Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người tiêu dùng trực tuyến của các siêu thị trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Working Paper 2021.1.2.15
– Vol 1, No 2
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI
TIÊU DÙNG TRỰC TUYẾN CỦA CÁC SIÊU THỊ TRONG ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Nhựt Hào, Phạm Thị Thu Hằng1
Cơ sở II Trường Đại học Ngoại thương tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam
Tóm tắt
Trong hoàn cảnh Khoa học Công nghệ phát triển, việc mua sắm không còn bị giới hạn bởi khoảng
cách địa lý cũng như trở nên tiện lợi hơn với người tiêu dùng với sự ra đời của các nền tảng Thương
mại Điện tử. Dịch COVID bùng nổ đưa người tiêu dùng đến gần hơn với việc mua sắm online, mở
ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp. Thương mại Điện từ là một thị trường đầy tiềm năng.
Về cơ bản, các doanh nghiệp nói chung và các siêu thị nói riêng đã nhận thức được sự cần thiết
của việc đẩy mạnh các kênh mua sắm trực tuyến, tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có
những cải thiện đúng và kịp thời dựa trên hành vi và sự hài lòng của người tiêu dùng. Do đó,
nghiên cứu được thực hiện nhắm khảo sát và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của
người tiêu dùng trực tuyến.
Từ khóa: sự hài lòng, người tiêu dùng trực tuyến, thương mại điện tử, siêu thị, dịch COVID.
STUDY ON FACTORS AFFECTING ONLINE CONSUMER SATISFACTION OF
SUPERMARKETS IN HO CHI MINH CITY
Abstract
In the context of science and technology development, shopping is no longer limited by
geographical distance and becomes more convenient for consumers with the advent of e-
Commerce platforms. The outbreak of COVID brings consumers closer to online shopping,
opening up new opportunities for businesses. Electromagnetism is a potential market. Basically,
businesses in general and supermarkets in particular have been aware of the need to promote online
shopping channels, but not all businesses have made timely and correct improvements. on
consumer behavior and satisfaction. Hence, research is conducted aimed at surveying and
determining the factors that affect online consumer satisfaction.
Keywords: satisfaction, online consumers, e-commerce, supermarkets, COVID translation.
1. Đặt vấn đề
Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, người tiêu dùng Việt đã có những thay đổi đáng kể trong
thói quen sinh hoạt và tiêu dùng. 47% số người Việt Nam được hỏi đã thay đổi thói quen ăn uống;
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 186
60% thay đổi các hoạt động giải trí, vui chơi; 70% xem xét lại kế hoạch du lịch của mình và 44%
cho rằng nguồn thu nhập của họ đã bị ảnh hưởng. Có thể thấy, Covid-19 không những tác động
đến hành vi chung mà còn đến cả việc mua sắm tại các trung tâm siêu thị. Đặc biệt, Chỉ thị 16/
CT-TTg được ban hành yêu cầu đảm bảo giãn cách xã hội, giữ khoảng cách giữa các cá thể, cộng
động nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm cộng đồng đã làm các hoạt động thương mại bị ảnh
hưởng nặng nề.
Chuyển dịch nền tảng hoạt động kinh doanh lên nền tảng thương mại điện tử là một trong
những lối thoát cho các doanh nghiệp và các siêu thị nói riêng. Những nền tảng TMĐT như Shopee,
Lazada, Tiki, ... đã có những tang trường vượt bậc. Lượng truy cập mua sắm trên sàn thương mại
điện tử hiện tăng hơn 150% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng khách hàng truy cập các sàn cũng
tăng trưởng ấn tượng với khoảng 3,5 triệu lượt khách/ngày. Doanh số thu từ các hoạt động kinh
doanh qua thương mại điện tử đã tăng gần gấp 5 lần so với năm 2019, đạt 123 tỷ đồng. Ngược lại,
những website bán hàng của các siêu thị. lại chưa có nhiều tiến bộ.
Có thể nói, TMĐT đang là một xu hướng tất yếu trong ngành bán lẻ, dịch COVID bùng nổ
đưa đến nhiều cơ hội cho những doanh nghiệp có thể nắm bắt được thời cơ. Những siêu thị cần có
những giải pháp kịp thời để cải tiến nền tảng bán hàng trực tuyến của mình khi những website của
các siêu thị chưa được tận dụng triệt để và đem lại nhiều lợi nhuận. Điều này đặt ra vấn đề nghiên
cứu sâu hơn hành vi tiêu dùng của khách hàng trên các website bán hàng trực tuyến của các siêu
thị và cụ thể là các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người tiêu dùng để nâng cao mức
độ hài lòng của người tiêu dùng trực tuyến. Khi mức đồ hài lòng tang lên, người tiêu dùng sẽ có
xác suất mua sắm cao hơn (Jiradilok, Malisuwan, Madan & Sivaraks, 2014).
Trước đây đã có những nghiên cứu về mức độ hài lòng của người tiêu dùng trực tuyến, ví dụ
như nghiên cứu “Serqual: A multiple - item scal for measuring consumer perceptions of service”
của Parasuraman, Zeithaml & Berry thực hiện năm 1988 đã đưa ra công cụ nghiên cứu dùng để đo
lường chất lượng dịch vụ bằng cách nắm bắt những mong đợi và nhận thức của người tiêu đùng
dựa trên 5 chiều chất lượng dịch vụ là Serqual, nghiên cứu “ Factors influencing customer
sastisfaction level in an e – commerce platform: a case study analysis of Digikala in Iran” của
Irantaj & Huseynov năm 2018 tập trung vào việc nghiên cứu sự hài lòng với mô hình mua sắm
trực tuyến và bổ khuyết vào nền tảng thương mại điện tử B2C ở Iran. Hay ở Việt Nam, các nghiên
cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng khi mua sắm trực tuyến” của
Ngô Quốc Chiến và Nguyễn Quế Thanh thực hiện năm 2016. Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã
cung cấp những hệ thông mô hình, định nghĩa và các kết quả về nghiên cứu các yếu tố tác động
đến sự hài lòng của người tiêu dùng trực tuyến, để có thể nghiên cứu chính xác hơn đối tượng
nghiên cứu trong phạm vi đề tài, các nghiên cứu vẫn cần có những chỉnh sửa, bổ sung và thay đổi
trong mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu thu thập.
1. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu:
Nghiên cứu thực hiện phương pháp lấy mẫu xác xuất, bảng hỏi được gửi đến người dùng
thông qua Google Form, đưa lên các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo và qua thư điện tử
cùng lời mời khảo sát, các cuộc phỏng vấn trực tiếp được thực hiện với 20 người trong số 500 mẫu
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 187
đã thực hiện khảo sát. Việc phỏng vấn sâu một bộ phận mẫu khảo sát sẽ giúp nghiên cứu có thể
tìm hiểu sâu hơn vào chi tiết hành vi và mức độ hài lòng của người tiêu dùng.
Phương pháp xác định cỡ mẫu:
Đối với quá trình chọn mẫu, nghiên cứu này sử dụng phương pháp lấy mẫu phi xác suất với
lấy mẫu thuận tiện. Nhóm sẽ tiến hành thẩm định và kiểm tra độ tin cậy để đảm bảo tính hợp lệ và
độ tin cậy của bảng hỏi. Đối với phân tích hồi quy đa biến, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo
công thức là n=50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick & Fidell, 1996). Trong đó m là số
lượng nhân tố độc lập, chứ không phải là số câu hỏi độc lập. Vậy tối thiểu phải có 114 mẫu.
Đối với phân tích phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, dựa theo nghiên cứu của Hair,
Anderson, Babin & Black (2010) thì kích thước mẫu tối thiểu phải gấp 5 lần tổng số biến quan sát.
Với nghiên cứu này, kích thước mẫu tối thiểu phải là n=23*5= 115 mẫu. Khi lựa chọn số lượng mẫu
phải thỏa cả hai công thức trên, và nguyên tắc là sẽ chọn nhiều mẫu để không thiếu mẫu. Nghiên cứu
này sử dụng cả 2 phương pháp trên nên số lượng mẫu tối thiểu phải là 115 mẫu. Nhóm quyết định
thực hiện.
Phương pháp phân tích dữ liệu:
Nghiên cứu sử dụng cả hai phương pháp phân tích định lượng và định tính. Dữ liệu định lượng
gồm các bảng hỏi được thiết kế thành 2 phần chính: các câu hỏi liên quan đến thông tin cá nhân
như tuổi tác, giưới tính, thu nhập và phần thứ 2 được thiết kế để ước lượng chất lượng dịch vụ
được cảm nhận và mức độ hài lòng của khách hàng.
Nghiên cứu này sử dụng thang đo Likert với 5 mức độ từ “rất đồng ý” đến “không đồng ý” để
đo lường mức độ hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ tại các trang web site bán hàng của các
siêu thị với các biến quan sát mà nhóm tác giả sẽ thiết kế. Nhóm tác giả quyết định chọn thang đo
5 điểm vì thang đo này được sử dụng ở các nghiên cứu trước liên quan và nó phù hợp với đối
tượng khảo sát là người sử dụng dịch vụ, giúp người được khảo sát không thấy khó khăn khi trả
lời (Babakus & Mangold, 1992).
2. Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu
Tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên các căn cứ như sau:
Thứ nhất, để bao hàm về phản ứng của người tiêu dùng khi mua sắm trực tuyến, tác giả vận
dụng định nghĩa của Kotler năm 2000 như đã nêu ở trên: “Sự hài lòng như là một cảm giác hài
lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm
(hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ” làm định nghĩa phát triển nghiên cứu.
Từ đó chỉ ra những yếu tố có thể tạo nên cảm giác hài lòng trong mối liên hệ với những mong đợi
của họ.
Thứ hai, nhóm tác giả xem xét các mô hình nghiên cứu liên quan nổi bật, trong đó là mô hình
nghiên cứu về 5 yếu tố tạo nên sự hài lòng SERVQUAL của Parasuraman và nghiên cứu đi sâu về
sự hài lòng của người tiêu dùng trực tuyến trong môi trường thương mại điện tử của Liu X và cộng
sự năm 2008 nhằm tìm ra điểm tương đồng giữa nghiên cứu bao quát và nghiên cứu chi tiết, từ đó
phát triển mô hình nghiên cứu hoàn thiện đảm bảo không bị sót các nhân tố ảnh hưởng.
Thứ ba, nhóm tác giả xem xét thêm một mô hình về sự hài lòng khi mua hàng online của Lin
và cộng sự (2011) nhằm tìm ra điểm mới ngoài hai mô hình phía trên, qua đó nhóm tác giả nhận
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 188
thấy mình đã tìm được điểm mới để hoàn thiện hơn nữa mô hình của bản thân là chất lượng giao
hàng và giá cả cảm nhận là hai yếu tố cũng góp phần ảnh hưởng đến sự hài lòng của người tiêu
dùng khi mua sắm online.
Dựa trên 3 căn cứ đó, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất như sau:
Các giả thuyết nghiên cứu:
Xuất phát từ mối quan hệ bản chất giữa các nhân tố trong mô hình đề xuất, nhóm tác giả đưa
ra các giả thuyết sau:
H1: Chất lượng thông tin sản phẩm có tác động thuận chiều đến sự hài lòng của người tiêu
dùng khi mua sắm tuyến tại website của siêu thị
H2: Thiết kế trang web bán hàng có tác động thuận chiều đến sự hài lòng của người tiêu dùng
khi mua sắm trực tuyến tại website của siêu thị
H3: Chất lượng hàng hóa có tác động thuận chiều đến sự hài lòng của người tiêu dùng khi
mua sắm trực tuyến tại website của siêu thị
H4: Độ tin cậy của siêu thị có tác động thuận chiều đến sự hài lòng của người tiêu dùng khi
mua sắm trực tuyến tại website của siêu thị
H5: Chất lượng phản hồi của trang web có tác động thuận chiều đến sự hài lòng của người
tiêu dùng khi mua sắm trực tuyến tại website của siêu thị
H6: Tính cá nhân hóa/Độ bảo mật có tác động thuận chiều đến sự hài lòng của người tiêu
dùng khi mua sắm trực tuyến tại website của siêu thị
H7: Phương thức thanh toán có tác động thuận chiều đến sự hài lòng của người tiêu dùng khi
mua sắm trực tuyến tại website của siêu thị
H8: Giá cả nằm trong cảm nhận của khách hàng có tác động thuận chiều đến sự hài lòng của
người tiêu dùng khi mua sắm trực tuyến tại website của siêu thị
H9: Chất lượng việc thực hiện giao nhận hàng hóa có tác động thuận chiều đến sự hài lòng
của người tiêu dùng khi mua sắm trực tuyến tại website của siêu thị.
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 189
Hình 1. Mô hình nghiên cứu
3. Kết quả nghiên cứu:
3.1. Đánh giá thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha cho các khái niệm nghiên cứu:
Để xem xét mức độ tin cậy của dữ liệu, nhóm nghiên cứu sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s
Alpha để đánh giá mức độ tin cậy của các thang đo. Cách này giúp nhận biết và loại bỏ các biên
quan sát không đủ độ tin cậy (có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn tương quan biến tổng <0.3).
Theo Hongaf Trọng và cộng sự (2008), các thang đô được sử dụng phải đảm bảo được hệ số
Cronbach’s Alpha lớn hơn hoặc bằng 0.6Bảng 1 và Bảng 2 dưới đây sẽ chỉ ra hệ số tương quan
của nghiên cứu sau khi thực hiện tổng hợp từ số liệu khảo sát.
Bảng 1: Hệ số Cronbach’s Alpha chung của 9 biến
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha
.891
N of Items
27
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ số liệu khảo sát
Mức giá trị hệ số Cronbach’s Alpha cần phải đảm bảo tiêu chuẩn từ 0.6 trở lên (Hồng, 2008)
Các mức tiêu chuẩn của hệ số Cronbach Alpha:
Từ 0.8 đến gần bằng 1: thang đo lường rất tốt.
Từ 0.7 đến gần bằng 0.8: thang đo lường sử dụng tốt.
Từ 0.6 trở lên: thang đo lường đủ điều kiện.
Nghiên cứu có hệ số Cronbach’s Alpha chung tương đối cao, lên đến 0.891. Điều này cho
thấy thanh do có độ tin cậy nhìn chung khá tốt.
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 190
Bảng 2. Hệ số Cronbach's Alpha của từng biến quan sát
Hệ số Cronbach's Alpha riêng
1. thong tin
0.757
0.831
0.732
0.700
0.715
0.631
0.854
0.940
0.900
2. thiet ke
3. chat luong
4. tin cay
5. phan hoi
6. ca nhan
7. thanh toan
8. gia
9. giao hang
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ số liệu khảo sát
Hệ số Cronbach’s Alpha riêng của các biên cũng tương cao dao động từ 0.7 cho đến 0.94. Do
đó, 9 biến quan sát này có cơ sở dữ liệu đáng tin cậy và sẽ được sử dụng trong các phân tích nhân
tố sau này.
4.2 Đánh giá thang đo bằng phân tích EFA cho các khái niệm nghiên cứu
Từ 9 nhân tố trong thang đo, tác giả bắt đầu tiến hành chạy SPSS phân tích nhân tố khám phá.
Trong đó, nhóm sử dụng phương pháp trích Pricipal components với phép xoay Varimax để phân
tích và loại bỏ các biến có giá trị Factor Loading bé hơn 0.5 ra khỏi mô hình.
4.2.1 Kiểm định KMO và Barlett
Tiêu chuẩn của phương pháp phân tích nhân tố là chỉ số KMO phải lớn hơn 0.5 (Garson, 2003)
và kiểm định Barlett’s có mức ý nghĩa sig < 0.05 để chứng tỏ dữ liệu dùng phân tích nhân tố là
thích hợp và giữa các biến có tương quan với nhau. Giá trị Kaiser-Meyer-Olkin Measure of
Sampling Adequacy (KMO)=0.805.
Kết quả phân tích nhân tố cho thấy chỉ số KMO là 0.805 > 0.5, điều này chứng tỏ dữ liệu dùng
để phân tích nhân tố là hoàn toàn thích hợp.
Kết quả kiểm định Barlett’s là 1507.567 với mức ý nghĩa Sig. = 0.000< 0.05,lúc này bác bỏ
giả thuyết H0: các biến quan sát không có tương quan với nhau trong tổng thể. Như vậy giả thuyết
về ma trận tương quan giữa các biến là ma trận đồng nhất bị bác bỏ, tức là các biến có tương quan
với nhau và thỏa điều kiện phân tích nhân tố.
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 191
Bảng 3. Hệ số KMO và Barlett của nghiên cứu
KMO and Bartlett's Test
.805
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.
1507.567
Bartlett's Test of Sphericity
Approx. Chi-Square
df
435
Sig.
.000
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ số liệu khảo sát
4.2.2 Eigenvalues và phương sai trích:
Thực hiện phân tích nhân tố theo Principal components với phép quay Varimax.
Kết quả cho thấy 27 biến quan sát ban đầu được nhóm thành 9 nhóm.
Giá trị tổng phương sai trích = 64,225% > 50%: đạt yêu cầu; khi đó có thể nói rằng 5 nhân tố
này giải thích 64,225% biến thiên của dữ liệu.
Giá trị hệ số Eigenvalues của các nhân tố đều cao (>1), nhân tố thứ 9 có Eigenvalues thấp nhất
là 1,049> 1
Hệ số tải nhân tố (hay còn gọi là trọng số nhân tố) có thể hiểu là mối tương quan giữa biến
quan sát với nhân tố. Trị tuyệt đối hệ số tải của biến quan sát càng cao, nghĩa là tương quan giữa
biến quan sát đó với nhân tố càng lớn và ngược lại.
Ma trận nhân tố với phương pháp xoay Varimax:
Các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5, và không có trường hợp biến nào cùng lúc tải lên cả hai
nhân tố với hệ số tải gần nhau.Nên các nhân tố đảm bảo được giá trị hội tụ và phân biệt khi phân
tích EFA. Ngoài ra không có sự xáo trộn các nhân tố, nghĩa là câu hỏi của nhân tố này không bị
nằm lẫn lộn với câu hỏi của nhân tố kia. Nên sau khi phân tích nhân tố thì các nhân tố độc lập này
được giữ nguyên, không bị tăng thêm hoặc giảm đi nhân tố.
Bảng 4. Ma trận xoay Varimax
Rotated Component Matrixa
Component
1
2
3
4
5
6
7
8
9
thietke1
thietke2
thietke3
tincay1
tincay2
tincay3
cluong1
cluong3
cluong2
.674
.623
.585
.785
.761
.700
.721
.617
.521
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 192
thanhtoan1
.768
.747
thanhtoan2
thanhtoan3
.729
canhan3
canhan1
canhan2
gia1
.512
.509
.521
.822
.803
.782
gia2
gia3
phanhoi1
phanhoi2
phanhoi3
thongtin1
thongtin2
thongtin3
giaohang1
.604
.561
.556
.684
.624
.569
.723
.716
.707
giaohang2
giaohang3
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự tổng hợp
4.2 Hồi quy:
Phân tích hồi quy được thực hiện để kiểm tra mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ thương mại
điện tử B2C với sự hài lòng của khách hàng tại Việt Trì. Tác giả sử dụng phương pháp Enter để
phân tích hồi quy 09 nhân tố của chất lượng dịch vụ thương mại điện tử và sự hài lòng. Hệ số xác
định R2 hiệu chỉnh được dùng để đánh giá độ phù hợp của mô hình .
Model
R
R-square
Std. Error of
the Estimate
Durbin-Watson
1
.883a
0.78
0.30133
1.839
R-Square là 78% cho thấy mô hình nghiên cứu giải thích được 78% sự biến thiên của biến
phụ thuộc. Phần còn lại 22% được giải thích bởi các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên. Hệ
số Durbin – Watson nằm trong khoảng từ 1,5 đến 2,5 nên không có dấu hiệu tương tự tương
quan chuỗi bậc nhất xảy ra.
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 193
Coefficientsa
Standardized
Coefficients
Unstandardized Coefficients
Model
1
B
Std. Error
.891
Beta
t
Sig.
.000
(Constant)
tb thiet ke
tb ctin cay
tb cluong
4.075
.086
.070
.143
4.575
.594
.419
.905
.144
.167
.158
.260
.553
.676
.367
.348
.401
tb thanh toan
.102
.175
.367
.585
.559
tb ca nhan
tb gia
.082
.017
.139
.017
.162
.165
.191
.177
.163
.412
.191
.312
.506
.101
.729
.096
.613
.920
.467
.924
tb phan hoi
tb thong tin
tb giao hang
.264
.174
.466
1.516
.132
a.
Dependent Variable: tb hailong
Giá trị Sig. Kiểm định t hệ số hồi quy của các biến độc lập đều nhỏ hơn 0.05. Do đó, các biến
độc lập này đều có ý nghĩa giải thích cho biến phụ thuộc, không biến nào bị loại khỏi mô hình.
Bước đầu các tiêu chí đều thỏa mãn phù hợp với mô hình hồi quy. Các hệ số hồi quy chuẩn hóa
Beta đều lớn hơn 0. Như vậy tất cả các biến độc lập đưa vào phân tích hồi quy đều tác động cùng
chiều tới biến phụ thuộc. Dựa vào độ lớn của hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta, thứ tự mức độ tác
động từ mạnh nhất tới yếu nhất của các biến độc lập tới biến phụ thuộc TB hai lòng như sau : giao
hang > gia > chat luong > thanh toan > tin cay > thong tin > thiet ke > phan hoi.
4.3 Mô hình hồi quy:
Phương trình hồi quy :
Hai long = 0.260 hiet ke+0.348 tin cay +0.401chat luong+ 0.367 thanh toan + 0.163 ca nhan
+0.412 gia+ 0.191 phan hoi +0.312 thong tin + 0.466 giao hang.
Như vậy, mô hình nghiên cứu đã chấp nhận 9 giả thuyết nghiên cứu đề xuất ( mục 3)
Kết luận:
Với hệ số Beta thu được thì yếu tố thiết kế có tác độngt ích cực đến yếu tố hài lòng, cụ thể
Hệ số Bê ta = 0.260. Tương tự cới các yếu tố các đều có tác động tích cực lên mức độ hài lòng
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 194
của người tiêu dùng trực tuyến, theo thứ tự lần lượt với các hệ số là: 0.348; 0.401; 0.367; 0.163;
0.412; 0.191; 0.312; 0.466..
THẢO LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Với kết quả nghiên cứu thu được, yếu tố giao hàng có tác động lớn nhất đến sự hài lòng của
người tiêu dùng trực tuyến của các siêu thị trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Vì thế, các siêu
thị nên xem xét đến việc phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống giao hàng của mình. Việc giao
hàng nhanh, cẩn thận được chú ý và đánh giá cao, tác động lớn đến mức độ hài lòng, nếu các siêu
thị không có hệ thống và nhân lực để giao hàng độc lập, các siêu thị có thể xem xét việc liên kết
cùng các đơn vị giao hàng khác đang rất phát triển như: giaohangtietkiem, lalamove,
giaohangnhanh, …
Chất lượng sản phẩm có hệ số Bê ta tương đối cao, thể hiện người tiêu dùng có mức độ hài
lòng cao hơn với việc nhận được sản phẩm có chất lượng tốt. Các thông tin được cung cấp trên
trang web cũng cần phù hợp và khớp với sản phẩm giao thực tế. Những thiết kế trang web nên
được bố trí gọn gàng, các icon được sử dụng nên được thiết kế có tính minh họa cao, quy trình
thanh toán chặt chẽ sẽ tăng thêm sự hài lòng thanh toán trực tuyến trên các trang web … Bên cạnh
đó, việc tạo môi trường tương tác giữa khách hàng với nhau cũng như các dịch vụ chăm sóc khách
hàng cũng có tác động tích cực lên việc gây dựng sự hài lòng của khách hàng và giúp khách hàng
tang cường việc mua sắm trực tuyến hơn.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã xây dựng được mô hình mô tả mối liên hệ giữa sự hài lòng của người tiêu dùng
trực tuyến với các yếu tố thành phần. Từ đây nghiên cứu đề xuất các giải pháp để các siêu thị có
thể xem xét trong việc nâng cao hơn chất lượng nền tảng thương mại điện tử của mình.
Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về thời gian và nguồn lực thực hiện nên
chưa thể đại diện cho toàn bộ các địa phương trên toàn quốc. Những nghiên cứu tiếp theo có thể
xem xét và mở rộng số lượng mẫu quan sát cũng như kết hợp nhiều hơn các phương pháp định
tính kết hợp định lượng để có thể tìm hiểu sâu hơn suy nghĩ và quyết định của người tiêu dùng
trực tuyến.
Tài liệu tham khảo
Anderson, E.W., Fornell, C. & Mazvancheryl, S.K. (2004), “Customer satisfaction and
shareholder value”, Journal of marketing, Vol. 68 No. 4, pp. 172 - 185.
Babakus, E. & Mangold, W.G. (1992), “Adapting the SERVQUAL scale to hospital services:
an empirical investigation”, Health services research, Vol. 26 No. 6, p. 767.
Buttle, F. (1996), “SERVQUAL: Review, Critique, Research Agenda", European Journal of
Marketing, Vol. 30 No. 1.
Cherry, K. (2012), “The
5
Levels of Maslow's Hierarchy of Needs”,
01/04/2021.
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 195
Chính
phủ.
(2010),
“Luật
bảo
vệ
lợi
ích
người
tiêu
dùng”,
ode=detail&document_id=98755, truy cập ngày 01/04/2021.
Hansemark, O.C. & Albinsson, M. (2004), “Customer satisfaction and retention: the
experiences of individual employees”, Managing Service Quality: An International Journal.
Hoàng, T. & Chu, N.M.N. (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS Tập 2, NXB Hồng
Đức, Hồ Chí Minh.
Jiradilok, T., Malisuwan, S., Madan, N. & Sivaraks, J. (2014), “The impact of customer
satisfaction on online purchasing: A case study analysis in Thailand”, Journal of Economics,
Business and Management, Vol. 2 No. 1, pp. 5 - 11.
Kotler, P. (2006), Quản trị marketing, NXB Thống kê, Hà Nội.
Li, N. & Zhang, P. (2002), “Consumer online shopping attitudes and behavior: An assessment
of research”, AMCIS 2002 proceedings, p. 74.
Lin, C.C., Wu, H.Y. & Chang, Y.F. (2011), “The critical factors impact on online customer
satisfaction”, Procedia Computer Science, No. 3, pp. 276 - 281.
Monsuwé, T.P., Dellaert, B.G. & De-Ruyter, K. (2004), “What drives consumers to shop
online? A literature review”, International journal of service industry management.
Ngô, Q.C. & Nguyễn, Q.T. (2016), “Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách
hàng khi mua sắm trực tuyến”, Tạp chí Quản lý Kinh tế Quốc tế, Số 92.
Nguyễn,
N.T.
(2012),
“Một
số
khái
niệm
về
Marketing”,
ni%E1%BB%87m-v%E1%BB%81-marketing/, truy cập ngày 01/04/2021.
Nguyễn, V.N. (2006), Từ điển kinh tế học, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
Parasuraman, A., Zeithaml, V.A. & Berry, L. (1988), “SERVQUAL: A multiple-item scale
for measuring consumer perceptions of service quality”, Journal of Retailing , Vol. 64 No. 1, pp.
12 - 40.
Phạm, Q.T. & Nguyễn, N.H.H. (2016), “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thôi thúc mua hàng trực
tuyến ngẫu hứng của người dân địa bàn TP.HCM”, Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ
Chí Minh – Khoa học Xã hội, Số 2.
Vũ, H.T. & Trần, M.T. (2013), “Sự hài lòng của khách hàng mua sắm trực tuyến theo nhóm”,
Kinh tế và Phát triển, Số 191, tr. 53- 62.
Zeithaml, V.A. & Bitner, M.J. (2003), Service Marketing Integrating Customer Focus across
the Firm, McGrawHill, New York.
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (06/2021) | 196
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người tiêu dùng trực tuyến của các siêu thị trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_cac_yeu_to_anh_huong_den_su_hai_long_cua_nguoi_ti.pdf

