước CISG quy định về việc tính lãi trên khoản  
tiền chưa trả và không xác định cụ thể cách tính  
lãi suất nợ, cụ thể: Nếu một bên hợp đồng không  
thanh toán tiền hàng hoặc một khoản tiền nào đó  
lệ quan tâm được xác định theo luật của diễn đàn thì bên kia có quyền được hưởng tiền lãi tính trên  
mà không cần tham chiếu đến các quy tắc xung  
đột luật của nó10. Điều 78 Công ước CISG không  
nêu rõ tỷ lệ lãi suất, tòa án tự mình ra quyết định,  
lãi suất trả theo hóa đơn của Kho bạc Hoa Kỳ được  
quy định trong 28 U.S. Code 1961(a)11.  
Những cách tiếp cận này đã dẫn đến lãi suất  
được xác định bởi luật nơi thanh toán, luật nơi tổn  
thất thực tế, luật của chủ nợ, luật của con nợ hoặc  
chủ nợ, hoặc đơn giản là luật của diễn đàn (phù  
hợp với cách tiếp cận (3) mà không liên quan đến  
bất kỳ điều nào ở trên)12.  
khoản tiền đó mà không ảnh hưởng đối với bất  
cứ yêu cầu nào về bồi thường thiệt hại có thể nhận  
được theo quy định của Điều 74.  
Điều 306 LTM Việt Nam năm 2005 quy định  
về tiền lãi: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm  
thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch  
vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp  
đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả  
đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường  
tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm  
Điều 74, khoản 1 Điều 84 của CISG đề cập đến trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật  
cách tính lãi mà người mua có thể thu được trên  
giá (số tiền thanh lý). Điều 78 của CISG đề cập đến  
tiền lãi mà người bán hoặc người mua có thể thu  
được và lãi theo giá hoặc bất kỳ khoản tiền nào  
khác còn nợ. Điều 78 không áp dụng cho các thiệt  
có quy định khác”. Tiền lãi theo Điều 306 được tính  
theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường.  
CISG không có hướng dẫn cụ thể để tính toán  
thiệt hại. Tiền lãi được giải quyết riêng tại Điều 78.  
Điều 79 đưa ra các yêu cầu khi một bên được miễn  
thực hiện do nguyên nhân bất khả kháng hoặc khó  
khăn. Như vậy, cả LTM Việt Nam và CISG đều  
không có điều khoản về đồng tiền dùng để tính  
toán thiệt hại.  
9ꢀ “Trong trường hợp con nợ không thanh toán được  
một khoản nợ tiền tệ, thì chủ nợ, với tư cách là một  
doanh nhân, phải sử dụng đến tín dụng ngân hàng  
do sự chậm trễ thanh toán, do đó phải được hưởng  
lãi suất theo lãi suất thường được áp dụng tại quốc  
gia của mình...”. Link: hꢁps://cisgw3.law.pace.edu/  
cases/940615a4.html.  
Đối với vấn đề này, trong việc nội luật hóa  
cần quy định rõ về đồng tiền tính toán thiệt hại  
là đồng tiền quy định trong điều khoản nghĩa vụ  
thanh toán hoặc đồng tiền tại nơi thiệt hại phát  
sinh, tùy theo đồng tiền nào thích hợp nhất.  
10ꢀ Nguồn truy cập: hꢁps://www.cisg.law.pace.edu/  
cisg/biblio/felemegas.html  
11ꢀ Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.edu/  
cases/940909u1.html  
Như vậy, chế tài bồi thường thiệt hại trong  
LTM được áp dụng đối với quan hệ thương mại  
quốc nội. Việc điều chỉnh nó theo khuynh hướng  
áp dụng cho quan hệ thương mại quốc tế cần xem  
xét đến tính xác đáng của nó. Sự lựa chọn hợp lý  
nhất là khi LTM Việt Nam được áp dụng cho một  
hợp đồng thương mại quốc tế, nên giải thích áp  
dụng chế tài bồi thường thiệt hại này theo hướng  
điều chỉnh trên. Và để đảm bảo tính tổng quan,  
12ꢀ Law of place of payment: ICC award no. 7153 (1992),  
(1992) J.D.I. 1005. Law of creditor: LG Stuꢁgart  
September 5, 1989, (1990) IPRax (1991) 317; LG  
Frankfurt September 16, 1991, (1991) RIW 952;  
KG Berlin January 24, 1994, (1994) RIW 683; OLG  
München March 2, 1994, (1994) RIW 545: ICC award  
no. 7197 (1992), (1993) J.D.I. 1028. Law of place of actual  
loss: LG Aachen April 3, 1990, (1990) RIW 491. Proper  
law of contract: AG Oldenburg April 24, 1990 (1991)  
IPRax 336; LG Hamburg September 26, 1990, (1991) nên thừa nhận việc áp dụng CISG và các quy định  
IPRax 400; Belgian Cass., November 29, 1990, (1990)  
RW 1270. Law of debtor or creditor: OLG Frankfurt  
June 13, 1991, (1991) RIW 591; OLG Frankfurt April  
pace.edu/cisg/text/cross/cross-74.HTML  
quốc tế về hợp đồng thương mại quốc tế để bổ trợ  
giải thích LTM nói chung và chế tài bồi thường  
thiệt hại nói riêng13./.  
13ꢀ hꢁps://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/117/523  
144 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
pdf 4 trang Thùy Anh 18100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo công ước CISG 1980 và luật thương mại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfboi_thuong_thiet_hai_do_vi_pham_hop_dong_theo_cong_uoc_cisg.pdf