Nghiên cứu khám phá tác động của các nhân tố lập luận đạo đức đến thái độ và ý định hành vi mua của người tiêu dùng hàng nhái tại Việt Nam
ISSN 1859-3666
MỤCꢀLỤC
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
1. Nguyễn Thị Uyên Uyên và Lê Trương Niệm - Tác động của đa dạng hóa đến rủi ro phi hệ thống
của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mã số: 151.1FiBa.11
The Impact of Diversification on Non-systematic Risk of Listed Companies on Vietnam Stock
Market
2
2. Nguyễn Bích Ngọc - Hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam từ lý thuyết đến thực
tiễn. Mã số: 151.1mEco.11
The Social Impact of Microfinance Institutions in Vietnam from Theory to Practice
3. Đoàn Thị Hồng Nhung - Ảnh hưởng của lợi thế thương mại đến giá trị thị trường của các công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mã số: 151.1FiBa.11
Studying the effect of goodwill on the market value of companies listed on Vietnam’s stock
market
14
26
4. Nguyễn Đắc Hưng - Mối quan hệ giữa doanh nghiệp Logistics và hoạt động kinh doanh ngân hàng
thương mại bị tác động bởi đại dịch Covid-19. Mã số: 151.1SMET.12
The Relationship between Logistics Businesses and Commercial Bank Operation under
Influence of Covid-19 Pandemic
35
QUẢN TRỊ KINH DOANH
5. Cảnh Chí Hoàng và Nguyễn Hữu Khôi - Nghiên cứu khám phá tác động của các nhân tố lập luận
đạo đức đến thái độ và ý định hành vi mua của người tiêu dùng hàng nhái tại Việt Nam. Mã số:
151.2BMkt.21
Research on the Impact of Moral Reasoning Strategies on the Buying Attitude, Intention, and
Behaviour of Counterfeit Product Consumers in Vietnam
6. Hoàng Thị Mai Lan - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên Báo cáo tài
chính trong doanh nghiệp quản lý và khai thác công trình thủy lợi Việt Nam. Mã số: 151.2FiBa.22
Research on factors affecting the quality of accounting information on financial statements in
Vietnamese Irrigation and Drainage Management Companies
42
50
7. Đặng Thị Minh Nguyệt, Ngô Thị Thành, Dương Thị Tình và Trần Thị Thảo Hương - Yếu tố
tác động đến hành vi sử dụng ví điện tử của sinh viên khối ngành kinh tế các trường đại học tại Hà
Nội. Mã số: 151.2FiBa.21
62
Factors Affecting E-wallet Use by Students of Economics at Universities in Ha Noi
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
8. Lê Quân và Mai Hoàng Anh - Doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong trường đại học công
lập tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp. Mã số: 151.3GEMg.32
Science and Technology Enterprises in Public Universities in Vietnam – Situation and
Solution
9. Mai Anh Vũ và Hà Thị Lan - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên đối
với chất lượng dịch vụ đào tạo tại Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa. Mã số:
151.3GEMg.32
70
80
A Study on the Factors Affecting Student Satisfaction with the Training Quality at Thanh Hóa
University of Culture, Sports, and Tourism
khoa học
1
thương mại
Số 151/2021
1
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGHIÊN CỨU KHÁM PHÁ TÁC ĐỘNG
CỦA CÁC NHÂN TỐ LẬP LUẬN ĐẠO ĐỨC
ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ Ý ĐỊNH HÀNH VI MUA
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG HÀNG NHÁI TẠI VIỆT NAM
Cảnh Chí Hoàng
Đại học Tài chính - Marketing
Email: [email protected]
Nguyễn Hữu Khôi
Đại học Nha Trang
Email: khoinh@ntu.edu.vn
Ngày nhận: 19/10/2020
Ngày nhận lại: 25/12/2020
Ngày duyệt đăng: 31/12/2020
ghiên cứu này tập trung vào nhân tố lập luận đạo đức để giải thích thái độ và ý định tiêu dùng
hàng nhái của người tiêu dùng Việt Nam. Cụ thể hơn, tác giả tập trung vào tác động trực tiếp
N
và gián tiếp của cơ chế hợp lý hóa đạo đức và tách rời đạo đức đến ý định tiêu dùng hàng nhái thông qua
thái độ tích cực với hành vi này. Kết quả kiểm định với kỹ thuật PLS-SEM cho thấy rằng thái độ tích cực
đối với việc tiêu dùng hàng nhái có tác động dương đến ý định mua hàng nhái. Quan trọng hơn, nghiên cứu
cho thấy hai thành phần của nhân tố lập đạo đức gồm sự hợp lý hóa đạo đức và sự tách rời đạo đức có tác
động trực tiếp và gián tiếp đến ý định mua hàng nhái thông qua thái độ. Do đó, nghiên cứu này đưa ra một
vài hàm ý học thuật và quản lý quan trọng.
Từ khóa: nhân tố lập luận đạo đức, hợp lý hóa đạo đức, tách rời đạo đức, thái độ, ý định hành vi.
JEL Classifications: D18, D83, M10
1. Giới thiệu
2019) và xem nhân tố lập luận đạo đức là yếu tố
Việc tiêu dùng hàng nhái không chỉ diễn ra phổ liên quan đến việc tiêu dùng hàng nhái
biến tại Việt Nam (Ha & Tam, 2015; Long & Vinh, (Bhattacharjee & cộng sự, 2013; Chen & cộng sự,
2017) mà còn xảy ra trên phạm vi toàn thế giới 2016; Orth & cộng sự, 2019).
(Chew, 2020; Eisend, 2016; Jiang & cộng sự, 2019;
Theo lý thuyết hành vi dự định, thái độ là một
Orth & cộng sự, 2019). Vì vậy, các nhà nghiên cứu trong những nhân tố tác động đến ý định hành vi
dành nhiều nỗ lực để giải thích hành vi mua hàng (Ajzen, 1991; Eisend, 2016). Trong bối cảnh tiêu
nhái của người tiêu dùng từ nhiều khía cạnh khác dùng hàng nhái, thái độ được chứng minh có tác
nhau tác động xã hội và kiểm soát hành vi cảm nhận động đến ý định tiêu dùng hàng nhái (Kim & cộng
(Cronan & Al-Rafee, 2008; Kim & Karpova, 2009), sự, 2016; Kim & Karpova, 2009; Marcketti &
danh tiếng thương hiệu và đặc điểm sản phẩm Shelley, 2009). Hơn nữa, thái độ của người tiêu
(Park-Poaps & Kang, 2017), hay kiến thức và hành dùng đối với việc tiêu dùng hàng nhái chịu tác động
vi mua hàng nhái trong quá khứ (Cronan & Al- của niềm tin về hành vi và kết quả của hành vi thực
Rafee, 2008; Marcketti & Shelley, 2009). Gần đây, hiện (Ajzen, 1991). Niềm tin đối với việc tiêu dùng
các nghiên cứu về tiêu dùng hàng nhái nhấn mạnh hành vi hàng nhái có thể được hình thành từ nhân tố
vào khía cạnh đạo đức (Eisend, 2016; Jiang & cộng lập luận đạo đức của người tiêu dùng nhằm ủng hộ
sự, 2019; Martinez & Jaeger, 2016; Orth & cộng sự, việc tiêu dùng hàng nhái (Bhattacharjee & cộng sự,
khoa học
!
thương mại
42
Số 151/2021
QUẢN TRỊ KINH DOANH
2013) bao gồm việc hợp lý hóa đạo đức (moral cảm tội lỗi. Cơ chế đầu tiên là hợp lý hóa đạo đức,
rationalization) và tách rời đạo đức (moral decou- được định nghĩa là quá trình tái cấu trúc hành vi trái
pling; Chen & cộng sự, 2016). Nói cách khác, hợp đạo đức thành các hành động ít trái đạo đức hơn
lý hóa đạo đức và tách rời đạo đức có thể tác động (Chen & cộng sự, 2016). Cơ chế thứ hai là sự tách
tích cực đến thái độ, từ đó thúc đẩy ý định tiêu dùng rời đạo đức được định nghĩa là quá trình trong đó
hàng nhái.
người tiêu dùng tách rời lợi ích của sản phẩm khỏi
Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào các đánh giá về đạo đức (Bhattacharjee & cộng sự,
tác động của hợp lý hóa đạo đức đến ý định hành vi 2013). Cả hai cơ chế này có thể được sử dụng cùng
(Aquino & cộng sự, 2007; Shu & cộng sự, 2011) mà lúc nhằm làm giảm bớt sự căng thẳng trong các tình
dành ít sự quan tâm vào sự tách rời đạo đức huống khó xử và bào chữa cho hành vi mua hàng
(Bhattacharjee & cộng sự, 2013; Chen & cộng sự, nhái (Chen & cộng sự, 2016).
2016; Orth & cộng sự, 2019). Vì vậy, mục tiêu đầu
tiên của nghiên cứu này là mở rộng mối quan hệ
2.2. Thái độ và ý định mua hàng nhái
Theo lý thuyết hành vi dự định (TPB; Ajzen,
giữa thái độ và ý định hành vi trong bối cảnh tiêu 1991), thái độ là một trong những chỉ báo quan
dùng hàng nhái (Cronan & Al-Rafee, 2008; Kim & trọng của ý định hành vi. Thái độ được định nghĩa là
Karpova, 2009) bằng việc xem xét tác động của cả đánh giá tổng thể của người tiêu dùng đối với một
hai biến số nhân tố lập luận đạo đức (hợp lý hóa đạo hành vi là tích cực hay tiêu cực (Eagly & Chaiken,
đức và tách rời đạo đức) đến thái độ và ý định hành 1993). Do đó, thái độ của người tiêu dùng đối với
vi. Để thực hiện mục tiêu này, nghiên cứu này xem hành vi tiêu dùng hàng nhái có thể hiểu là đánh giá
xét tác động trực tiếp của việc hợp lý hóa đạo đức và của họ đối với hành vi này bằng cách so sánh các
tách rời đạo đức đến ý định mua hàng nhái cũng như cặp thuộc tính đối lập như là tốt hoặc xấu, có lợi hay
xem xét tác động gián tiếp giữa các biến số này có hại, khiến họ cảm thấy thoải mái hay khó chịu và
thông qua thái độ đối với việc mua hàng nhái. thích hay không thích. Trong khi đó, ý định hành vi
Nghiên cứu kì vọng sẽ mang lại sự hiểu biết sâu sắc mua hàng nhái được định nghĩa là khả năng người
hơn về vai trò của lập luận đạo đức đến mối quan hệ tiêu dùng sẽ mua hàng nhái trong thời gian gần
giữa thái độ và ý định hành vi tiêu dùng hàng nhái (Ajzen, 1991). Lý thuyết TPB chỉ ra rằng khi người
trong bối cảnh Việt Nam.
tiêu dùng có thái độ tích cực với một hành vi, họ sẽ
có ý định thực hiện hành vi đó. Do đó, nghiên cứu
2. Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
2.1. Sự hợp lý hóa đạo đức và sự tách rời đạo đức kỳ vọng rằng, nếu người tiêu dùng có thái độ tích
Đạo đức được định nghĩa là các nguyên tắc hoặc cực với việc tiêu dùng hàng nhái, họ sẽ có ý định
các quy chuẩn tồn tại độc lập với các truyền thống mua hàng nhái. Kỳ vọng này phù hợp với kết quả
của các nhóm người như sự công bằng, sự thẳng của các nghiên cứu trước đây (Kim & cộng sự,
thắn và sự bình đẳng (Rutland & cộng sự, 2010). 2016; Kim & Karpova, 2009; Marcketti & Shelley,
Các nghiên cứu trước đây lập luận rằng khi người 2009) rằng thái độ tác động tích cực đến việc tiêu
tiêu dùng ra quyết định mua hàng nhái, họ thường dùng hàng nhái. Do đó, nghiên cứu này giả thuyết:
rơi vào trạng thái tình trạng khó xử về mặt đạo đức
(Bhattacharjee & cộng sự, 2013; Chen & cộng sự, có tác động dương đến ý định mua hàng nhái
2016; Tsalikis & cộng sự, 2008). Do đó, người tiêu 2.3. Sự hợp lý hóa đạo đức, thái độ và ý định
dùng sẽ có khuynh hướng giải quyết tình trạng khó mua hàng nhái
H1: Thái độ tích cực đối với tiêu dùng hàng nhái
xử này bằng cách lựa chọn các thông tin ủng hộ cho
Với việc sử dụng cơ chế hợp lý hóa đạo đức,
hành vi mong muốn, từ đó có thể cảm thấy thoải mái người tiêu dùng bào chữa cho việc mua hàng nhái
với hành vi mình lựa chọn (Ditto & cộng sự, 2009). bằng cách giảm bớt tính nghiêm trọng của hành động
Dựa trên lý thuyết thoát khỏi ràng buộc đạo đức này, đặc biệt là khi tính đạo đức của hành vi còn chưa
(moral disengagement theory), người tiêu dùng có rõ ràng hay hành vi không được xem là trái đạo đức
khuynh hướng lập luận ủng hộ cho các hành vi trái ngay tại lúc thực hiện (Lee & Kwak, 2015; Shu &
đạo đức nhằm tránh các mặc cảm tội lỗi cộng sự, 2011). Do đó, cơ chế này làm cho người tiêu
(Bhattacharjee & cộng sự, 2013; Tsang, 2002). Theo dùng cảm thấy rằng phần nào đó dường như họ vẫn
đó, các học giả đưa ra hai cơ chế để hạn chế mặc thực hiện đúng các nguyên tắc đạo đức (Tsang,
khoa học
!
43
thương mại
Số 151/2021
QUẢN TRỊ KINH DOANH
2002). Kết quả là, khi sử dụng cơ chế hợp lý hóa, 2015; Orth & cộng sự, 2019). Sự khác biệt của cơ
người tiêu dùng có thể suy giảm thái độ tích cực với chế này là người tiêu dùng gạt bỏ các tiêu chuẩn về
việc tuân thủ pháp luật (Cordell & cộng sự, 1996) và đạo đức và chỉ tập trung vào các lợi ích đạt được
gia tăng thái độ tích cực đối với hành vi mua hàng (Bhattacharjee & cộng sự, 2013; Chen & cộng sự,
nhái (Marcketti & Shelley, 2009). Ví dụ, người tiêu 2016). Vì lợi ích thúc đẩy thái độ tích cực (Eagly &
dùng có thể cảm thấy rằng việc mua hàng nhái không Chaiken, 1993), nghiên cứu kỳ vọng rằng cơ chế
tệ như những việc kinh khủng mà những người khác tách rời đạo đức sẽ làm người tiêu dùng gia tăng thái
làm hoặc mua hàng nhái cũng không gây quá nhiều độ tích cực (Orth & cộng sự, 2019). Do đó, giả
tác hại cho người khác trong khi mang lại lợi ích cho thuyết tiếp theo của nghiên cứu là:
mình. Do đó, nghiên cứu này giả thuyết rằng:
H2: Sự hợp lý hóa đạo đức có tác động dương thái độ tích cực đối với việc mua hàng nhái
đến thái độ tích cực đối với việc mua hàng nhái Như đã lập luận, cơ chế tách rời đạo đức cho
H4: Sự tách rời đạo đức có tác động dương đến
Hơn nữa, với tác động của quá trình hợp lý hóa phép tách rời các nguyên tắc đạo đức khỏi những lợi
và khuynh hướng lựa chọn hàng nhái trong suy ích của sản phẩm mang lại (Bhattacharjee & cộng
nghĩ, quá trình nhận thức của người tiêu dùng sẽ sự, 2013; Chen & cộng sự, 2016; Lee & Kwak,
được điều hướng đến việc tìm kiếm các bằng chứng 2015; Orth & cộng sự, 2019). Nói cách khác, cơ chế
và thông tin nhằm giảm bớt sự cảm nhận tội lỗi và này cho phép người tiêu dùng gắn liền việc tiêu
xấu hổ, ủng hộ cho việc mua hàng nhái dùng hàng nhái với những lợi ích mà họ nhận được
(Bhattacharjee & cộng sự, 2013). Kết quả là, cơ chế (Chen & cộng sự, 2016; Eisend, 2016; Orth & cộng
hợp lý hóa đạo đức khiến người tiêu dùng tự thuyết sự, 2019). Các lợi ích này có thể là các lợi ích tiện
phục bản thân rằng việc mua hàng nhái vẫn tuân ích (giá cả hợp lý), lợi ích tiêu khiển (sự vui vẻ vì
theo các tiêu chuẩn đạo đức của họ (Chen & cộng được sử dụng thương hiệu ưa thích) hoặc các lợi ích
sự, 2016), hoặc đổ lỗi cho người khác cho ý định về mặt xã hội (hình ảnh cá nhân) hoặc các lợi ích
mua hàng nhái của mình (Lee & Kwak, 2015), và kinh tế (sử dụng hàng thời trang; Sheth & cộng sự,
do đó vẫn hình thành ý định mua hàng nhái. Cuối 1991). Vì lợi ích tác động đến ý định hành vi (Babin
cùng, cơ chế hợp lý hóa cũng góp phần làm cho & cộng sự, 1994), nghiên cứu này kỳ vọng cơ chế
việc tác động của các yếu tố chống lại việc tiêu thu nhân tố tách rời đạo đức có tác động tích cực đến ý
hàng nhái như luật pháp trở nên lu mờ trong tâm trí định mua hàng nhái.
người tiêu dùng (Bhattacharjee & cộng sự, 2013;
H5: Sự tách rời đạo đức có tác động dương đến
Cordell & cộng sự, 1996), và đưa ra các phán xét ý định mua hàng nhái
đạo đức hỗ trợ cho việc mua hàng nhái (Chen &
Theo các lập luận trên, sự hợp lý hóa đạo đức
cộng sự, 2016). Từ các lập luận trên, nghiên cứu (Marcketti & Shelley, 2009) và sự tách rời đạo đức
này giả thuyết rằng:
H3: Sự hợp lý hóa đạo đức có tác động dương độ đối với việc mua hàng nhái và thái độ có tác động
đến ý định mua hàng nhái tích cực đến ý định mua hàng nhái (Kim & cộng sự,
2.4. Sự tách rời đạo đức, thái độ và ý định mua 2016; Kim & Karpova, 2009; Marcketti & Shelley,
(Orth & cộng sự, 2019) có tác động dương đến thái
hàng nhái
2009), nghiên cứu này kỳ vọng rằng thái độ đóng
Theo cơ chế tách rời đạo đức, người tiêu dùng vai trò trung gian trong việc kết nối tác động của
tách rời những lợi ích đạt được khi mua hàng nhái chiến lược lập luận đạo đức (sự hợp lý hóa đạo đức
khỏi những đánh giá về mặt đạo đức (Bhattacharjee và sự tách rời đạo đức) đến ý định mua hàng. Vì vậy,
& cộng sự, 2013). Ví dụ, người tiêu dùng có thể tách nghiên cứu này giả thuyết thêm rằng:
rời việc nhận thức rằng việc mua hàng nhái là không
H6a: Sự hợp lý hóa đạo đức có tác động gián
đúng chuẩn mực với việc giá cả của các hàng nhái tiếp đến ý định mua hàng nhái thông qua thái độ
rất phải chăng và các thương hiệu này được nhiều tích cực đối với việc mua hàng nhái
người để ý. Tương tự như việc hợp lý hóa đạo đức,
H6b: Sự tách rời đạo đức có tác động gián tiếp
cơ chế tách rời đạo đức cho phép người tiêu dùng có đến ý định mua hàng nhái thông qua thái độ tích cực
thể giải quyết các xung đột giữa vấn đề đạo đức và đối với việc mua hàng nhái
mong muốn sở hữu sản phẩm nhái (Lee & Kwak,
khoa học
!
thương mại
44
Số 151/2021
QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trường Đại học Nha Trang. Với mục
tiêu thu được cỡ mẫu 350, nghiên
cứu này phát ra 400 bảng hỏi. Trong
400 bảng hỏi thu về, có 51 bảng hỏi
bị loại do có nhiều dữ liệu bị bỏ
trống. Do đó, 349 dòng dữ liệu còn
lại được sử dụng cho phân tích kết
quả nghiên cứu. Trong mẫu nghiên
cứu, số lượng nam (165 - 48,39%),
nữ (176 - 51,61%) gần như tương
đương; gồm có 76 sinh viên năm 1
(22,29%), 98 sinh viên năm 2
(28,74%), 75 sinh viên năm 3
(21,99%) và 92 sinh viên năm 4
(26,98%).
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Thang đo, độ tin cậy và độ giá trị
Nghiên cứu này áp dụng
phương pháp thu mẫu thuận tiện.
Đối tượng thu mẫu là sinh viên
một số trường đại học tại thành
phố Hồ Chí Minh. Đối tượng sinh
viên được sử dụng làm đáp viên
trong một vài nghiên cứu về tiêu
dùng hàng nhái (Kim & cộng sự,
2016; Kim & Karpova, 2009;
Phau & cộng sự, 2009). Vì vậy, tác
giả cho rằng, sinh viên là đối
tượng phù hợp để trả lời các câu
hỏi của nghiên cứu này. Hơn nữa,
nghiên cứu cũng tập trung vào
hàng thời trang nhái (Chew, 2020;
Ha & Lennon, 2016; Kim &
Karpova, 2009) như quần áo, túi
xách, phụ kiện vì đây là vấn đề
đang được quan tâm tại Việt Nam
(Ha & Tam, 2015; Long & Vinh,
2017). Quá trình thu mẫu gồm hai
giai đoạn: giai đoạn sơ bộ và giai
đoạn chính thức. Quá trình thu
mẫu sơ bộ gồm 30 sinh viên nhằm
kiểm tra ngữ nghĩa và sự phù hợp
với văn phong của các mục hỏi
được dịch ra từ tiếng Anh. Quá
trình thu mẫu chính thức được
thực hiện theo cách tự quản lý sau
giờ học của sinh viên tại lớp học ở
Ghi chú: CR: độ tin cậy tổng hợp; AVE: Phương sai trích; RE bị loại
do có hệ số tải nhân tố < 0,5
khoa học
!
45
thương mại
Số 151/2021
QUẢN TRỊ KINH DOANH
3.2. Thang đo lường
tác động giao động từ 0,05 đến 0,24 cho thấy các tác
động có lớn từ yếu đến trung bình.
Thang đo lường nghiên cứu được kế thừa từ các
nghiên cứu trước đây. Cụ thể hơn, thang đo lường ý
định hành vi mua hàng nhái gồm ba mục hỏi được kế
thừa từ nghiên cứu của Kim & Karpova (2009).
Thang đo lường thái độ đối với hành vi mua hàng
nhái gồm năm mục hỏi được kế thừa từ nghiên cứu
của Kim & Karpova (2009). Tám mục hỏi đo lường
sự hợp lý hóa đạo đức và ba mục hỏi đo lường sự tách
rời đạo đức được kế thừa từ nghiên cứu Chen & cộng
sự (2016). Các mục hỏi được liệt kê trong bảng 1.
4. Kết quả nghiên cứu
Kết quả cho thấy các giả thuyết đều được ủng hộ
bởi dữ liệu nghiên cứu. Cụ thể hơn, thái độ có tác
động tích cực đến ý định hành vi (H1: β = 0,24; p <
0,001). Biến số sự hợp lý hóa đạo đức có tác động
đến cả thái độ (H2: β = 0,24; p < 0,001) và ý định
hành vi (H3: β = 0,20; p < 0,001). Biến số sự tách
rời đạo đức cũng có tác động đến cả thái độ (H4: β
= 0,42; p < 0,001) và ý định hành vi (H5: β = 0,32;
p < 0,001). Các hệ số VIF đều nhỏ hơn 2 cho thấy
hiện tượng đa cộng tuyến không phải là vấn đề
nghiêm trọng trong nghiên cứu này. Bên cạnh đó,
các tác động gián tiếp cũng có ý nghĩa thống kê. Sự
hợp lý hóa (H6a: β = 0,06; p < 0,01) và sự tách rời
(H6b: β = 0,10; p < 0,001) có tác động gián tiếp đến
ý định mua hàng nhái thông qua thái độ.
4.1. Độ tin cậy và độ giá trị thang đo
Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật mô hình cấu
trúc bình phương bé nhất bán phần (PLS-SEM) để
phân tích dữ liệu. Do đó, tác giả đánh giá độ tin cậy
và độ giá trị thang đo (gồm độ giá trị hội tụ và độ giá
trị phân biệt) dựa trên gợi ý của Hair & cộng sự
(2016). Theo đó, một mục hỏi trong thang đo hợp lý
hóa thái độ bị loại do có hệ số tải nhân tố bé hơn 0,5.
Sau khi loại mục hỏi này, các hệ số Cronbach’s
Alpha và độ tin cậy tổng hợp của các cấu trúc khái
niệm đều lớn hơn 0,7 nên các thang đo đều đạt độ
tin cậy. Bên cạnh đó, hầu hết các hệ số tải nhân tố
đều lớn hơn 0,7 và phương sai trích của
Cuối cùng, nghiên cứu sử dụng thủ tục bootstrap
với 5000 mẫu con để kiểm định lại các ước lượng
nghiên cứu. Kết quả cho thấy khoảng giá trị tin cậy
đều không chưa giá trị 0 nên các ước lượng đều
đáng tin cậy.
Bảng 2: Ma trận tỷ lệ tương quan HTMT
các cấu trúc khái niệm đều lớn hơn 0,6
nên các thang đo đều đạt độ giá trị hội tụ.
Để đánh giá độ giá trị phân biệt,
nghiên cứu này sử dụng ma trận tỷ lệ
tương quan Heterotrait-Monotrait
(HTMT). Các giá trị của ma trận tương
quan được trình bày trong bảng 3.
Theo đó, vì các giá trị đều
Bảng 3: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
nhỏ hơn 0.85 nên các cấu
trúc khái niệm đạt được giá
trị phân biệt.
4.2. Kết quả kiểm định giả
thuyết nghiên cứu
Kết quả kiểm định giả
thuyết được trình bày trong
bảng 3. Mô hình nghiên cứu
đề xuất có hệ số xác định R2 =
0.32 cho thấy rằng mô hình
giải thích được 32% ý định
mua hàng nhái của người tiêu
dùng. Hệ số Stone-Geisser’s
Q² có giá trị lớn hơn 0 cho
thấy mô hình có khả năng giải
thích hiệu quả ý định mua
hàng nhái. Các hệ số độ lớn
khoa học
!
thương mại
46
Số 151/2021
QUẢN TRỊ KINH DOANH
5. Thảo luận kết quả và hàm ý nghiên cứu
5.1. Thảo luận và hàm ý lý thuyết
nghiên cứu thể hiện sự tương đồng với các nghiên
cứu trước đây. Tuy nhiên, nghiên cứu này mở rộng
các kết quả trước đây bằng việc khám phá thêm cơ
chế tác động gián tiếp của sự hợp lý hóa đạo đức đến
ý định thông qua thái độ. Kết quả này khẳng định
thêm vai trò qua trọng của sự hợp lý hóa đạo đức
đến ý định mua hàng nhái (Chen & cộng sự, 2016;
Lee & Kwak, 2015).
Nghiên cứu này xem xét tác động của nhân tố lập
luận đạo đức đến thái độ và ý định mua hàng nhái
của người tiêu dùng Việt Nam. Cụ thể hơn, tác giả
xem xét tác động trực tiếp của sự hợp lý hóa đạo đức
và sự tách rời đạo đức đến thái độ đối với việc tiêu
dùng hàng nhái và ý định tiêu dùng hàng nhái cũng
như xem xét tác động gián tiếp của sự hợp lý hóa
đạo đức và tách rời đạo đức đến ý định tiêu dùng
hàng nhái thông qua thái độ. Kết quả phân tích dữ
liệu với kỹ thuật PLS-SEM cho thấy các giả thuyết
đều được ủng hộ bởi dữ liệu thu thập. Vì vậy, nghiên
cứu này đưa ra một vài hàm ý học thuật quan trọng
cho các học giả nghiên cứu hành vi người tiêu dùng
hàng nhái.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ tích cực của
người tiêu dùng đối với việc tiêu dùng hàng nhái có
tác động dương đến hành vi tiêu dùng hàng nhái.
Kết quả này phù hợp với lý thuyết TPB (Ajzen,
1991) rằng thái độ là một trong những yếu tố tác
động mạnh đến ý định hành vi. Kết quả nghiên cứu
cũng phù hợp với một số nghiên cứu trước đây trong
bối cảnh tiêu dùng hàng nhái (Kim & cộng sự, 2016;
Kim & Karpova, 2009; Marcketti & Shelley, 2009)
rằng thái độ tích cực với hàng nhái sẽ thúc đẩy ý
định tiêu dùng hàng nhái. Vì vậy, thái độ là biến số
quan trọng cần được quan tâm trong các nghiên cứu
tương lai liên quan đến việc tiêu dùng hàng nhái.
Sự hợp lý hóa đạo đức là một trong hai cơ chế
của lập luận đạo đức nhằm giảm bớt tính nghiêm
trọng của hành động mua hàng nhái, và làm người
tiêu dùng cảm thấy rằng phần nào đó dường như họ
vẫn thực hiện đúng các nguyên tắc đạo đức (Tsang,
2002). Do đó, cơ chế hợp lý hóa gia tăng thái độ tích
cực đối với hành vi mua hàng nhái (Marcketti &
Shelley, 2009). Hơn nữa, với tác động của quá trình
hợp lý hóa thúc đẩy khuynh hướng tìm kiếm các
bằng chứng và thông tin nhằm tự thuyết phục bản
thân rằng việc mua hàng nhái vẫn tuân theo các tiêu
chuẩn đạo đức của họ (Chen & cộng sự, 2016), hoặc
đổ lỗi cho người khác cho ý định mua hàng nhái của
mình (Lee & Kwak, 2015) và do đó vẫn hình thành
ý định mua hàng nhái. Vì thế, kết quả rằng cơ chế
hợp lý hóa thúc đẩy thái độ và hành vi tiêu dùng
hàng nhái có thể lý giải được từ khía cạnh lý thuyết.
Về khía cạnh thực nghiệm, một vài nghiên cứu trước
đây cũng cho rằng sự hợp lý hóa đạo đức thúc đẩy ý
định mua hàng nhái (Bhattacharjee & cộng sự,
2013; Chen & cộng sự, 2016). Vì vậy, kết quả
Người tiêu dùng có thể sử dụng sự hợp lý hóa
đạo đức hoặc sự tách rời đạo đức để xây dựng thái
độ tích cực với hành vi và hình thành ý định hành vi
(Chen & cộng sự, 2016; Eisend, 2016). Các nghiên
cứu trước đây thường bỏ qua cơ chế tách rời đạo đức
trong việc giải thích ý định tiêu dùng hàng nhái
trong khi cơ chế này cũng có vai trò quan trọng
trong việc giải thích hành vi tiêu dùng hàng nhái của
người tiêu dùng (Bhattacharjee & cộng sự, 2013;
Chen & cộng sự, 2016; Orth & cộng sự, 2019).
Chen & cộng sự (2016) và Orth & cộng sự (2019)
lập luận rằng tương tự như việc hợp lý hóa đạo đức,
cơ chế tách rời đạo đức cho phép người tiêu dùng có
thể giải quyết các xung đột giữa vấn đề đạo đức và
mong muốn sở hữu sản phẩm nhái thông qua việc
tập trung vào lợi ích sản phẩm nhái và gạt bỏ các
vấn đề đạo đức liên quan. Do đó, tác động của cơ
chế tách rời đạo đức đến thái độ và ý định tiêu dùng
hàng nhái phù hợp với các lập luận trước đây.
Nghiên cứu này tiến thêm một bước nữa trong việc
khẳng định vai trò quan trọng của cơ chế này bằng
việc xem xét tác động gián tiếp của biến số này đến
ý định hành vi thông qua thái độ, từ đó khẳng định
vai trò quan trọng của sự tách rời đạo đức trong việc
giải thích hành vi mua hàng nhái.
Cuối cùng, nghiên cứu này đóng góp một góc
nhìn mới trong việc giải thích ý định thái độ và ý
định tiêu dùng hàng nhái trong bối cảnh Việt Nam
(Ha & Tam, 2015; Long & Vinh, 2017). Các nghiên
cứu trước đây thường không quan tâm khía cạnh đạo
đức, cụ thể hơn là các cơ chế lập luận đạo đức đến
thái độ và ý định hành vi. Kết quả nghiên cứu cho
thấy rằng các nghiên cứu trong tương lai trong bối
cảnh Việt Nam nên quan tâm nhiều hơn nữa đến các
biến số đạo đức.
5.2. Hàm ý quản trị
Trước tiên, các doanh nghiệp cần hiểu rằng việc
tiêu dùng hàng nhái không chỉ là vấn đề tại Việt Nam
(Ha & Tam, 2015; Long & Vinh, 2017) mà còn là
vấn nạn toàn cầu (Chew, 2020; Eisend, 2016; Jiang
& cộng sự, 2019; Orth & cộng sự, 2019). Với sự phát
triển của Internet và truyền thông xã hội, việc bán và
khoa học
!
47
thương mại
Số 151/2021
QUẢN TRỊ KINH DOANH
tiêu dùng hàng nhái phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ cứu trong tương lai nên xem xét vai trò điều tiết của
hết (Chen & cộng sự, 2016). Vì vậy, doanh nghiệp tính cách cá nhân.!
cần có các chương trình marketing xây dựng thái độ
tích cực với hàng chính hãng và thái độ tiêu cực với
các hàng nhái. Ví dụ, doanh nghiệp có thể đưa ra
khẩu hiệu mua hàng nhái chính là hoạt động phạm
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991), The theory of planned behav-
pháp, hoặc mua hàng nhái chính là làm hại các doanh ior, Organizational Behavior and Human Decision
nghiệp sản xuất hàng chính hãng.
Processes, 50(2), 179-211.
Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng khi
2. Aquino, K., Reed II, A., Thau, S., & Freeman,
người tiêu dùng nhận thức rõ vấn đề đạo đức của D. (2007), A grotesque and dark beauty: How moral
việc tiêu dùng hàng nhái, họ sẽ giảm bớt khuynh identity and mechanisms of moral disengagement
hướng tiêu dùng hàng nhái (Marcketti & Shelley, influence cognitive and emotional reactions to war,
2009). Tuy nhiên, khi vấn đề trái đạo đức không rõ Journal of Experimental Social Psychology, 43(3),
ràng hoặc không xảy ra ngay lập tức, người tiêu 385-392.
dùng có thể sử dụng cơ chế hợp lý hóa đạo đức để
3. Babin, B. J., Darden, W. R., & Griffin, M.
thúc đẩy thái độ và ý định mua hàng nhái. Vì vậy, (1994), Work and/or fun: measuring hedonic and
các doanh nghiệp sản xuất hàng chính hãng cần đưa utilitarian shopping value, Journal of Consumer
ra các thông điệp nhấn mạnh sự vi phạm pháp luật Research, 20(4), 644-656.
cũng như tính trái đạo đức của việc mua hàng nhái.
4. Bhattacharjee, A., Berman, J. Z., & Reed, A.
Các thông điệp này cần được truyền thông từ nhiều (2013), Tip of the hat, wag of the finger: How moral
kênh khác nhau như dịch vụ công cộng, tranh ảnh, decoupling enables consumers to admire and
poster, hệ thống giáo dục và truyền thông xã hội. admonish, Journal of Consumer Research, 39(6),
Việc khẳng định rằng việc mua hàng nhái là trái đạo 1167-1184.
đức sẽ ngăn cản người tiêu dùng sử dụng cơ chế hợp
lý hóa đạo đức.
5. Chen, J., Teng, L., & Liao, Y. (2016),
Counterfeit luxuries: Does moral reasoning strategy
Để hạn chế cơ chế tách rời đạo đức, doanh influence consumers’ pursuit of counterfeits?,
nghiệp cần nhấn mạnh rằng những lợi ích về mặt Journal of Business Ethics, 151(1), 249-264.
tiện ích, tiêu khiển, kinh tế hay xã hội mà người tiêu
6. Chew, M. M.-T. (2020), Reinterpreting how
dùng đạt được khi sử dụng hàng nhái sẽ đi kèm với and why people consume counterfeit fashion prod-
những rủi ro cho chính họ và cho những người khác. ucts: A sociological challenge to the pro-business
Ví dụ, việc tiêu dùng hàng nhái có thể xem là hành paradigm, Fashion Theory, 1-25.
vi tiếp tay cho hoạt động vi phạm pháp luật và có thể
7. Cordell, V. V., Wongtada, N., & Kieschnick Jr,
bị xử phạt. Quan trọng hơn cả, doanh nghiệp cần R. L. (1996), Counterfeit purchase intentions: role of
nhấn mạnh việc tiêu dùng hàng nhái không phải là lawfulness attitudes and product traits as determi-
công cụ để đạt được hình ảnh và vị trí xã hội (giá trị nants, Journal of Business Research, 35(1), 41-53.
xã hội).
5.3. Hạn chế của nghiên cứu
8. Cronan, T. P., & Al-Rafee, S. (2008), Factors
that influence the intention to pirate software and
Nghiên cứu này có một vài hạn chế nhất định. media, Journal of Business Ethics, 78(4), 527-545.
Trước tiên, nghiên cứu này tập trung vào khía cạnh 9. Ditto, P. H., Pizarro, D. A., & Tannenbaum, D.
đạo đức của việc tiêu dùng hàng nhái nhưng lại bỏ (2009), Motivated moral reasoning, Psychology of
qua biến số nhận thức đạo đức. Đây là biến số có Learning and Motivation, 50, 307-338.
khả năng giảm thiểu cơ chế hợp lý hóa đạo đức và
10. Eagly, A. H., & Chaiken, S. (1993), The
tách rời đạo đức, do đó hạn chế thái độ và ý định Psychology of Attitudes, Harcourt Brace Jovanovich
hành vi mua hàng nhái. Tiếp nữa, dữ liệu thu thập College Publishers.
chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh và do đó, để tăng tính
11. Eisend, M. (2016), Morality effects and con-
đại diện cho kết quả nghiên cứu, dữ liệu cần được sumer responses to counterfeit and pirated prod-
thu thập tại nhiều địa phương hơn tại Việt Nam. ucts: A meta-analysis, Journal of Business Ethics,
Cuối cùng, việc lựa chọn nhân tố lập luận đạo đức 154(2), 301-323.
của người tiêu dùng phụ thuộc vào tính cách cá nhân
12. Ha, N. M., & Tam, H. L. (2015), Attitudes
của họ (Chen & cộng sự, 2016), do đó các nghiên and purchase intention towards counterfeiting luxu-
khoa học
!
thương mại
48
Số 151/2021
QUẢN TRỊ KINH DOANH
rious fashion products in Vietnam, International and attitudes toward counterfeiting, Journal of
Journal of Economics and Finance, 7(11), 207-221. Brand Management, 25(2), 185-196.
13. Ha, S., & Lennon, S. J. (2016), Purchase intent
24. Phau, I., Sequeira, M., & Dix, S. (2009), To
for fashion counterfeit products: Ethical ideologies, buy or not to buy a “counterfeit” Ralph Lauren polo
ethical judgments, and perceived risks, Clothing and shirt, Asia-Pacific Journal of Business
Textiles Research Journal, 24(4), 297-315.
Administration, 1(1), 68-80.
14. Hair, J. F., Hult, G. T. M., Ringle, C., &
25. Rutland, A., Killen, M., & Abrams, D.
Sarstedt, M. (2016), A primer on partial least (2010), A new social-cognitive developmental per-
squares structural equation modeling (PLS-SEM), spective on prejudice: The interplay between moral-
Thousand Oaks, CA: Sage Publications.
ity and group identity, Perspectives on
15. Jiang, Y., Miao, M., Jalees, T., & Zaman, S. Psychological Science, 5(3), 279-291.
I. (2019), Analysis of the moral mechanism to pur-
26. Sheth, J. N., Newman, B. I., & Gross, B. L.
chase counterfeit luxury goods: evidence from (1991), Why we buy what we buy: A theory of con-
China, Asia Pacific Journal of Marketing and sumption values, Journal of Business Research,
Logistics, 31(3), 647-669.
22(2), 159-170.
16. Kim, C., Ko, E., & Koh, J. (2016), Consumer
27. Shu, L. L., Gino, F., & Bazerman, M. H.
attitudes and purchase intentions toward fashion (2011), Dishonest deed, clear conscience: when
counterfeits: Moderating the effects of types of cheating leads to moral disengagement and moti-
counterfeit goods and consumer characteristics, vated forgetting, Personality and Social Psychology
Journal of Global Fashion Marketing, 7(1), 15-29.
Bulletin, 37(3), 330-349.
17. Kim, H., & Karpova, E. (2009), Consumer
28. Tsalikis, J., Seaton, B., & Shepherd, P.
attitudes toward fashion counterfeits: Application of (2008), Relative importance measurement of the
the theory of planned behavior, Clothing and moral intensity dimensions, Journal of Business
Textiles Research Journal, 28(2), 79-94.
Ethics, 80(3), 613-626.
18. Lee, J. S., & Kwak, D. H. (2015),
29. Tsang, J.-A. (2002), Moral rationalization
Consumers’ responses to public figures’ transgres- and the integration of situational factors and psy-
sion: Moral reasoning strategies and implications chological processes in immoral behavior, Review
for endorsed brands, Journal of Business Ethics, of General Psychology, 6(1), 25-50.
137(1), 101-113.
19. Long, H. C., & Vinh, N. N. (2017), Factors
influencing consumers’attitudes towards counterfeit
luxury fashion brands: Evidence from Vietnam,
Summary
This study focuses on moral reasoning strategies
Global Journal of Management and Marketing to explain the counterfeit product buying attitudes
Volume, 1(2), 63-76. and intention of Vietnamese consumers. More
20. Marcketti, S. B., & Shelley, M. C. (2009), specifically, the researchers concentrate on the
Consumer concern, knowledge and attitude towards direct and indirect effects of moral rationalization
counterfeit apparel products, International Journal and moral decoupling mechanisms on intention to
of Consumer Studies, 33(3), 327-337.
purchase counterfeit products under positive atti-
21. Martinez, L. F., & Jaeger, D. S. (2016), Ethical tudes toward buying counterfeit products. The test-
decision making in counterfeit purchase situations: ing results using PLS-SEM technique indicate that
the influence of moral awareness and moral emotions positive attitudes have positive influence on coun-
on moral judgment and purchase intentions, Journal terfeit product purchase. More importantly, the
of Consumer Marketing, 33(3), 213-223.
results show that the two components of moral rea-
22. Orth, U. R., Hoffmann, S., & Nickel, K. soning including moral rationalization and moral
(2019), Moral decoupling feels good and makes decoupling could have direct and indirect impact on
buying counterfeits easy, Journal of Business the intention to buy counterfeit products through the
Research, 98, 117-125.
attitude. As such, this study proposes some impor-
23. Park-Poaps, H., & Kang, J. (2017), An exper- tant theoretical and practical implications.
iment on non-luxury fashion counterfeit purchase:
the effects of brand reputation, fashion attributes,
khoa học
49
thương mại
Số 151/2021
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu khám phá tác động của các nhân tố lập luận đạo đức đến thái độ và ý định hành vi mua của người tiêu dùng hàng nhái tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_kham_pha_tac_dong_cua_cac_nhan_to_lap_luan_dao_du.pdf

