Giáo trình Luật lao động (Phần 2)

Chương 5  
BẢO HIỂM XÃ HỘI  
1. KHÁI NIỆM BẢO HIỂM XÃ HỘI  
1.1. Sơ lược lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội Việt Nam và khái  
niệm bảo hiểm xã hội  
1.1.1. Sơ lược lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội Việt Nam  
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người thông qua  
lao động để nuôi sống bản thân mình. Song không phải lúc nào lao động  
cũng tạo ra của cải vật chất tạo ra thu nhập để phục vụ cho con người.  
Con người có lúc phải đối mặt với những khó khăn do tự nhiên đem lại  
hoặc gặp những biến cố rủi ro bất ngờ xảy ra như bị ốm đau, bị tai nạn, bị  
mất khả năng lao động hay suy giảm khả năng lao động.  
Điều này dẫn đến việc con người phải nương tựa vào nhau và cùng  
giúp đỡ nhau để giải quyết vấn đề bằng nhiều cách khác nhau. Trong xã  
hội khi con người gặp những biến cố trên họ liên kết với nhau trên tinh  
thần đoàn kết tương trợ giữa các thành viên trong cộng đồng để gánh vác  
sẻ chia bớt khó khăn. Và một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để  
dàn trải những rủi ro bất lợi cho người lao động là tiến hành lập một quỹ  
tiền tệ tập tung trên phạm vi quốc gia và tiến hành bảo hiểm cho các đối  
tượng người lao động trong phạm vi của quỹ này.  
Việc người lao động tham gia vào bảo hiểm thông qua quá trình tạo  
lập quỹ và phân phối quỹ có rất nhiều ý nghĩa khác nhau:  
- Thứ nhất, trợ giúp một phần vật chất cần thiết cho người lao động  
trong các trường hợp người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao  
động, bệnh nghề nghiệp hay các khó khăn, rủi ro khác xảy ra.  
- Thứ hai, họat động bảo hiểm xã hội có thể bảo đảm cuộc sống tối  
thiểu cho người lao động góp phần làm cho đời sống kinh tế của người  
lao động được giữ vững ổn định. Khi cuộc sống của người lao động đảm  
bảo, ổn định sẽ hạn chế sự phân biệt đối xử, giảm bớt sự phân cách giàu  
nghèo và sự cùng khổ của người lao động cũng như những người cao  
78  
tuổi, những người tàn tật mất sức lao động giúp cho người lao động an  
tâm làm việc khi còn sức lao động, góp phần ổn định xã hội, tạo động lực  
phát triển kinh tế đất nước.  
- Thứ ba, họat động của bảo hiểm sẽ giúp cho người sử dụng lao  
động duy trì được sức lao động xã hội ổn định sự phát triển của doanh  
nghiệp và quá trình họat động sản xuất kinh doanh.  
- Thứ tư, trên cơ sở họat động của bảo hiểm xã hội, nhà nước là chủ  
thể trung gian điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp người lao động và các  
tầng lớp dân cư trong các độ tuổi khác nhau, đảm bảo sự công bằng xã hội  
đối với mọi người lao động trong các khu vực kinh tế khác nhau.  
- Thứ năm, họat động của bảo hiểm xã hội sẽ ràng buộc trách  
nhiệm của người sử dụng lao động với người lao động, của người sử  
dụng lao động, người lao động đối với Nhà nước.  
Bảo hiểm xã hội lần đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ XIX dưới thời  
thủ tướng Bismarck (1883-1889) để trợ giúp cho người lao động do gặp  
rủi ro biến cố mà bị suy giảm hay mất khả năng lao động dẫn đến bị suy  
giảm hay mất thu nhập.  
Trong hệ thống bảo hiểm xã hội này đã tồn tại các chế độ như: chế  
độ bảo hiểm ốm đau do những người lao động buộc phải đóng góp; chế  
độ tai nạn lao động do giới chủ doanh nghiệp đóng góp để bảo vệ tính  
mạng sức khoẻ của giới thợ trong doanh nghiệp; chế độ bảo hiểm tuổi già  
và tàn tật do ngân sách tài trợ theo trách nhiệm quản lý xã hội.  
Có thể nói, bảo hiểm xã hội của Đức ra đời, tồn tại và phát triển đã  
đánh dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển hệ thống bảo hiểm xã  
hội trên thế giới. Đặc biệt là việc ghi nhận cơ chế ba bên trong việc đóng  
góp quỹ bảo hiểm xã hội bao gồm: giới chủ, giới thợ và Nhà nước.  
1.1.1.1. Giai đoạn trước năm 1945  
Trước năm 1945 ở Việt Nam chưa có pháp luật bảo hiểm xã  
hội vì thực dân Pháp đang đô hộ nước ta. Trong giai đoạn này, Pháp  
đã áp dụng một số chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội như đau ốm, tai nạn,  
hưu trí nhưng chỉ hạn chế trong phạm vi công chức và quân nhân Việt  
Nam hưởng lương phục vụ cho bộ máy hành chính và lực lượng vũ  
trang của Pháp.  
79  
1.1.1.2. Giai đoạn từ 1945-1959  
Sau cách mạng tháng 8 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên  
của Nhà nước dân chủ nhân dân trong đó Điều 14 Hiến pháp 1946 có xác  
định quyền được trợ cấp của người già và người tàn tật.  
Tiếp đó ngày 12.3.1947 Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh  
29/SL quy định chế độ trợ cấp cho công nhân.  
Ngày 20.5.1950 Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh76/SL; Sắc lệnh 77/SL  
ghi nhận chế độ đau ốm, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí cho cán bộ,  
công nhân viên chức.  
1.1.1.3. Giai đoạn từ 1960-1994  
Giai đoạn này đã xây dựng được một hệ thống trợ cấp bảo hiểm xã  
hội gồm các chế độ như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất sức lao  
động, hưu trí, tử tuất, khám chữa bệnh miễn phí, trợ cấp thôi việc…(NĐ  
218/CP ngày 27.12.1961)  
1.1.1.4. Giai đoạn 1995 đến nay  
Giai đoạn này ban hành rất nhiều các văn bản khác nhau quy định về  
bảo hiểm xã hội. Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Nhà nước quy định thời gian  
lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối  
với viên chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát  
triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động”.  
Đặc biệt, nhà nước ta đã ban hành Luật bảo hiểm xã hội 2006, Bộ  
luật lao động 2012 quy định cụ thể các vấn đề của bảo hiểm xã hội như  
đối tượng tham gia, điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội, mức hưởng bảo  
hiểm xã hội, các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội,  
trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.  
Tóm lại, hệ thống các văn bản pháp luật quy định về bảo hiểm xã  
hội đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho người lao động và người sử dụng  
lao động khi tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội.  
Bảo hiểm xã hội chiếm vị trí quan trọng nhất và là thành phần  
chính của hệ thống an sinh xã hội ở các nước trên thế giới.  
80  
Theo Tổ chức lao động thế giới ILO: An sinh xã hội là “sự bảo vệ  
của xã hội đối với các thành viên của mình bằng một loạt các biện pháp  
công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị  
ngừng hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn  
lao động, bệnh nghề nghiệp, thương tật, tuổi già, chết, kể cả sự bảo vệ  
chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”.  
- An sinh xã hội có các thành phần sau:  
+ Bảo hiểm xã hội.  
+ Trợ cấp xã hội.  
+ Trợ cấp gia đình.  
+ Những quỹ tiết kiệm.  
+ Trợ cấp dược tài trợ bởi Ngân sách Nhà nước.  
1.1.2. Khái niệm bảo hiểm xã hội  
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu  
nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm  
hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và  
sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao  
động và người lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao  
động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội.33  
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì bảo hiểm xã hội là sự bảo  
đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ  
bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và  
bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một  
quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, có  
sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống  
cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn  
xã hội.  
Bảo hiểm xã hội được hiểu là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một  
phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do  
33  
PGS.PTS. Trần Quang Hùng, PTS Mạc Văn Tiến, Đổi mới chính sách bảo hiểm xã  
hội đối với người lao động, NXBCTQG Hà Nội 1998, tr 11  
81  
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết  
tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. (Điều  
3 Luật bảo hiểm xã hội.)  
Bảo hiểm xã hội là một chính sách xã hội cơ bản áp dụng cho đa số  
người lao động (theo nghĩa rộng) mang bản chất của một chính sách xã hội  
như: lấy con người làm trung tâm; mang tính xã hội, nhân văn và nhân đạo  
sâu sắc; bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống…34  
So với cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội và bảo hiểm Nhà nước thì bảo  
hiểm xã hội có những đặc trưng cơ bản sau:  
- Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội gồm có: Sự đóng góp của  
người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ vào quỹ bảo hiểm  
xã hội của Nhà nước.  
- Đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội gồm có người lao động và  
thành viên gia đình người lao động khi đáp ứng đủ các điều kiện pháp  
luật quy định.  
- Căn cứ hưởng bảo hiểm xã hội: Để được hưởng bảo hiểm xã hội  
người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội và có các sự kiện pháp lý kèm  
theo như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí,  
tử tuất.  
- Mức hưởng bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào mức đóng góp của  
người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, thời gian đóng bảo hiểm xã  
hội, mức lương của người lao động, điều kiện, khu vực làm việc, mức  
suy giảm khả năng lao động, độ tuổi của người lao động và sự kiện pháp  
lý kèm theo.  
- Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ 5 nguồn: người sử dụng  
lao động đóng, người lao động đóng, tiền sinh lời của họat động đầu tư từ  
quỹ, hỗ trợ của Nhà nước, các nguồn thu hợp pháp khác.  
- Mục đích của bảo hiểm xã hội nhằm: bảo đảm thay thế hoặc bù  
đắp một phần thu nhập của người lao động khi người lao động bị suy  
giảm hay mất thu nhập; thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước.  
34  
PGS.PTS. Trần Đình Hoan (CB), Chính sách xã hội và đổi mới cơ chế quản lý việc  
thực hiện, NXBCTQG 1996, tr12,13,14  
82  
- Tính chất trợ cấp: Bảo hiểm xã hội là một chính sách được thực  
hiện trong quan hệ lao động hoặc khi quan hệ lao động đã chấm dứt.  
- Bản chất của bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội vừa mang tính  
kinh tế, vừa mang tính xã hội; vừa đảm bảo yếu tố bình đẳng, công bằng,  
vừa đảm bảo yếu tố cộng đồng; vừa đảm bảo yếu tố đóng góp và hưởng  
thụ, vừa đảm bảo tính nhân văn sâu sắc.  
1.2. Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội  
- Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội. Hiệu quả của họat  
động bảo hiểm xã hội luôn tỉ lệ thuận với việc thống nhất quản lý bảo  
hiểm xã hội của nhà nước. Nhà nước ban hành các chính sách, chế độ  
pháp luật về bảo hiểm xã hội chỉ đạo việc thực hiện và kiểm tra áp dụng  
bảo hiểm xã hội vào thực tế. Nhà nước quy định chính sách bảo hiểm xã  
hội nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, chăm  
sóc phục hồi sức khoẻ, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và  
gia đình trong trường hợp người lao động bị đau ốm, thai sản, hết tuổi lao  
động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp gặp rủi ro  
hoặc các khó khăn khác.  
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng là chủ thể tham gia đóng góp vào quỹ  
bảo hiểm xã hội cùng với người sử dụng lao động và người lao động để  
bảo đảm cho quỹ bảo hiểm xã hội họat động. Trong đó Nhà nước có  
trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng cường của  
quỹ bảo hiểm xã hội.  
- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời  
gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo  
hiểm xã hội. Người lao động khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm xã hội  
phải đóng góp bảo hiểm xã hội trên cơ sở tiền lương và họ sẽ được  
hưởng bảo hiểm xã hội khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.  
Mức hưởng bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào mức đóng góp cho xã hội,  
thời gian đóng góp, mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội, mức suy giảm  
khả năng lao động, tuổi đời và các sự kiện pháp lý kèm theo. Nguyên tắc  
này thể hiện sự bình đẳng giữa đóng góp và thụ hưởng, tuy nhiên không  
phải bất kỳ người lao động nào khi tham gia đóng bảo hiểm xã hội đều  
được hưởng đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội. Nguyên tắc này còn đảm  
83  
bảo sự chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội với nhau theo  
hình thức “tương trợ cộng đồng”, “lấy số đông, bù số ít”.35  
- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công  
khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập  
theo các quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội  
tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tiền  
tệ tập trung được hình thành trên cơ sở sự đóng góp của người sử dụng  
lao động, người lao động, Nhà nước hỗ trợ, tiền sinh lời của họat động  
đầu tư từ quỹ, các nguồn thu khác. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý  
thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và  
được Nhà nước bảo hộ. Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện  
pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng theo quy định của pháp luật.  
- Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận  
tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm  
xã hội.  
- Bảo hiểm xã hội phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội.  
Mỗi một giai đoạn lịch sử khác nhau thì bảo hiểm xã hội họat động  
với phương thức khác nhau. Quá trình phát triển của bảo hiểm xã hội phụ  
thuộc điều kiện kinh tế-xã hội nhất định. Việc ban hành các chế độ bảo  
hiểm xã hội, đối tượng tham gia bảo hiểm, mức trợ cấp, chế độ chi trả  
bảo hiểm, mức đóng góp bảo hiểm xã hội phải căn cứ vào mức thu nhập  
trong cộng đồng xã hội.  
2. NỘI DUNG CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI  
2.1. Quỹ bảo hiểm xã hội  
Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành  
từ sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã  
hội gồm có quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc, quỹ bảo hiểm xã hội tự  
nguyện, quỹ bảo hiểm thất nghiệp.  
35 Giáo trình Luật lao động, Trung tâm đào tạo từ xa, TS Nguyễn Hữu Chí, NXBCAND,  
Hà Nội 2003, tr251  
84  
2.1.1. Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc  
- Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc được hình thành từ các nguồn sau:  
+ Người lao động đóng góp: Hằng tháng, người lao động đóng  
bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm  
2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng  
là 8%.  
+ Người sử dụng lao động đóng hằng tháng 3% vào quỹ ốm đau  
và thai sản; 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; 11% vào  
quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng  
thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.  
+ Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các  
chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động.  
+ Tiền sinh lời của quỹ bảo hiểm xã hội.  
+ Các nguồn thu khác.  
2.1.2. Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện  
- Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện hình thành từ các nguồn:  
+ Người lao động đóng hằng tháng bằng 16% mức thu nhập  
người lao động lựa chọn đóng bảo hiểm xã hội; từ năm 2010 trở đi,  
cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.  
Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng bảo hiểm xã hội được thay đổi  
tùy theo khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp  
nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng hai mươi  
tháng lương tối thiểu chung.  
+ Tiền sinh lời của họat động đầu tư từ quỹ.  
+ Hỗ trợ của Nhà nước.  
+ Các nguồn thu hợp pháp khác.  
2.1.3. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp  
- Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được hình thành từ các nguồn:  
+ Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng  
đóng bảo hiểm thất nghiệp.  
85  
+ Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền  
công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham  
gia bảo hiểm thất nghiệp.  
+ Hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền  
lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao  
động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.  
+ Tiền sinh lời của họat động đầu tư từ quỹ.  
+ Các nguồn thu hợp pháp khác.  
2.2. Các loại hình bảo hiểm xã hội  
2.2.1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc  
- Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội  
mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.  
- Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với cơ quan  
nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị,  
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức  
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài,  
tổ chức quốc tế họat động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác  
xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê  
mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.  
- Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với công  
dân Việt Nam bao gồm: Người làm việc theo hợp đồng lao động không  
xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;  
cán bộ, công chức, viên chức; công nhân quốc phòng, công nhân công  
an; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ  
quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân  
dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân  
dân, công an nhân dân; hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ  
quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; người làm việc có  
thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.  
86  
Khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc người lao  
động được hưởng các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh  
nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất.  
2.2.2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện  
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người  
lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức  
đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội.  
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam  
trong độ tuổi lao động, không thuộc diện áp dụng của pháp luật về bảo  
hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao  
động có thời hạn dưới 3 tháng; cán bộ không chuyên trách cấp xã; người  
tham gia các họat động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả xã viên không  
hưởng tiền lương, tiền công trong các hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã; người  
lao động tự tạo việc làm; người lao động làm việc có thời hạn ở nước  
ngoài mà trước đó chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đã nhận  
bảo hiểm xã hội một lần; người tham gia khác;  
Khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện người lao  
động được hưởng các chế độ hưu trí và tử tuất.  
2.2.3. Bảo hiểm thất nghiệp  
Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ trả cho người lao động đang  
đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng  
lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.  
Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt  
Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các  
hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười  
hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người sử dụng lao động.  
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp cũng là  
người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có sử dụng từ  
mười lao động trở lên.  
87  
2.3. Quyền và trách nhiệm của các bên tham gia bảo hiểm xã hội  
2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của người lao động  
Khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm xã hội, người lao động có các  
quyền sau:  
- Được cấp sổ bảo hiểm xã hội;  
- Nhận sổ bảo hiểm xã hội khi không còn làm việc;  
- Nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời;  
- Hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp sau đây:  
+ Đang hưởng lương hưu;  
+ Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp  
hằng tháng;  
+ Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;  
- Ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội;  
- Yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin quy định của  
Luật bảo hiểm xã hội; yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông  
tin quy định của Luật bảo hiểm xã hội.  
- Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;  
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.  
Người lao động có các trách nhiệm sau: Đóng bảo hiểm xã hội,  
thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo quản sổ bảo  
hiểm xã hội theo đúng quy định, các trách nhiệm khác theo quy định của  
pháp luật.  
2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động  
Khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động  
có các quyền sau:  
- Người sử dụng lao động có quyền:  
+ Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định  
của pháp luật về bảo hiểm xã hội.  
+ Khiếu nại tố cáo về bảo hiểm xã hội.  
+ Các quyền khác theo quy định của pháp luật.  
88  
- Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:  
+ Đóng bảo hiểm xã hội.  
+ Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội của người lao động trong thời  
gian người lao động làm việc.  
+ Trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó  
không còn làm việc.  
+ Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ, đóng và hưởng bảo  
hiểm xã hội.  
+ Trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động.  
+ Giới thiệu người lao động đi giám định mức suy giảm khả  
năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa theo quy định.  
+ Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền.  
+ Cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người  
lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu.  
+ Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.  
2.3.3. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức bảo hiểm xã hội  
- Tổ chức bảo hiểm xã hội có các quyền: Tổ chức quản lý nhân  
sự, tài chính và tài sản theo quy định của pháp luật; từ chối yêu cầu trả  
bảo hiểm xã hội không đúng quy định; khiếu nại về bảo hiểm xã hội;  
kiểm tra việc đóng bảo hiểm xã hội và trả các chế độ bảo hiểm xã hội;  
kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ  
sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội và quản lý quỹ  
bảo hiểm xã hội; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý  
vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội; các quyền khác theo quy định  
của pháp luật.  
- Tổ chức bảo hiểm xã hội có các trách nhiệm: Tuyên truyền, phổ  
biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; hướng dẫn thủ  
tục thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động, người sử  
dụng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội; thực hiện việc  
thu bảo hiểm xã hội theo quy định; tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ  
89  
bảo hiểm xã hội; thực hiện việc trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội  
đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn; cấp sổ bảo hiểm xã hội đến từng  
người lao động; quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định  
của pháp luật; thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo  
hiểm xã hội; tổ chức thực hiện công tác thống kê, kế toán, hướng dẫn  
nghiệp vụ về bảo hiểm xã hội; giới thiệu người lao động đi giám định  
mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa theo  
quy định; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm xã hội;  
lưu trữ hồ sơ của người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của  
pháp luật; định kỳ sáu tháng, báo cáo Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội  
về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội. Hằng năm, báo cáo Chính phủ  
và cơ quan quản lý Nhà nước về tình hình quản lý và sử dụng quỹ bảo  
hiểm xã hội; cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền  
được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội khi người lao  
động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu; cung cấp tài liệu, thông tin liên  
quan theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; giải quyết kịp  
thời khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện bảo hiểm xã hội; thực hiện hợp  
tác quốc tế về bảo hiểm xã hội; các trách nhiệm khác theo quy định của  
pháp luật.  
3. CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI  
3.1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc  
3.1.1. Chế độ trợ cấp ốm đau  
3.1.1.1. Điều kiện hưởng chế độ ốm đau  
Không phải đối tượng nào bị ốm đau đều hưởng chế độ ốm đau.  
Chỉ có những đối tượng thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp  
luật về chế độ ốm đau mới được hưởng. Người lao động được hưởng chế  
độ ốm đau khi có các điều kiện sau:  
- Bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế.  
- Có con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con và  
có xác nhận của cơ sở y tế.  
- Người lao động có đóng bảo hiểm xã hội.  
90  
3.1.1.2. Thời gian hưởng chế độ ốm đau  
Thời gian hưởng trợ cấp ốm đau phụ thuộc vào số năm tham gia  
đóng bảo hiểm xã hội, điều kiện, môi trường làm việc, tình trạng bệnh tật  
và sự kiện pháp lý kèm theo.  
Thời gian hưởng trợ cấp ốm đau trong một năm tính theo thời gian  
làm việc như sau:  
- Nếu người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình  
thường, người lao động được nghỉ:  
+ 30 ngày nếu người lao động đó đúng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm.  
+ 40 ngày nếu người lao động đó đúng bảo hiểm xó hội đủ  
15 năm đến dưới 30 năm.  
+ 60 ngày nếu người lao động đó đúng bảo hiểm xã hội đủ  
30 năm trở lờn.  
- Nếu người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại,  
nguy hiểm hoặc làm việc thường xuyên nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7  
trở lờn, thời gian người lao động được nghỉ như sau:  
+ 40 ngày nếu người lao động đó đúng bảo hiểm xã hội dưới  
15 năm.  
+ 50 ngày nếu người lao động đó đúng bảo hiểm xã hội đủ  
15 năm đến dưới 30 năm.  
+ 70 ngày nếu người lao động đó đúng bảo hiểm xã hội đủ 30  
năm trở lên.  
- Thời gian nghỉ chăm sóc con ốm đau như sau:  
+ 20 ngày nếu người lao động chăm súc con dưới 3 tuổi ốm đau.  
+ 15 ngày nếu người lao động chăm sóc con nếu con đủ 3 tuổi  
đến dưới 7 tuổi.  
Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, nếu một  
người đó hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm thì người kia được  
hưởng chế độ ốm đau theo quy định của pháp luật.  
1.1.3. Mức trợ cấp chế độ ốm đau  
Người lao động ốm đau thì hưởng 75% mức tiền lương của tháng  
liền kề trước khi nghỉ việc. Ngoài ra, người lao động sau thời gian nghỉ  
91  
ốm đau mà vẫn yếu sức khỏe thì được nghỉ dưỡng sức. Thời gian nghỉ từ  
5 đến 10 ngày tùy trường hợp tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.  
3.1.2. Chế độ trợ cấp thai sản  
3.1.2.1. Điều kiện hưởng trợ cấp thai sản  
- Điều kiện hưởng chế độ thai sản được quy định như sau:  
+ Lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi  
dưới 4 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong  
thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.  
+ Trường hợp người lao động đủ điều kiện nghỉ việc trước thời  
điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 4 tháng tuổi thì vẫn được hưởng  
chế độ thai sản.  
+ Lao động nữ bị sảy thai, đẻ thai chết lưu.  
+ Lao động nữ sau khi sinh con con chết.  
+ Lao động nữ đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.  
+ Người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội và có xác nhận của  
tổ chức cơ sở y tế có thẩm quyền.  
3.1.2.2. Chế độ hưởng  
Người lao động ngoài việc hưởng chế độ khám thai, người lao  
động còn được hưởng chế độ sẩy thai, nạo hút thai, đặt vòng tránh thai,  
thực hiện các biện pháp triệt sản, thai chết lưu và nghỉ sinh con. Thời  
gian nghỉ việc hưởng chế độ khi sinh con của lao động nữ phụ thuộc  
vào số con một lần sinh. Thời gian nghỉ trước và sau khi sinh con là  
6 tháng. Người lao động nữ đi làm trước khi hết thời gian nghỉ thai  
sản nhưng phải đáp ứng các điều kiện mà pháp luật quy định. Trường  
hợp lao động nữ sau khi nghỉ thai sản mà vẫn yếu sức khỏe thì được  
hưởng chế độ nghỉ dưỡng sức theo quy định.  
3.1.2.3. Mức trợ cấp  
Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi  
dưới bốn tháng tuổi thì được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối  
thiểu chung cho mỗi con. Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã  
hội mà mẹ chết thì cha cũng được trợ cấp như trên. Người lao động  
92  
hưởng 100% mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của 6  
tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Nếu chưa đủ 6 tháng thì tính bình  
quân các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.  
3.1.3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp  
3.1.3.1. Điều kiện hưởng trợ cấp tai nạn lao động  
- Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc.  
- Bị tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực  
hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động mà các công  
việc đó gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động được  
phân công.  
- Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc  
trong khoảng thời gian và tuyến đường mà hằng ngày, người lao động  
vẫn thường xuyên đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại.  
- Điều kiện hưởng bệnh nghề nghiệp:  
+ Người lao động mắc một trong các bệnh do Bộ lao động –  
Thương binh- Xã hội và Bộ Y tế ban hành. (Hiện nay nhà nước quy  
định có 25 bệnh nghề nghiệp).  
+ Người lao động làm việc ở môi trường hoặc nghề có yếu tố  
độc hại.  
3.1.3.2. Quyền lợi và mức trợ cấp của người lao động bị tai nạn lao  
động, bệnh nghề nghiệp  
Khi người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì người  
sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm trả các khoản chi phí y tế và tiền  
lương từ khi sơ cứu đến khi điều trị ổn định thương tật cho người lao  
động bị tai nạn lao động. Sau khi điều trị ổn định, người sử dụng lao  
động có trách nhiệm sắp xếp công việc phù hợp cho người lao động bị tai  
nạn và được tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu đi giám định khả năng lao  
động theo quy định của pháp luật. Người bị tai nạn lao động, bệnh nghề  
nghiệp được hưởng chế độ trợ cấp tùy thuộc vào mức suy giảm khả năng  
lao động. Người lao động có thể hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc một lần.  
93  
- Trợ cấp một lần áp dụng đối với người lao động bị suy giảm khả  
năng lao động từ 5% đến 30% do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.  
Trợ cấp hàng tháng áp dụng đối với người lao động bị suy giảm khả năng  
lao động từ 31% đến 100% do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Mức  
trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp một lần, hàng tháng được tính  
theo mức suy giảm khả năng lao động và mức đóng bảo hiểm xã hội trên  
cơ sở vừa tính theo mức tiền lương tối thiểu vừa tính theo tiền lương  
đóng bảo hiểm xã hội.  
- Người hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng  
tháng nghỉ việc, được hưởng bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm xã hội  
bảo đảm.  
- Ngoài ra, người lao động còn được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức  
khoẻ sau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật mà sức khoẻ còn yếu.  
3.1.4. Chế độ hưu trí  
3.1.4.1. Điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí  
Người lao động được hưởng lương hưu khi nghỉ việc thuộc một  
trong các trường hợp sau:  
- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã  
hội trở lên.  
- Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi  
và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong đó có đủ 15 năm  
làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đủ 15 năm  
làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên;  
- Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động  
được quy định như sau: Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20  
năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, được hưởng  
lương hưu với mức thấp hơn khi thuộc một trong các trường hợp sau:  
+ Nam đủ 50 tuổi trở lên, nữ đủ 45 tuổi trở lên;  
+ Có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng  
nhọc, độc hại, nguy hiểm thì không kể tuổi đời.  
94  
- Điều kiện và mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người  
không đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định khi thuộc một trong  
các trường hợp sau đây:  
+ Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định mà chưa đủ 20 năm  
đóng bảo hiểm xã hội;  
+ Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20  
năm đóng bảo hiểm xã hội;  
+ Sau 01 năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã  
hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ 20 năm đóng  
bảo hiểm xã hội;  
+ Ra nước ngoài để định cư.  
3.1.4.2. Mức trợ cấp  
Mức lương hưu hằng tháng được quy định như sau:  
- Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định,  
mức lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% mức bình quân tiền  
lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 15 năm đóng  
bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính  
thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.  
- Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả  
năng lao động được tính như trên, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi  
theo quy định thì mức lương hưu giảm đi 1%. Đối với người nghỉ hưu  
theo quy định nam đủ 50 tuổi trở lên, nữ đủ 45 tuổi trở lên thì lấy mốc  
tuổi 60 đối với nam và tuổi 55 đối với nữ để tính số năm nghỉ hưu trước  
tuổi quy định. Đối với người nghỉ hưu theo quy định có đủ 15 năm trở  
lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm,  
không kể tuổi đời thì lấy mốc tuổi 55 đối với nam và tuổi 50 đối với nữ  
để tính số năm nghỉ hưu trước tuổi quy định.  
- Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã  
đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân  
tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội.  
95  
- Ngoài ra, người lao động còn được hưởng trợ cấp một lần đối với  
người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội từ năm thứ 31 trở đi đối với nam và  
năm thứ 26 trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính  
bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm  
xã hội.  
3.1.5. Chế độ tử tuất  
3.1.5.1. Điều kiện được hưởng chế độ mai táng phí  
Các đối tượng sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ  
cấp mai táng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung:  
Người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; người lao  
động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội; người đang hưởng  
lương hưu; hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng  
đã nghỉ việc.  
3.1.5.2. Điều kiện và mức hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng  
Các đối tượng sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp  
hằng tháng:  
- Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên nhưng  
chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần;  
- Người đang hưởng lương hưu;  
- Người lao động chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (kể cả  
chết trong thời gian điều trị lần đầu);  
- Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp  
hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.  
Thân nhân của các đối tượng trên được hưởng trợ cấp tuất hằng  
tháng bao gồm:  
- Con chưa đủ 15 tuổi (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con  
ngoài giá thú được pháp luật công nhận, con đẻ mà khi người chồng chết  
người vợ đang mang thai); con chưa đủ 18 tuổi nếu còn đi học; con từ đủ  
15 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;  
96  
- Vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên; vợ dưới  
55 tuổi, chồng dưới 60 tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81%  
trở lên;  
- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng,  
người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu từ đủ 60  
tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ;  
- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng,  
người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu dưới 60  
tuổi đối với nam, dưới 55 tuổi đối với nữ và bị suy giảm khả năng lao  
động từ 81% trở lên.  
Thân nhân phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng  
nhưng thấp hơn mức lương tối thiểu chung.  
Mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức  
lương tối thiểu chung. Trường hợp thân nhân không có người trực tiếp  
nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối  
thiểu chung. Số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng không quá  
04 người đối với 01 người chết. Trường hợp có từ 02 người chết trở lên  
thì thân nhân của những người này được hưởng 02 lần mức trợ cấp.  
Thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng được thực hiện kể từ  
tháng liền kề sau tháng mà người lao động, người hưởng lương hưu, trợ  
cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chết.  
3.1.5.3. Điều kiện và mức hưởng trợ cấp tiền tuất một lần  
Các đối tượng hưởng mai táng phí thuộc một trong các trường  
hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần:  
- Người chết không thuộc đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng.  
- Người chết thuộc đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng nhưng không  
có thân nhân thuộc diện hưởng tiền tuất hằng tháng theo quy định trên.  
- Mức trợ cấp tuất một lần được quy định như sau:  
+ Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân người lao động  
đang đóng bảo hiểm xã hội hoặc người đang bảo lưu thời gian đóng  
bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ  
mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công  
97  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 55 trang Thùy Anh 8660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật lao động (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_lao_dong_phan_2.pdf