Các mô hình quản lý nợ công trên thế giới và hàm ý chính sách cho Việt Nam
VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
Review Article
Models of Public Debt Management in the World
and Lessons for Vietnam
Pham Xuan Truong*
Faculty of International Economics, Foreign Trade University, 91 Chua Lang, Dong Da, Hanoi, Vietnam
Received 17 November 2020
Revised 25 November 2020; Accepted 03 December 2020
Abstract: Vietnam embarked on fundamentally building a public debt management system since
2009 as the Law of Public Debt Management was designed and promulgated. From then Vietnam
has been following the typical model of public debt management used by developing countries, the
market – based model which encompasses gradual building and completion of domestic market for
government bond. However, because of several limitations in the national system of public debt
management, the current model needs to be improved in alignment with the development level of
Vietnam’s economy. Especially, economic shocks such as the 2009 financial crisis or Covid 19
which has increased dramatically the scope of public debt also urge a more technical and effective
model. The paper focuses on analyzing the practical models of public debt management in the world
and subsequently the current situation of Vietnam’s model. On that basis, the author figures out the
limitations of the model and proposes a number of solutions to upgrade the model in accordance
with the international practice regarding model of public debt management suitable with
development level of economy.
Keywords: Public debt, sustainable public debt, public debt management, risk management, model
of public debt management.
________
Corresponding author.
Email address: [email protected]
22
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
23
Các mô hình quản lý nợ công trên thế giới và hàm ý
chính sách cho Việt Nam
Phạm Xuân Trường
Khoa Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Ngoại Thương, 91 Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 17 tháng 11 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 25 tháng 11 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 03 tháng 12 năm 2020
Tóm tắt: Việt Nam bắt đầu thực hiện bài bản việc quản lý nợ công kể từ năm 2009 khi lần đầu tiên
Luật quản lý nợ công được xây dựng và ban hành. Kể từ đó đến nay Việt Nam đi theo mô hình quản
lý nợ công thường được các quốc gia đang phát triển áp dụng đó là mô hình thị trường định hướng
với việc dần dần xây dựng và hoàn thiện thị trường trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên do một số hạn
chế còn tồn tại trong hệ thống quản lý nợ công, mô hình hiện tại cần phải được cải thiện để tương
thích với trình độ phát triển của nền kinh tế. Đặc biệt các cú sốc kinh tế mới đây như khủng hoảng
kinh tế 2009, dịch Covid19 khiến quy mô nợ công gia tăng đột biến đòi hỏi một mô hình quản lý nợ
công kỹ trị và hiệu quả hơn. Bài viết phân tích các mô hình quản lý nợ công trên thế giới, sau đó tập
trung phân tích thực trạng mô hình quản lý nợ công hiện tại của Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả
chỉ ra những hạn chế trong mô hình này và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cấp mô hình hiện
tại sao cho phù hợp với thông lệ trên thế giới về quản lý nợ công theo trình độ phát triển của nền
kinh tế.
Từ khóa: Nợ công, nợ công bền vững, quản lý nợ công, quản trị rủi ro, mô hình quản lý nợ công.
1. Mở đầu
Nợ công từ lâu đã trở thành mối quan tâm
quan chuyên biệt trực thuộc Bộ Tài chính (BTC)
với mô hình quản lý nợ công có cơ quan chuyên
biệt độc lập; mô hình quản lý nợ công có chiến
lược với mô hình quản lý nợ công không có
chiến lược,… Mỗi một mô hình quản lý nợ công
như vậy lại phù hợp với trình độ phát triển nhất
định của nền kinh tế. Bài viết sẽ chỉ ra các mô
hình quản lý nợ công đang được thực hiện trên
thế giới, từ đó xác định Việt Nam đang thực
hiện mô hình quản lý nợ công nào và Việt Nam
cần phải làm gì để nâng cấp mô hình quản lý
nợ công nhằm khắc phục những hạn chế của
mô hình hiện tại.
hàng đầu của các chính phủ trong vấn đề ổn định
kinh tế vĩ mô. Một quốc gia có nợ công cao, khả
năng thanh toán bấp bênh không thể duy trì một
môi trường vĩ mô ổn định cho nền kinh tế. Ngược
lại, một quốc gia nợ công ở mức vừa phải, có khả
năng thanh toán tốt các khoản nợ đến hạn thường
sẽ có một môi trường vĩ mô ổn định. Mô hình
quản lý nợ công hiệu quả là một yếu tố rất quan
trọng để đảm bảo trạng thái nợ công khỏe mạnh,
từ đó đảm bảo cho nền kinh tế có một nền tảng
vĩ mô tốt. Trên thế giới có rất nhiều mô hình
quản lý nợ công đã được các chính phủ các quốc
gia áp dụng như mô hình quản lý nợ công có cơ
________
Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: [email protected]n
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
24
động. Nhìn chung đây chính là khía cạnh nội
dung trong quản lý nợ công. Tuy nhiên nội dung
của quản lý nợ công là không đủ để hình thành
một hệ thống đầy đủ về quản lý nợ công trong đó
cần phải có các thành phần như khung pháp lý,
cơ cấu tổ chức các cơ quan thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về nợ công và cơ chế phối hợp
với các chính sách khác có liên quan (chính sách
tài khóa (CSTK), chính sách tiền tệ (CSTT)). Tất
cả những thành phần trên tạo nên mô hình quản
lý nợ công. Như vậy, có thể hiểu mô hình quản
lý nợ công là một hệ thống có tổ chức của nhà
nước nhằm thực thi quyền hạn quản lý nợ công
theo luật định để đạt được một số mục tiêu nhất
định. Sự phân loại trong một thành phần của mô
hình và các cách kết hợp khác nhau giữa chúng
sẽ tạo nên những mô hình quản lý nợ công khác
nhau. Sau đây là nội dung cụ thể của các thành
phần trong mô hình quản lý nợ công:
2. Quản lý nợ công và các mô hình quản lý nợ
công trên thế giới
Quản lý trong khoa học quản trị là “một quá
trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm
tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ
chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để
đạt được những mục tiêu cụ thể” [1]. Nợ công là
toàn bộ nợ của chính phủ trung ương, chính
quyền địa phương và các tổ chức trực thuộc cùng
với nợ do chính phủ bảo lãnh [2]. Tùy quy định
pháp luật của từng nước mà nợ công còn bao
gồm nợ của các doanh nghiệp nhà nước (phần nợ
không được chính phủ bảo lãnh), phần vốn đối
ứng của nhà nước trong các dự án đối tác công
tư (Public Private Partnership – PPP), nợ của
ngân hàng trung ương và nợ của quỹ bảo hiểm
xã hội quốc gia [2]. Như vậy quản lý nợ công xét
theo nghĩa kết hợp của hai từ quản lý và nợ công
có thể hiểu là hoạt động thu thập, theo dõi, phân
tích đánh giá số liệu và cuối cùng đưa ra kế hoạch
và tổ chức thực hiện kế hoạch điều chỉnh các
khoản nợ được coi là nợ công theo luật quốc gia
nhằm đạt được những mục tiêu đã định sẵn.
Phạm vi quản lý nợ công phụ thuộc vào phạm vi
định nghĩa nợ công của từng quốc gia. Cách hiểu
này khá tương đồng với khái niệm quản lý nợ
công phổ biến của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và
Ngân hàng thế giới (WB): quản lý nợ công là quá
trình thiết lập và thực hiện một chiến lược để
quản lý nợ chính phủ nhằm đáp ứng nguồn quỹ
tài trợ cho chi tiêu công ở mức chi phí thấp nhất
trong trung và dài hạn dựa trên một mức độ rủi
ro hợp lý [3]. Trong khái niệm này, IMF và WB
đã đi xa hơn khi chỉ ra mục tiêu chung của quản
lý nợ công đó là tối thiểu hóa chi phí khi chính
phủ vay nợ trong điều kiện đã xác định được mức
độ rủi ro phù hợp.
- Cơ sở pháp lý: bao gồm điều ước quốc tế
liên quan đến nợ công nếu quốc gia nằm trong
một liên minh kinh tế hoặc liên minh tiền tệ; luật
quốc gia liên quan đến quản lý, giám sát nợ công,
ngân sách; nghị định thông tư hướng dẫn chi tiết
của chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ
liên quan đến các bộ luật kể trên.
- Cơ cấu tổ chức: các quốc gia có thể duy trì
có hoặc không có một cơ quan chuyên biệt để
quản lý nợ công (Debt Management Office –
DMO). Nếu không có một cơ quan chuyên biệt
thì chức năng quản lý nợ công thường được đảm
nhiệm bởi các bộ phận phụ trách chi tiêu vay nợ
ở từng bộ ban ngành (Canada, Mỹ). Đây được
gọi là cách thức tổ chức phi tập trung. Cách thức
tổ chức phi tập trung chỉ phù hợp với các quốc
gia có khung pháp lý chặt chẽ, thông tin về nợ
công đầy đủ, cập nhật, minh bạch và nguồn nhân
lực quản trị tốt [5]. Nếu có một cơ quan chuyên
biệt thì cơ quan này hoặc độc lập với các bộ ban
ngành và trực tiếp trực thuộc chính phủ (Ai Len,
Đức, Thụy Điển, Hungary) hoặc cơ quan này là
một bộ phận của BTC (Bỉ, Pháp, Ý, Hà Lan, Tây
Ban Nha, Anh, Úc) hoặc Ngân hàng trung ương
(NHTW) (Đan Mạch). Đây được gọi là cách thức
tổ chức tập trung. Mỗi một cách thức tổ chức
DMO đều có ưu nhược điểm riêng tuy nhiên
cách thức tổ chức DMO độc lập hoặc là một bộ
Có thể thấy trọng tâm của khái niệm phổ biến
về quản lý nợ công do IMF và WB đưa ra là
chiến lược quản lý nợ công. Chiến lược quản lý
nợ công có thể hiểu là một kế hoạch trung và dài
hạn đề ra phương hướng giúp chính phủ đạt được
các mục tiêu quản lý nợ [4]. Một chiến lược tổng
quan nói chung và chiến lược nợ công nói riêng
sẽ bao gồm các thành phần như tính cần thiết,
mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và kế hoạch hành
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
25
phận của Bộ tài chính được lựa chọn nhiều hơn
cả do mức độ gần gũi giữa chính sách quản lý nợ
công và chính sách tài khóa [5]. Thông thường
trong trường hợp các quốc gia có DMO thì cơ
cấu tổ chức của DMO sẽ phải có ba bộ phận
chính là bộ phận hỗ trợ (back-office) phụ trách
ghi chép, báo cáo và xây dựng phương án trả nợ,
bộ phận chuyển tiếp (middle – office) phụ trách
việc phân tích, giám sát và kiểm soát các hoạt
động vay nợ và bộ phận vận hành (front – office)
trực tiếp thực hiện các giao dịch liên quan đến
vay, trả nợ công và duy trì quan hệ với các nhà
đầu tư [6].
như một chính sách vĩ mô riêng biệt và thường
được giao nhiệm vụ hỗ trợ các chính sách vĩ mô
khác. Trong suốt thời gian đó, nhiệm vụ quản lý
nợ công thường nằm trong tay các quan chức tài
chính, tiền tệ. Kể từ cuối năm 1980 và trong suốt
1990, thiết lập thể chế cho hoạt động quản lý nợ
công đã trải qua một sự chuyển biến lớn ở một
số nước OECD [10]. Sự lo ngại này đến từ thảo
luận về mục tiêu của các chính sách vĩ mô khác
nhau và sự đánh đổi giữa chúng. Mở rộng tài
khóa hỗ trợ nền kinh tế làm gia tăng quy mô nợ
công và rủi ro có liên quan mâu thuẫn với mục
tiêu nợ công ổn định của chính sách quản lý nợ
công. Chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát có
xu hướng giữ lãi suất cao mâu thuẫn với mục tiêu
giảm chi phí vay nợ của chính sách quản lý nợ
công. Ngược lại một chính sách tiền tệ mở rộng
làm giảm lãi suất lại dẫn đến vay nợ nhiều hơn
từ đó làm gia tăng quy mô nợ công. Ngoài ra,
việc chính sách tiền tệ có thể can thiệp vào tỷ giá
cũng có thể làm thay đổi cơ cấu nợ nước ngoài
trong tổng nợ công. Theo chiều ngược lại, quản
lý nợ công cứng nhắc có thể sẽ không phù hợp
trong thời kỳ nền kinh tế suy thoái phải dựa
nhiều vào chính sách tài khóa mở rộng; quản lý
nợ công quá lỏng lẻo lại dẫn đến nợ gia tăng làm
phát sinh kỳ vọng về lạm phát và lãi suất cao, từ
đó ảnh hưởng tới chính sách tài khóa và tiền tệ.
Dần dần việc thừa nhận xung đột trong lợi ích và
nhận thức sâu sắc hơn về vấn đề các chính sách
khác nhau nên được quản lý bởi các cơ quan
khác nhau của các chính phủ đã mở đường cho
sự độc lập của NHTW và tương ứng là sự tự chủ
gia tăng cho cơ quan quản lý nợ công [10]. Hiện
nay có thể nói chính sách quản lý nợ công có sự
gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa do bản
chất của hai chính sách này đều liên quan đến
thuế và chi tiêu chính phủ và phần lớn các chính
phủ đều hướng tới môi trường tài khóa bền vững.
Ngược lại sự kết hợp giữa chính sách quản lý nợ
công và chính sách tiền tệ ngày càng mờ nhạt do
chính sách tiền tệ dần trở nên độc lập và đối
tượng quản lý chính của chính sách tiền tệ độc
- Nội dung quản lý nợ công: là hoạt động
theo dõi, phân tích đánh giá và đưa ra kế hoạch
hành động liên quan đến nợ công để đạt được
mục tiêu định sẵn. Nội dung này có thể nêu ra
dưới dạng văn bản hoặc không. Trong trường
hợp nội dung được thể hiện dưới dạng văn bản
thì đó chính là chiến lược quản lý nợ công.
Thông thường các chiến lược nợ công sẽ có mục
tiêu tối thiểu hóa chi phí khi vay nợ trong trung
hạn. Đây là quan điểm bảo hiểm tài khóa truyền
thống khi tạo ra vị thế nợ quốc gia có thể chống
chịu được với các cú sốc, qua đó ngăn ngừa việc
điều chỉnh lớn các chương trình về chi tiêu công
hoặc thuế suất [7] giúp duy trì lãi suất, lạm phát
ổn định [8]. Hiện tại, phần lớn các nhà quản lý
nợ công đều đồng ý với mục tiêu được đưa ra
trong định nghĩa về quản lý nợ công của IMF và
WB đó là đảm bảo cho nhu cầu tài trợ chi tiêu
của chính phủ và nghĩa vụ trả nợ được đáp ứng
ở mức chi phí thấp nhất trong ngắn hạn và dài
hạn dựa trên mức độ rủi ro hợp lý1 Đây được coi
.
là mục tiêu tổng hòa các mục tiêu truyền thống
liên quan đến thuế suất, lãi suất và lạm phát,
đồng thời xét đến cả giảm thiểu rủi ro liên quan
đến nợ công như rủi ro thị trường, rủi ro đảo nợ.
- Phối hợp với các chính sách khác: Hai thập
kỷ trước đây, quản lý nợ công được nhìn như là
một phần mở rộng của chính sách tiền tệ hoặc
chính sách tài khóa [9]. Nó không được đánh giá
________
1
Rủi ro liên quan đến quản lý nợ công bao gồm rủi ro thị
trường (rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá), rủi ro thanh khoản, rủi
ro tín dụng, rủi ro thanh toán và rủi ro điều hành.
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
26
lập lại là cung tiền. Ngoài ra, cách thức tổ chức
sách quản lý nợ công phối hợp chặt chẽ hơn với
chính sách tài khóa nên cơ quan quản lý nợ công
chuyên biệt trực thuộc một bộ nếu có thường
nằm trong BTC.
cơ quan quản lý nợ công đã hàm ý về sự phối
hợp chính sách: nếu đặt trong BTC thì hàm ý
phối hợp với chính sách tài khóa, NHTW thì hàm
ý phối hợp với NHTW. Vì thực tế cho thấy chính
Quốc hội
Giao quyền,
thiết lập mục
tiêu dài hạn
Báo cáo đảm bảo
tính minh bạch
và sự tin cậy
Chính phủ
Bộ tài chính
NHTW
Tham vấn
Kiểm toán
Cơ quan quản lý nợ công
Hình 1. Mô hình quản lý nợ công2
Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của WB và IMF [11]
Với việc cơ cấu tổ chức có hai lựa chọn (có
công, chính sách quản lý nợ công phối hợp chặt
chẽ với chính sách tài khóa; mô hình quản lý nợ
công với cơ cấu tổ chức phi tập trung tức là
không có DMO, không có chiến lược quản lý nợ
công, chính sách quản lý nợ công phối hợp chặt
chẽ với chính sách tiền tệ. Tuy nhiên trên thực tế
chỉ có vài dạng mô hình quản lý nợ công phù hợp
với điều kiện thực tế của từng nhóm nước. Vậy
đó là những mô hình nào?
hoặc không có cơ quan chuyên biệt quản lý nợ
công), cách thức thể hiện nội dung quản lý nợ
công có hai lựa chọn (có hoặc không có chiến
lược quản lý nợ công) và hai cách thức phối hợp
chính sách (phối hợp với chính sách tài khóa
hoặc tiền tệ), về mặt tổ hợp chúng ta có thể có
đến 8 mô hình quản lý nợ công khác nhau. Ví dụ
mô hình quản lý nợ công với cơ cấu tổ chức tập
trung tức là có DMO, có chiến lược quản lý nợ
________
2 Mô hình quản lý nợ công được biểu diễn dựa trên cơ cấu
tổ chức thường gặp đó là cơ quan quản lý nợ công trực thuộc
BTC
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
27
Bảng 1. Một số mô hình quản lý nợ công ở các nước trên thế giới
Cơ quan quản
lý nợ công
Chiến lược quản
lý nợ công tổng
thể
Mục tiêu
Ưu tiên
phối hợp
chính
sách
Úc
Trực thuộc
BTC
Có
Danh mục nợ công phải được thiết lập với chi CSTK
thấp nhất trong dài hạn, tương ứng với mức
rủi ro chấp nhận được
Đan
Mạch
Trực thuộc
NHTW
Có
Có
Vay được ở mức chi phí thấp nhất trong dài
hạn; duy trì rủi ro chấp nhận được; xây dựng
và hỗ trợ một thị trường tài chính hoạt động
tốt, hiệu quả
Duy trì mức độ ổn định của nghĩa vụ nợ phải
trả hàng năm; giảm thiểu rủi ro nợ của chính
phủ
CSTT
Ai Len
Cơ quan độc
lập
CSTK và
CSTT
Niu Di
Lân
Trực thuộc
BTC
Không có, chỉ có
văn bản hướng
dẫn quy trình,
cách thức quản lý
nợ công
Tối đa hóa thu nhập tài sản tài chính của nợ
chính phủ; duy trì rủi ro nợ công thấp nhất có
thể
CSTK
Bồ Đào
Nha
Trực thuộc
BTC
Có
Đảm bảo đủ quỹ cho hoạt động của chính phủ, CSTK
nợ công ở mức ổn định và tối thiểu hóa chi phí
nợ chính phủ trong dài hạn
Thụy
Điển
Cơ quan độc
lập
Không có, chỉ có
văn bản hướng
dẫn quy trình,
cách thức quản lý
nợ công
Tối thiểu hóa chi phí trong dài hạn gắn với rủi CSTT
ro của từng phương thức tài trợ
Anh
Trực thuộc
BTC
Có
Tối thiểu hóa chi phí trong dài hạn; hằng năm
điều chỉnh các khoản vay nợ theo tiêu chuẩn
định sẵn
Đảm bảo an toàn danh mục tài sản – nợ trong
tài chính quốc gia, duy trì lãi suất đi vay thấp
nhất trong trung và dài hạn cùng với việc kiểm
soát các rủi ro
CSTK
CSTK
Đức
Cơ quan độc
lập
Không có
Tây Ban
Nha
Canada
Trực thuộc
BTC
Không có
Có
Có
Củng cố vị thế tài khóa dựa trên mục tiêu tăng CSTK
trưởng tối thiểu
Duy trì chi phí thấp ổn định cho các khoản
vay của chính phủ và thị trường trái phiếu
chính phủ trong nước khỏe mạnh
Đảm bảo chi tiêu, vay nợ của chính phủ phục
vụ cho chính sách tăng trưởng
CSTK và
CSTT
CSTK
CSTK
Xinh-ga- Không có
po
In-đô-nê- Trực thuộc
Không có
Có
Tối thiểu hóa chi phí đi vay trong mức độ rủi
ro có thể chấp nhận được
si-a
BTC
Phi-líp-
pin
Cơ quan độc
lập
Có
Duy trì danh mục nợ bền vững với chi phí và
rủi ro ở mức chấp nhận được; phát triển thị
trường vốn trong nước
CSTK và
CSTT
Kenya
Trực thuộc
Có
Giữ nợ công ổn định trong điều kiện chi phí đi CSTK
BTC
vay và mức độ rủi ro tối thiểu
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
28
Sri
Lanka
Trực thuộc
NHTW
Có
Có
Giảm thiểu chi phí trực tiếp, gián tiếp của nợ
công trong dài hạn; thúc đẩy hiệu quả thị
trường trái phiếu chính phủ
Đảm bảo nhu cầu tài chính của chính phủ và
các nghĩa vụ thanh toán nợ được đáp ứng một
cách kịp thời; phát triển thị trường nợ trong
nước
CSTT và
CSTK
Liberia
Trực thuộc
BTC
CSTK
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Trong phần lớn các quốc gia, quản lý nợ
công sẽ trải qua một vài giai đoạn phát triển điển
hình: quản lý phi thị trường sau đó chuyển tiếp
tới quản lý theo hệ thống thị trường định hướng,
quản lý theo phương pháp tài sản – công nợ
(Asset Liability Management – LAM) và cuối
cùng là các dịch vụ tài khóa kết hợp với quản lý
theo phương pháp tài sản – công nợ [15].
điểm chính của giai đoạn này đó là sự tín nhiệm
đối với hệ thống quản lý nợ trong đó trọng tâm
là hoạt động quản trị rủi ro và sự hợp nhất của
quản lý nợ với quản lý toàn bộ dòng tiền của
chính phủ. Trong giai đoạn này, cơ chế cơ bản
để tài trợ ngân sách là thông qua việc phát hành
trái phiếu chính phủ (TPCP) trên thị trường vốn
trong nước. Sự phát triển của thị trường trái
phiếu trong nước cũng cho phép chuyển đổi hệ
thống vay mượn tài trợ chi tiêu công từ dựa chủ
yếu trên hệ thống ngân hàng chuyển sang dựa
chủ yếu trên thị trường vốn. Định hướng thị
trường đương nhiên sẽ gây nên nhiều rủi ro tài
chính hơn và do đó quản trị rủi ro trở thành một
thành tố quan trong trọng quản lý nợ công giai
đoạn này. Chính phủ bắt đầu thành lập các đơn
vị, cơ quan riêng biệt gọi là cơ quan quản lý nợ
công. Sự thành lập của đơn vị độc lập này cho
thấy sự tách biệt hoàn toàn của hoạt động quản
lý nợ công với chính sách tiền tệ và một phần của
hoạt động này với chính sách tài khóa. Phương
thức quản lý nợ công giai đoạn này đã có bước
phát triển khi thị trường vốn trong nước bước
đầu được hình thành và cơ sở pháp lý trở nên
hoàn chỉnh hơn. Phương thức này thường được
áp dụng ở các nước đang phát triển với năng lực
quản lý đã bước đầu được cải thiện.
Trong giai đoạn đầu tiên, chính phủ dựa trên
các công cụ phi thị trường để tài trợ cho các
khoản nợ đến hạn và cho phần lớn thâm hụt ngân
sách. Một thị trường vốn trong nước chưa phát
triển thực sự hạn chế việc lựa chọn các công cụ
nợ của chính phủ. Chính phủ ở những thị trường
như thế này thường tìm đến ngân hàng hoặc các
tổ chức tài chính quốc tế, các quốc gia phát triển
để vay với phần lớn là các khoản vay ưu đãi [16].
Trong giai đoạn này, ngay cả tài trợ trực tiếp từ
ngân hàng trung ương cũng là một cách để chính
phủ tìm kiếm nguồn tài trợ. Tiền tệ hóa khoản nợ
là một cách để tài trợ cho thâm hụt nhưng sẽ để
lại hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế khi lạm phát
tăng cao do lượng tiền cơ sở tăng lên. Trong giai
đoạn vay mượn phi thị trường, các chức năng
quản lý nợ bị hạn chế, nó chỉ bao gồm việc ghi
nhận sổ sách các giao dịch vay mượn và hoàn trả
nợ. Một hoặc vài cơ quan riêng biệt được trao
quyền để quản lý nợ công chưa được thành lập.
Quản lý nợ không tồn tại như một chính sách độc
lập mà được tiến hành trong khuôn khổ của chính
tiền tệ hoặc tài khóa [16]. Phương thức quản lý
nợ công giai đoạn này thường được sử dụng bởi
chính phủ các nước kém phát triển do thị trường
vốn trong nước còn sơ khai, khó tiếp cận với thị
trường vốn quốc tế cộng với năng lực quản lý
hạn chế.
Giai đoạn thứ ba của quản lý nợ công chứng
kiến chính phủ áp dụng cách tiếp cận quản lý tài
sản – nợ (Asset Liability Managemetn - ALM)
trong đó phối hợp các đặc điểm tài chính của tài
sản và nợ chính phủ với nhau một cách hợp lý,
từ đó quản lý rủi ro hiệu quả hơn. Quản lý nợ
công trong giai đoạn này bắt đầu bao gồm không
chỉ nợ hiện hữu mà còn có các khoản nợ tiềm
năng, những thứ là nguồn cơn gây nên rủi ro tài
khóa. Theo cách này, vị thế tài khóa thực sự của
một quốc gia được bộc lộ. Doanh thu ngân sách
Giai đoạn hai của quản lý nợ công là việc
chuyển tiếp lên hệ thống có tính thị trường. Đặc
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
29
tương lai, đại diện cho một thành tố chính trong
tài sản của chính phủ và chúng thường được định
danh dưới dạng đồng nội tệ, ít nhạy cảm đối với
sự thay đổi lãi suất và lạm phát trong ngắn hạn
lúc này sẽ được đưa vào trong danh mục quản lý.
Nếu nợ hiện tại và nghĩa vụ nợ tiềm năng được
tính theo đồng nội tệ, có kỳ hạn ngắn và không
được chỉ số hóa theo lạm phát thì rủi ro của nợ
chính phủ trước sự biến động của tỷ giá, lãi suất
và lạm phát giảm một cách đáng kể [17]. Phương
thức này đòi hỏi năng lực quản lý nợ cũng như
cơ sở công nghệ ở mức độ nhất định để thu thập,
xử lý và phân tích thông tin một cách kịp thời.
Do đó nó được áp dụng ở một phần các quốc gia
đang phát triển có thu nhập trung bình cao và các
nước mới nổi.
của chính phủ về quản lý dòng tiền và rủi ro, tư
vấn hoặc kiểm soát các dự án PPP, nhận tiền gửi
hoặc kéo dài các khoản nợ của chính quyền địa
phương và các cơ quan công quyền khác. DMO
thông qua các dịch vụ như nhận tiền gửi và cho
vay, cung cấp một lựa chọn thay thế trong giao
dịch vốn ngân sách bên cạnh dịch vụ cung cấp
bởi ngân hàng do đó làm gia tăng tiết kiệm chính
phủ [18]. Quản trị tài sản và nợ chính phủ bây
giờ bao gồm quản trị tài sản chính phủ chủ động
và quản trị các quỹ chính phủ nhất định [19]. Đây
là phương thức quản lý nợ công với năng lực
quản trị và hệ thống công nghệ ở trình độ cao,
đồng thời hệ thống luật pháp liên quan đến nợ
công được xây dựng một cách đầy đủ và chặt
chẽ. Do đó phương thức này thường được áp
dụng ở một số nước phát triển.
Giai đoạn cuối cùng của quản lý nợ công đó
là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho các cơ
quan chính phủ và chính quyền địa phương cùng
với phương thức ALM. Phạm vi chức năng của
DMO được mở rộng bao gồm cả đánh giá các
khoản nợ của chính phủ, tư vấn các cơ quan khác
Hình 2 minh họa sự kết hợp giữa mô hình
quản lý nợ công trên thực tiễn với cách phân chia
quản lý nợ công theo mức độ phát triển ứng với
trình độ phát triển của mỗi quốc gia.
Hình 2. Các mô hình quản lý nợ công phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp.
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
30
Mô hình quản lý nợ công được xây dựng dựa
quốc hội, chính phủ ở các nước này tập trung giải
quyết trước hết là về mặt pháp lý (cơ cấu tổ chức,
quy trình hoạt động) và sau đó là đầu tư nâng cao
năng lực chuyên môn, công nghệ của hệ thống
quản lý.
trên trình độ phát triển của quốc gia có những
bằng chứng nhất định trên thực tế. Theo khảo sát
của WB năm 2013 tiến hành trên 117 quốc gia,
có thể thấy hơn một nửa các quốc gia bao gồm
cả nước có thu nhập cao, trung bình và thấp đều
có chiến lược quản lý nợ công (tỷ lệ trung bình
60%) [12]. Chất lượng chiến lược ở các quốc gia
có thu nhập cao và trung bình cao hơn ở các quốc
gia có thu nhập thấp [12]. Cụ thể các quốc gia có
thu nhập càng cao thì xu hướng hình thành DMO
chuyên biệt và độc lập trong chính phủ càng lớn.
Mục tiêu của quản lý nợ công theo đó cũng được
mở rộng từ chỉ tối thiểu hóa chi phí vay nợ lên
kèm theo các mục tiêu phức tạp khác như kiểm
soát rủi ro, duy trì nợ công bền vững; chính sách
quản lý nợ công được độc lập hóa và hình thành
cơ chế phối hợp với các chính sách vĩ mô khác
để tạo ra ổn định tổng thể cho nền tài chính quốc
gia. Ngoài ra cũng trong đánh giá về hoạt động
quản lý nợ thường niên của mình (Debt
Có thể thấy mô hình quản lý nợ công ở các
nước phát triển và chuyển đổi với công cụ hiện
đại, cơ quan quản lý nợ công chuyên biệt và độc
lập, hệ thống quản lý nợ công hoàn thiện có rất
nhiều ưu điểm như đa dạng hóa công cụ tài trợ
nợ, đảm bảo hoạt động nợ công diễn ra độc lập
không bị tác động bởi các mục tiêu vĩ mô khác.
Ngược lại, một mô hình như vậy đòi hỏi trình độ
nguồn nhân lực và khả năng tổ chức rất cao. Đối
với các mô hình ở các quốc gia đang phát triển
thì mức độ tổ chức đơn giản hơn vì thế đòi hỏi
trình độ nguồn lực không cao bằng, nhưng đổi
lại cơ quản quản lý nợ công lại phụ thuộc vào
BTC hoặc NHTW khiến chính sách quản lý nợ
công dễ bị tác động bởi những mục tiêu vĩ mô
khác. Ngoài ra công cụ tài trợ vốn chủ yếu dựa
vào thị trường trái phiếu chính phủ cũng hạn chế
phần nào nguồn cung ứng vốn và khả năng phân
tán rủi ro nợ công.
Management Performance Assessment
–
DeMPA), khi khảo sát kỹ hơn về các nội dung
khác trong quản lý nợ công như thu thập, theo
dõi, phân tích số liệu ở các nước thu nhập trung
bình và thấp, WB đánh giá 41% các quốc gia
thuộc nhóm này không đáp ứng được yêu cầu tối
thiểu do mình đặt ra. Những kết quả khảo sát trên
của WB cho thấy các nước thu nhập thấp và một
phần các nước thu nhập trung bình gặp vấn đề
đối với chất lượng của hoạt động quản lý nợ công
trong khi các nước thu nhập cao làm tốt ở hầu hết
các tiêu chỉ [13]. IMF (2018) đã chỉ ra nguyên
nhân dẫn đến sự yếu kém trong quản lý nợ công
ở các nước thu nhập thấp và trung bình đó là i)
thiếu động lực để tạo ra cơ sở dữ liệu về nợ công
đáng tin cậy dẫn đến số liệu được ghi nhận không
chính xác, không kịp thời ii) quy trình thu thập
số liệu không hoàn thiện dẫn đến thu thập thiếu
dữ liệu iii) cơ sở vật chất và nguồn lực con người
còn thiếu đặc biệt là cơ sở về công nghệ iv) trách
nhiệm phân tán và thiếu sự phối hợp về mặt thể
chế giữa các cơ quan, bộ phận trong chính phủ
v) năng lực kiểm toán còn hạn chế [14]. Đây đều
là những nguyên nhân mang đặc trưng của các
nước có thu nhập thấp và trung bình, tuy nhiên
điều này hoàn toàn có thể cải thiện được nếu
Dựa trên việc phân tích các mô hình nợ công
đang được thực hiện trên thế giới, có thể rút ra
hai bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
i) cần xây dựng mô hình quản lý nợ công phù
hợp với trình độ phát triển kinh tế và cụ thể là
trình độ phát triển của thị trường tài chính. Mô
hình quản lý nợ công với công cụ thị trường định
hướng, có cơ quan DMO chuyên bộ phụ thuộc
BTC, hệ thống pháp luật về quản lý nợ công có
luật riêng và chiến lược quản lý là phù hợp với
điều kiện của Việt Nam ii) dù thực hiện mô hình
nào thì luôn phải chú trọng phát triển nguồn nhân
lực (thu thập, xử lý, tổng hợp số liệu, dự báo,
quản lý nợ chuyên nghiệp) và hoàn thiện hệ
thống pháp luật về quản lý nợ công để luôn chủ
động trong việc nâng cấp mô hình hiện tại.
3. Mô hình quản lý nợ công ở Việt Nam
Trước năm 2009, Luật về Quản lý Nợ công
chưa được ban hành. Đối với vay nợ trong nước,
văn bản pháp lý cao nhất là Pháp lệnh số
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
31
12/1999/PL-UBTVQH10 ngày 27/4/1999 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về phát hành công
trái xây dựng Tổ quốc và Nghị định số
141/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành
trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo
lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương. Đối
với vay nợ nước ngoài, văn bản pháp lý cao nhất
là Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày
01/11/2005 của Chính phủ ban hành Quy chế
quản lý vay và trả nợ nước ngoài, và Nghị định
số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính
phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn
hỗ trợ phát triển chính thức. Việt Nam cũng chưa
có cơ quan chuyên biệt để quản lý nợ công, càng
không có chiến lược quản lý nợ công. Như vậy
có thể thấy trước năm 2009, Việt Nam theo mô
hình quản lý nợ công đặc trưng của một nước
kém phát triển, cho dù thực tế lúc đấy đối xử Việt
Nam nhận được từ các tổ chức quốc tế là đối với
nước đang phát triển. Điều này cho thấy tại thời
điểm đó Việt Nam đang tụt hậu so với thế giới
trong cách thức tổ chức quản lý nợ công.
2011 – 2015. Thậm chí vấn đề về nợ công còn
được sự chỉ đạo sát sao từ Đảng thông qua Nghị
quyết 07/NQ-TW ngày 18/11/2016 của Bộ
Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân
sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền
tài chính quốc gia an toàn, bền vững. Với nỗ lực
phát triển thị trường trái phiếu trong những năm
trở lại đây cộng với việc kiện toàn hệ thống pháp
lý quản lý nợ công, chiến lược quản lý nợ công
và tổ chức hoạt động quản lý nợ công, Việt Nam
đang thực sự xây dựng mô hình quản lý nợ công
đặc trưng đối với các nước đang phát triển trong
giai đoạn quản lý nợ theo hệ thống thị trường
định hướng. Hình 3 dưới đây mô tả mô hình quản
lý nợ công hiện tại của Việt Nam.
Đây là mô hình quản lý như phân tích ở Hình
2 được nhiều nước đang phát triển sử dụng nhất
là trong giai đoạn khi mới hình thành thị trường
trái phiếu nói riêng và thị trường vốn nói chung
ở trong nước. Cụ thể, Việt Nam đã có một cơ
quan chuyên trách quản lý nợ công trực thuộc
BTC, có chiến lược quản lý nợ công với những
chỉ tiêu an toàn được Quốc hội quy định và hoạt
động quản lý nợ công được phối hợp chặt chẽ với
chính sách tài khóa nhằm hướng đến nền tài
chính quốc gia an toàn, bền vững.
Thấy rõ được ích lợi của một hệ thống quản
lý nợ công bài bản, đặc biệt là sau cuộc khủng
hoảng kinh tế 2008. Việt Nam trong năm 2009
đã ban hành Luật quản lý nợ công 2009 và mới
nhất là là bản sửa đổi năm 2017, từ đó việc quản
lý nợ công mới bắt đầu có tổ chức. Cục quản lý
nợ thuộc BTC cũng đã được thành lập theo quyết
định của 1168/QĐ-BTC ngày 22/5/2009. Ngay
sau đó chiến lược quản lý nợ trung và dài hạn
giai đoạn 2011 – 2020 tầm nhìn đến năm 2030
được thiết lập theo Quyết định 958/QĐ-TTg của
thủ tướng chính phủ. Quy định nghiệp vụ quản
lý nợ công chi tiết hơn còn được Chính phủ
hướng dẫn qua Quyết định về quy chế và xử lý
rủi ro đối với danh mục nợ công năm 2012 và
Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công năm
2018. Ngoài ra Quốc hội cơ quan quyền lực cao
nhất cũng ấn định những tiêu chí quan trọng như
trần nợ công, tạo cơ sở pháp lý cho việc giám sát
thông qua Nghị quyết chi tiêu ngân sách giai
đoạn 2016 – 2020, giai đoạn 2021 – 2025 và
trước đó là kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
Kết quả rõ rệt khi mô hình quản lý nợ công
bài bản được hình thành đó là các số liệu nợ công
được cập nhật thường xuyên trong bản tin nợ
công công bố định kỳ bởi BTC3. Các đánh giá
phân tích nợ công Việt Nam vì thế trở nên dễ
dàng, thực tiễn và định lượng hơn [20]. Đây là
cơ sở cho công tác điều hành quản lý nợ công trở
nên hiệu quả. Kết quả là các chỉ tiêu nợ công
luôn nằm trong ngưỡng an toàn được Quốc hội
ấn định, trừ tỷ trọng nợ công nước ngoài hiện vẫn
đang hơn ngưỡng một chút (xem bảng 2). Một
biểu hiện khác cho việc quản lý nợ công hiệu quả
đó là xếp hạng tín nhiệm quốc gia liên tục được
nâng cao trong những năm gần đây. Đánh giá của
S&P, Fitch và Moody dành cho xếp hạng tín
nhiệm của Việt Nam liên tục tăng trong giai đoạn
2009 - 2018 (trong giai đoạn này Moody thăng
hạng Việt Nam từ B1 lên Ba3; Fitch BB- lên BB;
________
3
Xem thêm về các bản tin nợ công của Việt Nam tại
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
32
S&P giữ nguyên ở mức BB)4. Đặc biệt, ngay
trong thời điểm khó khăn do dịch Covid 19 gây
ra thì xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam là một
trường hợp ngoại lệ khi vẫn duy trì được mức tín
nhiệm không đổi với triển vọng ổn định trong
tương lai [21].
Hình 3. Mô hình quản lý nợ công ở Việt Nam.
Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên Luật quản lý nợ công 2017.
________
4
Xem lịch sử xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
33
Bảng 2. Tỷ trọng nợ công/GDP và nợ nước ngoài/tổng nợ công giai đoạn 2006 – 2018
Đơn vị: phần trăm
2006
45,9
2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Tỷ trọng
nợ
công/GDP
49,7
47,9
51,0
54,3
54,9
50,8
54,5
58,0
61,0
63,7
61,4
58,4
Ngưỡng
an toàn tỷ
trọng nợ
công/GDP
60
60
60
60
60
65
65
65
65
65
65
65
65
Tỷ trọng
nợ nước
ngoài/tổng
nợ công
58,2
56,9
50
52,4
50
57,5
50
55,8
50
43,3
50
45,8
50
50,2
50
54,6
50
58,0
50
59,0
50
59,7
50
40,6
50
Ngưỡng
an toàn tỷ
trọng nợ
nước
50
ngoài/tổng
nợ công
Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên số liệu của Bản tin nợ công Việt Nam giai đoạn 2006 – 2018.
Như đã phân tích ở trên, xét tổng hòa các
điều kiện về hệ thống pháp lý, năng lực đội ngũ
cán bộ và cơ sở công nghệ ở Việt Nam hiện nay
thì mô hình quản lý nợ công đang có là phù hợp.
Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế tồn tại trong
hệ thống quản lý nợ công của Việt Nam khi so
sánh với những thực tiễn áp dụng tốt mô hình
tương tự trên thế giới đó là: i) hệ thống pháp luật
còn thiếu đặc biệt trong khâu kiểm tra, giám sát
hoạt động quản lý nợ công của chính phủ ii) số
liệu chưa được đầy đủ, thiếu cập nhật iii) thiếu
nguồn nhân lực có chất lượng nên phần phân tích
đánh giá và dự báo về nợ công phục vụ công tác
quản lý còn yếu iv) hoạt động kiểm toán nợ công
nói chung còn nhiều bất cập khiến nhiều vụ việc
vi phạm chi tiêu ngân sách nhưng đến khi bại lộ
thì kiểm toán mới vào cuộc [22-23].
Ngoài ra, ngay kể cả khi khắc phục được tất cả
các hạn chế nêu trên thì mô hình quản lý nợ công
tại Việt Nam trong dài hạn nếu giữ nguyên sẽ
không thể theo kịp thực tiễn khi các công cụ tài
chính tài trợ nợ công ngày càng trở nên phức tạp
hơn, các cơ quan chính phủ sử dụng ngân sách
với những mục tiêu riêng ngày càng chuyên biệt
và dữ liệu về nợ công ngày càng nhiều. Điều này
đòi hỏi việc chuyển đổi mô hình hiện tại sang mô
hình quản lý nợ công tiệm cận các quốc gia mới
nổi. Nếu khắc phục những hạn chế trong mô hình
quản lý nợ công hiện tại là những mục tiêu trong
ngắn hạn thì việc chuyển đổi mô hình quản lý nợ
công sẽ là một mục tiêu trong dài hạn.
4. Giải pháp xây dựng mô hình quản lý nợ
công hiệu quả ở Việt Nam
Trong điều kiện ngày càng xuất hiện nhiều
cú sốc thị trường (như khủng hoảng kinh tế 2008,
đại dịch Covid 19), bối cảnh cần phải có sự can
thiệp mạnh mẽ từ chính phủ cùng với đó là sự
giảm dần các nguồn vốn vay ưu đãi từ bên ngoài
khiến cho việc cải thiện chất lượng hệ thống
quản lý nợ công là cần thiết hơn bao giờ hết.
Để khắc phục được những hạn chế hiện tại
của hệ thống và dần dần chuyển sang mô hình
quản lý nợ công hiện đại hơn, chính phủ Việt
Nam cần thực hiện một số giải pháp sau đây:
Trước hết cần đào tạo nguồn nhân lực phù
hợp, đáp ứng được nhu cầu về thu thập, xử lý số
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
34
liệu, từ đó đưa ra các phân tích, dự báo chất
khoản chi, khoản vay có thể dẫn đến rủi ro lớn
lượng. Hoạt động này sẽ dễ dàng hơn nếu chúng
ta có được sự trợ giúp kỹ thuật từ phía IMF, WB
và các quốc gia có mô hình quản lý nợ công hiện
đại hơn. Thứ hai, chính phủ cần phải cải thiện hệ
thống thông tin, nâng cấp công nghệ để nhanh
chóng cập nhật số liệu từ các bộ ban ngành, địa
phương và công khai trên website (ví dụ website
ckns.mof.gov.vn công khai số liệu ngân sách của
tất cả các địa phương và bộ ban ngành). Việc
minh bạch thông tin và cung cấp thông tin nhanh
chóng vô hình chung sẽ tạo nên sức ép trong việc
cải thiện chất lượng số liệu nợ công khi có nhiều
bên có thể tham gia vào việc phản biện các vấn
đề về số liệu. Thứ ba, phát triển thị trường trái
phiếu nói riêng và thị trường vốn trong nước nói
chung để dần gia tăng tỷ lệ nợ trong nước trong
tổng nợ công. Đây là một trong những mục tiêu
gián tiếp của quản lý nợ công khi nợ trong nước
cơ bản sẽ có chi phí vay nợ thấp hơn nợ nước
ngoài cùng với các rủi ro đi kèm ít hơn. Có thể
thấy nợ nước ngoài trong tổng nợ công luôn ở
ngưỡng vượt trần (dù ít), chưa kể chi phí đi vay
nước ngoài sẽ ngày càng tăng khi Việt Nam
không còn là một quốc gia có thu nhập bình quân
đầu người thấp nữa. Hai yếu tố trên sẽ càng thúc
đẩy chính phủ phát triển thị trường vốn trong
nước ngày càng hoàn thiện. Thứ tư, chính phủ
cần lên kế hoạch kiểm soát các khoản nợ tiềm
tàng trong hoạt động quản lý nợ công càng sớm
càng tốt. Những khoản nợ trong tương lai của
quỹ bảo hiểm xã hội quốc gia, những khoản nợ
trong dự án PPP… là những ví dụ của nợ tiềm
tàng, những khoản nợ mà khi tình hình kinh tế
xấu đi sẽ thật sự tạo thành gánh nặng cho chính
phủ nhưng lại chưa được quy định trong nợ công
theo luật và từ đó là hoạt động quản lý nợ công.
Thứ năm, chính phủ cần định hướng rõ hơn sự
phối hợp giữa ba chính sách tài khóa, tiền tệ và
quản lý nợ công trong một thể thống nhất. Nội
dung phối hợp này có thể được ghi trong chiến
lược quản lý nợ công, đặc biệt là đối với các tình
huống phải đánh đổi mục tiêu giữa các chính
sách này. Cuối cùng, nhà nước nên kiện toàn hệ
thống kiểm toán đối với ngân sách trong đó trao
thêm nhiều quyền hơn nữa cho kiểm toán nhà
nước trong việc cảnh báo cho chính phủ những
hoặc vi phạm pháp luật về quản lý nợ công.
5. Kết luận
Quản lý nợ công là một trong những nhân tố
quan trọng ảnh hưởng đến mức độ bền vững của
nợ công, từ đó góp phần duy trì ổn định vĩ mô và
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trên thế giới đã
hình thành bốn mô hình quản lý nợ công dựa trên
thực tiễn triển khai ở nhóm các quốc gia theo
trình độ phát triển của nền kinh tế. Đó là mô hình
quản lý nợ công ở các nước kém phát triển, đang
phát triển, chuyển đổi và phát triển. Mỗi một mô
hình sẽ có một kỹ thuật quản lý, cơ cấu bộ máy
quản lý và cách thức quản lý khác nhau. Hiện tại
Việt Nam đang quản lý theo mô hình các nước
đang phát triển với công cụ chính là thị trường
trái phiếu chính phủ, có cơ quan quản lý chuyên
trách nằm trong BTC và có luật cũng như chiến
lược quản lý nợ công riêng biệt. Tuy nhiên với
sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là thị
trường tài chính thì mô hình hiện tại bộc lộ một
vài bất cập. Dựa trên muc tiêu là nâng cấp mô
hình lên mô hình của các nước phát triển hơn,
Việt Nam cần phải tập trung vào các giải pháp
liên quan đến nhân lực, thông tin và thể chế.
Trong đó phát triển thị trường trái phiếu chính
phủ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực liên
quan đến quản lý nợ công là những giải pháp có
tính quyết định.
Tài liệu tham khảo
[1] D.Q. Bao, The science of Management and
Organization Statistical Publishing House, Hanoi,
1999 (in Vietnamese),
[2] IMF, Defining the Government’s debt and deficit,
Working paper, WP/15/238, 2015.
[3] IMF, Revised guidelines for public debt
management, IMF Policy paper, 2014.
[4] WB, Government debt management: Designing
debt management strategies, Debt management
learning & training note, 2017.
[5] E. Currie, J. Dethier and E. Togo, Institutional
arrangements for Public Debt Management, World
Bank Policy Research Working Paper 3021, 2003.
P.X. Truong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 22-35
35
[6] E.C. Pascal, The debt office and the effective debt
management functions: an institutional and
operational framework, Public debt and Public
Finance Working Paper, 2006.
[7] H. Bohn, Tax Smoothing with Financial
Instruments, American Economic Review, 80/5
(1990) pp 1217–1230.
[8] J. Tobin, An Essay on the Principles of Debt
Management, Fiscal and Debt Management
Policies, 2 (1963), Reprinted in J. Tobin Essays in
Economics, vol.1, Amsterdam: North Holland,
1971.
[9] E. Togo, Coordinating Public Debt Management
with Fiscal and Monetary Policies: An Analytical
Framework, World Bank Policy Research Working
Paper, No. 4369, 2007.
New Trends and Challenge, Central Banking
Publications Ltd, London, 2006, pp 300 – 325.
[17] G. Wheeler, Sound Practice in Government Debt
Management, The World Bank Publication,
Washington D.C, 2004. doi. 10.1596/0-8213-5073-0.
[18] National Treasury Management Agency, Ireland
Information Memorandum 2010, National
Treasury Management Agency, Dublin, 2010.
[19] M. Williams, The growing responsibilities of debt
management offices, in: M. Williams, P. Brione
(Eds.), Government Debt Management: New
Trends and Challenge, Central Banking
Publications Ltd, London, 2006, pp 258 – 273.
[20] H.N. Au, Public debt management in Vietnam in
the
international
integration
period
(in
Vietnamese),
[10] L. Hoogduin, B. Ozturk & P.Wierts, Public debt
managers’ behavior: interactions with macro
policies, DNB Working paper No.273, 2010.
[11] WB, Debt management performance assessment
(DeMPA) methodology, 2015.
[12] R. Cabral, How strategically is public debt being
managed around the globe? A survey on public
debt management strategies, WB Financial
advisory and Banking department report, 2015.
(accessed 20 August 2020).
[21] T. Phung, Firmly maintaining the country’s credit
rate (in Vietnamese), http://tapchitaichinh.vn/su-
August 2020).
[22] N.T. Binh, The factors affecting the efficiency of
public debt management in Vietnam (in
Vietnamese),
[13] C. Aslan, A. Ajazaj & S.A. Wahidh, Study on
Public debt management system and results of a
survey on solutions used by debt management
office, WB Financial advisory and Banking
department report, 2018.
[14] IMF, G-20 note: Improving public debt recording,
monitoring, and reporting capacity in low and lower
middle-income countries: proposed reforms, 2018.
[15] A.A. Badurina, S. Svaljek, Public debt
management before, during and after the crisis,
Finance theory and practice, 36(1) (2012) 73 – 100.
[16] I. Storkey, Sound practice, in: M. Williams and P.
Brione (Eds.), Government Debt Management:
2020).
[23] T. Anh, Six solutions for public management in the
new context (in Vietnamese),
Bạn đang xem tài liệu "Các mô hình quản lý nợ công trên thế giới và hàm ý chính sách cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cac_mo_hinh_quan_ly_no_cong_tren_the_gioi_va_ham_y_chinh_sac.pdf

