Nâng cao chất lượng đào tạo các chuyên ngành luật tại Đại học Kinh tế quốc dân đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
CÁC CHUYÊN NGÀNH LUẬT
TẠI ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA XÃ HỘI
TS. Nguyễn Thị Huế(*)
PGS.TS Trần Văn Nam(**)
Tóm tắt
Nguồn nhân lực có chất lượng cao là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự tăng trưởng, đặc biệt
là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia đặt ra cho thị trường lao động những đòi hỏi mới về năng lực và kỹ năng tương ứng
với trình độ phát triển. Để đáp ứng được yêu cầu đó, vai trò của giáo dục đại học là rất
quan trọng. Thực tiễn cho thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và
giáo dục đại học. Tuy nhiên, thực tế cũng chứng minh, chất lượng giáo dục đại học tại
Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, nhiều kiến thức và
kỹ năng mà thị trường đặt ra vẫn chưa được đáp ứng. Điểm này có tác động nhất định
tới quá trình phát triển của kinh tế xã hội Việt Nam trong tương lai.
Bài viết này đề cập đến một số nhân tố ảnh hường đến chất lượng giáo dục đại
học và một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành Luật tại Đại học Kinh
tế quốc dân.
Từ khóa: Chất lượng đào tạo; ngành Luật; cơ sở đào tạo Luật.
(*) Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Email: [email protected]; [email protected]
88
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
1. MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỜNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC
Chất lượng giáo dục đại học là khái niệm mở, có tính đa chiều, tùy thuộc vào
quan điểm của các bên có lợi ích liên quan, bao gồm khách hàng, nhà cung cấp dịch
vụ và nhà sử dụng nhân lực.
Trước hết, đối với khách hàng
Khách hàng của hoạt động giáo dục đại học bao gồm khách hàng tương lai và
khách hàng hiện hữu. Khách hàng tương lai là các phụ huynh, học sinh tại các trường
trung học phổ thông, họ quyết định tham gia dịch vụ đào tạo đại học trên cơ sở nhu
cầu, mục đích về kiến thức ở bậc đại học và các thông tin liên quan đến danh tiếng của
trường đại học, dựa trên các yếu tố: Chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, năng lực đội
ngũ giảng viên, viên chức, văn hóa công sở của nhà trường, tỷ lệ sinh viên có việc làm
sau khi tốt nghiệp đại học theo đánh giá của các kênh truyền thông có uy tín…
Khách hàng hiện hữu là các sinh viên, học viên (người học) đã trúng tuyển vào
học các hệ đào tạo của nhà trường. Khách hàng hiện hữu sẽ được thuyết phục trực tiếp
bằng triết lý đào tạo, môi trường đào tạo (cơ sở vật chất, tâm thế và năng lực của đội
ngũ giảng viên, văn hoá phục vụ, phương pháp giảng dạy…), chương trình đào tạo…
Để quá trình giáo dục đại học đem lại hiệu quả, bản thân người học phải có: Nhận
thức đúng về việc học (Học để có nghề sinh sống, học để hiểu biết sống với đời, học
để làm người), có nghị lực và quyết tâm; có hoài bão, ước mơ; có lòng yêu nghề; có
phương pháp học tập và tổ chức công việc một cách khoa học (kế hoạch, chương trình
cụ thể), …
Thứ hai, về phía người cung cấp dịch vụ đào tạo đại học - cơ sở giáo dục đại học
Giá trị cốt lõi của một trường đại học được khẳng định ở triết lý đào tạo thông qua
chương trình đào tạo, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên, viên chức của nhà trường.
Về chương trình đào tạo, nhà trường cần xây dựng một chương trình đào tạo phù
hợp trong đó có các nhóm kiến thức: đại cương, cơ sở ngành, chuyên ngành thích hợp,
tạo nền tảng để người học có thể triển khai phát triển các kiến thức đó trong hoạt động
nghề nghiệp của mình trong tương lai.
Một chương trình đào tạo thích hợp được đảm bảo bằng hệ thống các chương
89
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
trình môn học và giáo trình, học liệu phù hợp; quá trình tổ chức giảng dạy hợp lý và
môi trường giáo dục cởi mở, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.
Về đội ngũ giảng viên phải là người tinh thông về nghề nghiệp, có phương pháp
giảng dạy khoa học, dễ hiểu; có khả năng gợi mở, tạo hứng thú và truyền cảm hứng,
động viên, khuyến khích người học; Giúp người học xây dựng phương pháp học tập
và tổ chức công việc cũng như thực hiện các kế hoạch nghiên cứu khoa học… Đội ngũ
giảng viên nhận được sự đãi ngộ tương thích của cơ sở giáo dục để họ luôn sẵn sàng
trong trạng thái công hiến vì sự phát triển của nhà trường.
Bên cạnh đó, thái độ ứng xử của đội ngũ viên chức hành chính đối với người học,
với đồng nghiệp và công việc của mình sẽ tạo nên giá trị của văn hoá trường học cũng
có tác động không nhỏ tới đối tượng khách hàng của nhà trường.
Thứ ba, người sử dụng nhân sự
Người sử dụng nhân sự được coi là khách hàng khâu cuối của quá trình đào tạo,
họ là chủ thể có nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo ở lĩnh vực nghề nghiệp
đó; đồng thời cũng là chủ thể tạo cơ hội để các cơ sở giáo dục đại học được phối hợp
trong đào tạo theo nguyên tắc gắn lý thuyết với thực hành; họ tham gia vào quá trình
xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá chương trình đào tạo…
2. CÁC TIÊU CHÍ SỬ DỤNG CHO VIỆC ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐÀO
TẠO ĐẠI HỌC
Để đảm bảo cho việc đánh giá ngoài, chất lượng đại học được đánh giá dựa trên
các tiêu chuẩn cụ thể như:
(1) Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học
(2) Tổ chức và quản lý
(3) Chương trình giáo dục
(4) Hoạt động đào tạo
(5) Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên
(6) Người học
(7) Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ
90
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
(8) Hoạt động hợp tác quốc tế
(9) Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác
(10) Tài chính và quản lý tài chính
Chất lượng đào tạo được đánh giá qua quá trình đào tạo và thực tiễn sử dụng
nguồn nhân lực được đào tạo. Trong đó, các đánh giá chất lượng đào tạo do người sử
dụng lao động đưa ra sẽ là khách quan và chính xác nhất. Người sử dụng lao động cần
người lao động được đào tạo ở bậc đại học có ba nhóm kỹ năng: kỹ năng học thuật, kỹ
năng phát triển cá nhân, kỹ năng làm việc trong doanh nghiệp. Các nhóm kỹ năng này
của người học được bộc lộ qua quá trình lao động của họ tại đơn vị sử dụng lao động.
Việc đánh giá chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở việc đánh giá kết quả học tập
của người học bằng điểm số qua việc thi/bảo vệ môn học. Bởi điểm số đánh giá trong
thi cử chưa phản ảnh đầy đủ chất lượng đào tạo. Trong đánh giá chất lượng đào tạo,
yêu cầu người học phải hiểu, biết, làm được và tiếp đến là sáng tạo. Do vậy, việc thiết
kế bài giảng, xác định phương pháp giảng dạy, xây dựng đề thi, đáp án và việc chấm
thi cần thống nhất theo đúng tinh thần đó.
3. GIỚI THIỆU VỀ KHOA LUẬT VÀ ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT TẠI ĐẠI
HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân là một trong cơ sở đào tạo luật tại
các tỉnh phía Bắc đạt chất lượng cao trong giảng dạy và nghiên cứu để góp phần xây
dựng cộng đồng, phát triển đất nước và hội nhập, hợp tác quốc tế với các nước trên
thế giới và trong khu vực.
Khoa Luật được thành lập theo Quyết định số 4686/QĐ-TCCB ngày 26/11/2003
của Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Tiền thân của Khoa Luật là Bộ
môn Luật Kinh tế được thành lập và hoạt động từ tháng 10 năm 1970 tại Trường Đại
học Kinh tế Kế hoạch, nay là Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Từ một bộ môn giảng dạy các môn học pháp luật cho các chuyên ngành ngoài
ngành Luật (Bộ môn Luật kinh tế) đã thực hiện đào tạo chuyên ngành Luật Kinh
doanh, mã ngành Quản trị kinh doanh (402) bắt đầu từ năm học 1994-1995 (Khoá 36)
cho đến năm học 2003- 2004 (Khóa 45). Từ năm học 2004-2005, bắt đầu đào tạo cử
nhân ngành Luật, đã liên tục phát triển về số lượng các chuyên ngành và ngành đào
91
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
tạo, đã mở rộng, phát triển từ đào tạo cử nhân đến đào tạo thạc sĩ ngành Luật kinh tế.
Ngoài ra, hàng năm, Khoa Luật thực hiện giảng dạy 21 học phần pháp luật cho các
lớp thuộc các chuyên ngành đào tạo của Trường Đại học Kinh tế quốc dân thuộc các
hệ chính quy, phi chính quy, cao học và bồi dưỡng ngắn hạn
Trong 15 năm qua, đã xuất bản 12 giáo trình, viết và lưu hành nội bộ 15 Tập bài
giảng. Các giáo trình Pháp luật đại cương và Pháp luật kinh tế được tái bản có bổ
sung, chỉnh lý hàng năm và đã được viết mới, viết lại trong các năm 2016, 2017. Giáo
trình Luật Thương mại quốc tế và Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ được xuất bản theo
chương trình các giáo trình trọng điểm của nhà trường. Giáo trình Luật Lao động xuất
bản sớm so với kế hoạch và 3 giáo trình chuyên ngành đã hoàn thành việc soạn thảo
theo kế hoạch. Tập thể giáo viên của khoa đã thực hiện dịch từ tiếng Anh giáo trình
Luật Kinh doanh quốc tế làm tài liệu nghiên cứu cho giảng dạy và học tập; Tích cực
tham gia đấu thầu các đề tài nghiên cứu khoa học của các Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ
Khoa học và Công nghệ; của Tổ chức MUTRAP (Liên minh châu Âu). Đã có hơn 40
đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, cấp Bộ và cấp Nhà nước trong và ngoài trường,
do giáo viên của khoa chủ trì, tham gia; Đã có hơn 150 bài viết được đăng trong các
Tạp chí khoa học, Kỷ yếu hội thảo trong nước và quốc tế.
Các ngành đang triển khai đào tạo
Ngành Luật
- Từ năm học 2004-2005 (từ Khóa 46), Chuyên ngành Luật Kinh doanh đối với các
hệ chính quy, VLVH, Từ xa, Văn bằng 2 và Liên kết với Trường Đại học Tây Nguyên.
- Từ năm học 2009-2010 (từ khóa 51), Chuyên ngành Luật Kinh doanh quốc tế
đối với hệ chính quy.
- Từ năm học 2012-2013, Chuyên ngành Luật Kinh tế đối với các hệ VLVH, Từ
xa và Liên thông.
- Từ năm học 2014-2015 (từ khóa 57), Chuyên ngành Luật Kinh doanh hệ POHE.
- Từ năm học 2018-2019, Chuyên ngành Luật Hành chính đối với các hệ chính
quy, VLVH, Từ xa và Liên thông.
Ngành Luật kinh tế
- Từ năm học 2015-2016, đào tạo Chuyên ngành Luật Kinh tế đối với hệ cao học.
92
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
- Từ năm học 2018-2019, ngành Luật Kinh tế gồm hai chuyên ngành Luật Kinh
doanh, Luật Kinh doanh quốc tế đối với các hệ chính quy, VLVH, Từ xa, Văn bằng 2.
Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới, khoa Luật đã và đang cố gắng từng bước
khẳng định thương hiệu trong quá trình xây dựng mô hình phát triển và nâng cao chất
lượng của giáo dục đại học thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực ngành luật có chất
lượng cao cho các cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp và các doanh nghiệp, kể cả
các cơ sở giáo dục có đào tạo chuyên ngành luật và không chuyên luật; sớm hội nhập
với giáo dục đại học trong khu vực và thế giới.
4. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT TẠI ĐẠI HỌC
KINH TẾ QUỐC DÂN
Chất lượng đào tạo là vấn đề quan tâm đặc biệt của các cơ sở đào tạo và của cả
ngành Giáo dục & Đào tạo. Có thể nói đây là vấn đề sống còn của các cơ sở đào tạo.
Trong dòng chảy chung của đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam, với xu thế phi biên
giới các quan hệ lao động và trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội về số lượng và
chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chuyên môn trong lĩnh vực
pháp lý thì việc nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành luật ở các cơ sở đào tạo
Luật nói chung và Đại học Kinh tế quốc dân càng trở nên bức thiết.
Đại học Kinh tế quốc dân với mục tiêu chiến lược là: giữ vững, phát huy và khẳng
định vị thế trường trọng điểm quốc gia, trường đầu ngành trong hệ thống giáo dục đại
học của cả nước, phát triển thành trường đại học đa ngành về kinh tế, quản lý và quản
trị kinh doanh, lọt vào danh sách 500 trường đại học tốt nhất khu vực châu Á. Trong
những năm qua nhà trường đã nỗ lực trong việc gìn giữ và nâng cao chất lượng hoạt
động đào tạo.
Cùng với chủ trương đa ngành hoá của Trường Đại học Kinh tế quốc dân và phù
hợp với xu thế chung của các trường đại học trên thế giới, khoa Luật đã và đang tạo
lập những điều kiện cơ sở để đạt được mục tiêu là cơ sở đào tạo cử nhân luật có uy
tín cho lĩnh vực quản lý, quản trị kinh doanh đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế. Các nỗ lực cụ thể là:
Thứ nhất, từ năm 2013 cho đến nay, theo yêu cầu của nhà trường, khoa Luật đã
ba lần rà soát, chỉnh sửa, bổ sung chương trình đào tạo theo hướng đáp ứng các yêu
cầu của thị trường sử dụng nguồn nhân sự có chuyên môn về luật, trên cơ sở khảo sát
93
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
nhu cầu của thị trường sử dụng lao động có sử dụng nguồn nhân lực này (cơ quan nhà
nước, doanh nghiệp, văn phòng, công ty luật…). Từ chỗ nhà trường chỉ đào tạo duy
nhất một ngành (ngành Luật với 02 chuyên ngành là Luật kinh doanh và Luật kinh
doanh quốc tế) bậc cử nhân cho các hình thức đào tạo: Chính quy, vừa làm vừa học
và từ xa, cho đến nay nhà trường đã cho phép khoa Luật đào tạo hai ngành là Luật và
Luật kinh tế. Trong đó ngành Luật đã xây dựng chương trình đào tạo ở bậc cử nhân
cho các hình thức đào tạo: Chính quy, vừa làm vừa học và từ xa; ngành Luật Kinh
tế có chương trình đào tạo bậc cử nhân và thạc sĩ. Bên cạnh đó, từ năm 2014, khoa
Luật đã xây dựng và được nhà trường phê chuẩn chương trình đào tạo cử nhân Luật
định hướng thực hành POHE. Hoạt động đào tạo các ngành theo các chương trình đạo
tạo hiện tại đã và đang từng bước gắn lý thuyết với thực hành. Sinh viên ngành Luật
không chỉ được học tại giảng đường của đại học Kinh tế quốc dân, mà giảng đường
của các bạn sinh viên Luật còn ở các văn phòng luật sư, các Toà án, các cơ quan nhà
nước, bộ phận pháp chế tại các doanh nghiệp …
Thứ hai, với mục tiêu của các chương trình đào tạo ngành Luật của Đại học Kinh
tế quốc dân là nhằm đào tạo sinh viên tốt nghiệp đáp ứng các yêu cầu về kiến thức,
chuyên môn thuộc lĩnh vực được đào tạo, có kỹ năng thực hành xã hội và khả năng
thích ứng, cạnh tranh cao trên thị trường lao động. Chương trình cũng được thiết kế
nhằm giúp sinh viên rèn luyện các kỹ năng làm việc độc lập, làm việc nhóm, tăng
cường khả năng sử dụng tốt ngoại ngữ để học tập, nghiên cứu và làm việc trong môi
trường hội nhập. Theo đó, các nội dung kiến thức phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp
của người học sau khi tốt nghiệp đã được đưa vào chương trình đào tạo, cùng với đó
là việc mở rộng khối kiến thức lựa chọn ngành và chuyên ngành nhằm tăng tính chủ
động cho người học trong việc lựa chọn và tích lũy kiến thức. Bên cạnh đó, do xác
định được tầm quan trọng của khâu thực hành nên trong cấu trúc chương trình đào tạo,
nội dung thực hành luôn chiếm một tỷ lệ thích đáng và được bố trí ở các dạng và thời
điểm thích hợp. Các nội dung này được cấu trúc nhằm trang bị cho người học kiến
thức, rèn luyện thái độ và bồi dưỡng kỹ năng thực hành.
Thứ ba, hệ thống giáo trình, học liệu phục vụ cho hoạt động đào tạo thường xuyên
được cập nhật, bổ sung nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động đào tạo. Thư viện
Phạm Văn Đồng của nhà trường đã được đưa vào sử dụng từ khi khánh thành và đưa
vào sử dụng toà nhà A2 là nơi cung cấp học liệu, tạo môi trường tốt nhất để người học
tích lũy kiến thức. Hệ thống giảng đường của nhà trường được xác định vào diện hiện
94
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
đại và đẹp nhất ở Việt Nam, đảm bảo điều kiện vật chất và tinh thần để người học có
hứng thú tiếp cận tri thức. Bên cạnh đó, hệ thống học liệu phục vụ hoạt động đào tạo
của khoa Luật tại văn phòng khoa cũng luôn được bổ sung những tài liệu mới giúp
người học có cơ hội tra cứu phục vụ hoạt động học tập và nghiên cứu của thầy và trò
trong khoa.
Thứ tư, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên ngày càng
được tăng cường.
Văn hóa trường học được áp dụng tại Đại học Kinh tế quốc dân nhằm đảm bảo
nhà trường là nơi cung cấp dịch vụ đào tạo một cách văn minh. Các viên chức hành
chính của nhà trường được đặt vào vị trí là người đại diện cho nhà cung cấp dịch vụ
đào tạo khi tiếp xúc với khách hàng (người học), với sự thân thiện, biết lắng nghe, chia
sẻ và thực hiện các nhiệm vụ một cách mẫn cán. Điều đó thể hiện sự trân trọng, quan
tâm của nhà trường đối với các khách hàng của mình.
Với đội ngũ giảng viên, nhà trường luôn nỗ lực xây dựng và phát triển đội ngũ
giảng viên đạt chuẩn. Hiện tại, nhà trường có đội ngũ giảng viên hùng hậu, trong đó
hơn 200 giáo sư, phó giáo sư, Gần 500 tiến sĩ, và các thạc sĩ, nghiên cứu sinh. Đội ngũ
này có vai trò trọng yếu tạo nên chất lượng đào tạo của nhà trường, đảm bảo vị thế của
nhà trường trên bản đồ các cơ sở đào tạo đại học ở Việt Nam.
Tại khoa Luật, với cơ cấu chuyên môn của khoa gồm 02 Bộ môn và 01 Trung tâm
tư vấn pháp luật, trong đó đội ngũ giảng viên rất vững vàng về chuyên môn, trong đó
có nhiều giảng viên tinh thông về nghề nghiệp, tham gia là việc tại các tổ chức hành
nghề luật như: Trọng tài quốc tế, các văn phòng tư vấn pháp luật, cung cấp dịch vụ
pháp chế cho các doanh nghiệp… Hiện tại khoa Luật có 26 giảng viên cơ hữu, (trong
đó có 01 phó giáo sư, 6 tiến sĩ, 08 nghiên cứu sinh, 09 giảng viên chính và các thạc
sĩ Luật). Bên cạnh đó, khoa cũng có đội ngũ giảng viên thỉnh giảng có chuyên môn
cao là các phó giáo sư, tiến sĩ thuộc ngành Luật hiện đang công tác tại các cơ quan
nhà nước ở Trung ương, địa phương, các luật sư của các văn phòng luật nổi tiếng, các
giảng viên của các cơ sở đào tạo Luật ở trong nước và nước ngoài.
Thứ năm, về người học
Giữ vững truyền thống và giá trị vô hình của nhà trường, các sinh viên, học viên
thuộc ngành Luật và Luật Kinh tế của khoa Luật trải qua quy trình tuyển sinh chặt
chẽ và thoả mãn các điều kiện tương đối cao về trình độ học vấn, về tư cách đạo đức.
95
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
Các sinh viên, học viên của khoa Luật thường là những người đã xác định được mục
tiêu nghề nghiệp trong tương lai, do vậy, cách thức mà họ tham gia quá trình đào tạo
tại trường luôn thể hiện sự chủ động, sáng tạo, không thực hiện nhiệm vụ học tập một
cách đối phó. Điều đó giúp người học tích lũy được những kiến thức cần thiết để phục
vụ cho các nhu cầu công việc của mình trong tương lai.
Hiện tại, nhiều sinh viên ngành Luật thuộc chương trình cử nhân định hướng thực
hành POHE đang thực tập nghề tại các văn phòng luật sư, được văn phòng giao cho
nhiều công việc có tính chất thường xuyên. Điều đó khẳng định: người học đã thực sự
xác định được mục tiêu học tập của mình - học gắn với thực hành.
Thứ sáu, về hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao
công nghệ
Giảng viên, sinh viên, học viên của khoa Luật thường xuyên tham gia các hoạt
động nghiên cứu khoa học do nhà trường phát động, trong đó có nhiều đề tài nghiên
cứu khoa học của giảng viên và sinh viên khoa Luật đạt giải cao nhất trong các cuộc
thi của nhà trường. Bên cạnh đó, các giảng viên của khoa Luật thường xuyên tham gia
các hoạt động nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật, hội thảo khoa học về các vấn
đề chuyên môn của ngành luật; tham gia góp ý cho hoạt động xây dựng luật pháp (góp
ý trực tiếp cho các Dự thảo luật, Pháp lệnh, Nghị định...), tham gia các chương trình
của các dự án nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam do cc tổ chức
nước ngoài tài trợ như dự án GIG, dự án JICA; ...
Thứ bảy, về hoạt động hợp tác quốc tế
Được sự cho phép của nhà trường, hoạt động hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa
học với các trường, cơ quan nghiên cứu trong nước và quốc tế được chú trọng và
thực hiện thường xuyên. Hàng năm, đã có các hoạt động như: Tổ chức bài giảng với
sự tham gia giảng dạy của giảng viên khoa Luật - Đại học Wisconsin; Trường Luật
Robert Mc Kinney, Đại học Indiana Hoa Kỳ, Khoa - Luật Đại học Akron (Hoa Kỳ),
phối hợp tổ chức buổi giới thiệu và tọa đàm về pháp luật Nhật Bản; Úc; Hoa Kỳ, Thái
Lan, mời các giáo sư các trường đại học nước ngoài giảng về các đề tài pháp luật
thương mại, pháp luật quốc tế cho giáo viên và sinh viên v.v.
Sinh viên khoa Luật tích cực tham gia các hoạt động giao lưu với Hội sinh viên
Luật châu Á (ALSA); Tổ chức Nhịp cầu xuyên biên giới Biên giới BAPSEA CLE;
Từ năm 2014, khoa Luật đã trở thành thành viên của Viện Luật châu Á (ASLI), tích
96
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
cực tham gia Hội thảo quốc tế do mạng lưới này tổ chức tại Hàn Quốc, Singapore,
Malaysia, Nhật Bản. v.v
Thứ tám, về tài chính và quản lý tài chính
Nhà trường thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ công khai, minh bạch tài chính theo
yêu cầu của nhà nước. Đối với người học, chế độ tài chính (học phí) được công khai
mức thu và thời điểm, điều kiện tăng mức thu học phí; Đối với giảng viên, viên chức
của nhà trường, quy chế thu chi nội bộ được công khai hoá đến từng giảng viên, lộ
trình tăng thu nhập cho giảng viên, viên chức của nhà trường cũng thường xuyên được
nhà trường thực hiện theo lộ trình. Điều đó góp phần tạo niềm tin cho người học và
đặc biệt là cho đội ngũ giảng viên, viên chức của nhà trường, từ đó, đội ngũ này luôn
sãng sàng cống hiến vì sự phát triển của nhà trường.
5. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM TIẾP TỤC TĂNG CƯỜNG CHẤT
LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT TẠI ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Khoa Luật, Đại học Kinh tế quốc dân đã và đang xác định các định hướng về việc
nâng cao chất lượng đào tạo trên cơ sở thực hiện các mục tiêu chiến lược sau:
1. Thường xuyên (theo định kỳ) rà soát, bổ sung chỉnh sửa, hoàn thiện các chương
trình đào tạo các ngành Luật và Luật kinh tế theo hướng đáp ứng nhu cầu của thị
trường sử dụng lao động. Hoạt động đào tạo các ngành theo các chương trình đạo tạo
hiện tại đã và đang từng bước gắn lý thuyết với thực hành. Tạo điều kiện cao nhất cho
sinh viên ngành Luật không chỉ được học tại giảng đường của Đại học Kinh tế quốc
dân, mà còn học tập tại các văn phòng luật sư, các Toà án, các cơ quan nhà nước, bộ
phận pháp chế tại các doanh nghiệp.
2. Mở rộng hoạt động đào tạo các ngành, và các hệ (đại học và sau đại học) theo
định hướng ứng dụng. Đảm bảo sinh viên tốt nghiệp đáp ứng các yêu cầu về kiến thức,
chuyên môn thuộc lĩnh vực được đào tạo, có kỹ năng thực hành xã hội và khả năng thích
ứng, cạnh tranh cao trên thị trường lao động. Chương trình cũng được thiết kế nhằm giúp
sinh viên rèn luyện các kỹ năng làm việc độc lập, làm việc nhóm, tăng cường khả năng sử
dụng tốt ngoại ngữ để học tập, nghiên cứu và làm việc trong môi trường hội nhập.
3. Đảm bảo hệ thống giáo trình, học liệu phục vụ cho hoạt động đào tạo thường
xuyên được cập nhật, bổ sung nhằm đáp ứng các yêu cầu và nâng cao chất lượng của
hoạt động đào tạo.
97
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
4. Tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên.
Trong đó, đặc biệt là nâng cao chất lượng về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ
giảng viên. Phấn đấu đến năm 2020 khoa có trên 70% giảng viên đạt trình độ từ tiến
sĩ ngành Luật.
5. Giảng viên và sinh viên, học viên của khoa tận dụng các cơ hội thường xuyên
tham gia các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học pháp lý cả ở trong và ngoài
trường, tham gia các hoạt động trao đổi học thuật, hội thảo khoa học về các vấn đề
chuyên môn của ngành luật; tham gia góp ý cho hoạt động xây dựng luật pháp.
6. Tham gia sâu vào các hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu
khoa học thông qua các hoạt động liên kết đào tạo, trao đổi sinh viên, phối hợp tổ chức
hội thảo, tổ chức bài giảng của giảng viên các trường đại học, của các chuyên gia về
các lĩnh vực pháp luật ở trong nước và nước ngoài.
Như vậy, với sự cố gắng và nỗ lực, trong thời gian qua, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân đã và đang luôn dẫn dắt, đồng hành với khoa Luật thực hiện nhiệm vụ nâng
cao chất lượng hoạt động đào tạo của mình, từ đó góp phần xây dựng hình ảnh và vị
thế của khoa Luật Đại học Kinh tế quốc dân trên thị trường và trong các cơ sở đào tạo
Luật trên cả nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chủ nhiệm Khoa Luật; Mở ngành đào tạo thạc sĩ Luật kinh tế trong bối cảnh thực
hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm: cơ hội, trải nghiệm và một số đề xuất; Tạp chí
Kinh tế và phát triển, số 221 (II), tháng 11/2015
2. Trường Đại học Kinh tế quốc dân; Chương trình đào tạo ngành Luật Kinh tế tại Trường
Đại học Kinh tế quốc dân do Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân ban hành,
98
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao chất lượng đào tạo các chuyên ngành luật tại Đại học Kinh tế quốc dân đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_cao_chat_luong_dao_tao_cac_chuyen_nganh_luat_tai_dai_ho.pdf

