Hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT  
TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ BIỆN PHÁP KHÁM XÉT, THU GIỮ,  
TẠM GIỮ TÀI LIỆU, ĐỒ VẬT  
LÊ THÁI SƠN*  
* TS. Phó Trưởng khoa An ninh điều tra, Học viện An ninh nhân dân  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Khám xét, thu giữ, tạm  
giữ, điều tra hình sự, tố tụng hình  
sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm  
2015.  
Khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật là những biện pháp thu thập  
chứng cứ quan trọng và được áp dụng phổ biến trong thực tiễn điều tra  
hình sự. Đây cũng là biện pháp mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có  
nhiều bổ sung, sửa đổi so với Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003. Tuy  
nhiên, thực tiễn áp dụng từ năm 2018 đến nay cho thấy, các quy định về  
các biện pháp này còn có một số điểm bất cập, vướng mắc cần được tiếp  
tục nghiên cứu, hoàn thiện.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 20/4/2021  
: 12/5/2021  
: 16/5/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Search, seizure, and custody of the documents and objects are important  
evidence-gathering measures and are commonly applied in criminal  
investigation practice. This is also a measure with many amendments  
in the Criminal Procedure Code of 2015 compared to the one in the  
Criminal Procedure Code of 2003. However, practical enforcement  
from 2018 up to now shows that the provision on this measure reveals a  
number of shortcomings and problems that need to be further reviewed  
for improvements.  
Keywords: Search, seizure and  
custody; criminal investigation;  
criminal procedure; the Criminal  
Procedure Code of 2015  
Article History:  
Received  
Edited  
: 20 Apr. 2021  
: 12 May. 2021  
: 16 May. 2021  
Approved  
1. Những điểm mới trong các quy định của Bộ  
luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về biện pháp  
khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu  
Biện pháp khám xét, thu giữ, tạm giữ tài  
liệu, đồ vật được quy định tại các điều từ  
Điều 192 đến Điều 200 trong Chương XIII  
Bộ luật Tố tụng Hình sự (TTHS) năm 2015.  
So với Bộ luật TTHS năm 2003, quy định  
về khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ  
vật trong Bộ luật TTHS năm 2015 có nhiều  
điểm mới. Cụ thể như sau:  
chỗ làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện  
tín, bưu kiện bưu phẩm giống như các quy  
định của Điều 140 Bộ luật TTHS năm 2003,  
Điều 192 Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ  
sung thêm các đối tượng khám xét bao gồm  
phương tiện, tài liệu và dữ liệu điện tử và  
đồng thời sửa đối tượng khám xét từ “chỗ  
làm việc” thành “nơi làm việc” cho đúng  
với tính chất, phạm vi của đối tượng khám  
xét này.  
- Bổ sung thêm mục đích khám xét: Bên  
cạnh quy định việc khám xét nhằm phát  
hiện, thu thập công cụ, phương tiện phạm  
tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc  
- Bổ sung thêm các đối tượng khám xét:  
Ngoàicácđốitượngkhámxétlàngười, chỗở,  
34  
Số 11(435) - T6/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án,  
phát hiện người bị truy nã giống như các quy  
định của Điều 140 Bộ luật TTHS năm 2003,  
Điều 192 Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ  
sung thêm mục đích của khám xét là nhằm  
phát hiện, thu thập tài liệu, dữ liệu điện tử,  
truy tìm và giải cứu nạn nhân.  
- Sửa đổi căn cứ khám xét thư tín, điện  
tín, bưu kiện, bưu phẩm: Khoản 2 Điều 192  
Bộ luật TTHS năm 2015 đã sửa đổi căn cứ  
khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu  
phẩm là “Khi cần phải thu thập tài liệu đồ  
vật liên quan đến vụ án thì có thể khám thư  
tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm” thành  
“Khi có căn cứ nhận định trong thư tín, điện  
tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có  
công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ  
vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể  
khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu  
phẩm, dữ liệu điện tử”.  
trường hợp khám xét khẩn cấp. Quy định  
này nhằm tăng cường sự hiện diện của Kiểm  
sát viên trong các hoạt động điều tra nhằm  
kiểm sát việc tuân thủ pháp luật và thực hành  
quyền công tố ngay trong giai đoạn điều tra  
vụ án hình sự.  
- Đối với khám xét người, so với Điều  
142 Bộ luật TTHS năm 2003, Điều 194  
Bộ luật TTHS năm 2015 đã thay thế cụm  
từ “đương sự” bằng “người bị khám xét”,  
đồng thời bổ sung tình tiết khi yêu cầu người  
bị khám xét đưa ra các đồ vật, tài liệu liên  
quan đến vụ án mà họ “không đưa ra đầy  
đủ” thì tiến hành khám xét chứ không chỉ là  
“từ chối không đưa”. Cũng tại điều này, Bộ  
luật TTHS năm 2015 đã bổ sung quy định:  
việc khám xét không được xâm phạm đến  
tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân  
phẩm của người bị khám xét nhằm bảo vệ  
quyền của người bị khám xét đồng thời hạn  
chế những sai sót trong thực tiễn.  
- Khoản 2 Điều 35 Bộ luật TTHS năm  
2015 bổ sung thẩm quyền khám xét của  
những người được giao nhiệm vụ tiến hành  
một số hoạt động điều tra; khoản 1 Điều  
193 Bộ luật TTHS năm 2015 bổ sung thẩm  
quyền ra lệnh khám xét của cấp trưởng, cấp  
phó các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến  
hành một số hoạt động điều tra (thuộc Bộ  
đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh  
sát biển, Kiểm ngư...) phù hợp với nhiệm vụ,  
quyền hạn tố tụng của các chức danh này.  
- Khoản 2 Điều 193 Bộ luật TTHS năm  
2015 sửa đổi quy định khám xét trong trường  
hợp “không thể trì hoãn” của khoản 2 Điều 141  
Bộ luật TTHS năm 2003 thành “khám xét khẩn  
cấp” nhằm bảo đảm sự tương thích với biện  
pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp.  
- Bổ sung quy định Kiểm sát viên có mặt  
để kiểm sát việc tiến hành khám xét: Khoản 3  
Điều 193 Bộ luật TTHS năm 2015 bổ sung  
quy định: Trước khi tiến khám xét, Điều tra  
viên phải thông báo cho Viện kiểm sát về  
thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để  
cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ  
- Đối với khám xét chỗ ở, nơi làm việc,  
địa điểm, phương tiện, Điều 195 Bộ luật  
TTHS năm 2015 đã quy định khá đầy đủ  
về trình tự, thủ tục khám xét đối với từng  
đối tượng chứ không dẫn chiếu từ các điều  
luật khác.  
Trong khám xét chỗ ở, “người đã thành  
niên trong gia đình” đã được thay thế bằng  
“người từ đủ 18 tuổi trở lên”. Ngoài các lý  
do người bị khám xét hoặc người từ đủ 18  
tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ  
trốn, Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung  
thêm “những lý do khác họ không có mặt”  
mà trong trường hợp không thể trì hoãn việc  
khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải  
có đại diện chính quyền và thay thế cụm từ  
“hai người láng giềng chứng kiến” bằng  
cụm từ “hai người chứng kiến”; thay thế  
cụm từ “không được khám chỗ ở vào ban  
đêm” bằng “không được bắt đầu khám xét  
chỗ ở vào ban đêm” để tạo thuận lợi cho chủ  
thể tiến hành khám xét đối với những cuộc  
khám xét kéo dài từ ban ngày sang ban đêm.  
Số 11(435) - T6/2021  
35  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Trong khám xét nơi làm việc, Bộ luật  
TTHS năm 2015 đã bổ sung trường hợp  
“không có đại diện của cơ quan, tổ chức  
thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng  
phải có đại diện của chính quyền nơi khám  
xét và hai người chứng kiến để bảo đảm tính  
khách quan”.  
Đối với khám xét phương tiện, ngoài  
những quy định chung về sự có mặt của chủ  
sở hữu, người quản lý phương tiện và người  
chứng kiến, Điều 195 Bộ luật TTHS năm  
2015 còn quy định “mời người có chuyên  
môn liên quan đến phương tiện tham gia”.  
- Bộ luật TTHS năm 2015 còn bổ sung  
mới Điều 196 về thu giữ phương tiện điện  
tử, dữ liệu điện tử do dữ liệu điện tử là nguồn  
chứng cứ mới; trong đó, bao hàm quy định  
đặc thù như: Mời người có chuyên môn liên  
quan tham gia, sao lưu dữ liệu điện tử và thu  
các thiết bị ngoại vi...  
Chương này điều chỉnh về hai loại biện pháp  
là khám xét và thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ  
vật. Tuy nhiên, tên và nội dung các điều luật  
của Chương còn lẫn lộn, chưa rạch ròi giữa  
hai biện pháp này về mặt căn cứ, đối tượng,  
trình tự, thủ tục, thẩm quyền..., chưa xác định  
được thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật là trong  
khi khám xét hay độc lập với khám xét.  
Để khắc phục hạn chế này, tác giả cho  
rằng, cần phải sửa đổi Chương XIII Bộ luật  
TTHS năm 2015 theo hướng quy định khám  
xét và thu giữ, tạm giữ là hai biện pháp khác  
nhau về đối tượng, trình tự, thủ tục, thẩm  
quyền, căn cứ tiến hành; thu giữ, tạm giữ  
có thể được tiến hành độc lập với khám xét  
hoặc tiến hành trong khi khám xét. Đối tượng  
khám xét là người, chỗ ở, nơi làm việc, địa  
điểm, phương tiện; đối tượng thu giữ, tạm  
giữ là thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm,  
dữ liệu điện tử, vật chứng, tài liệu, đồ vật.  
Thứ hai, giữa tên gọi và nội dung của Điều  
192 Bộ luật TTHS năm 2015 không thống  
nhất. Theo tên gọi của điều luật, đối tượng  
khám xét bao gồm: Người, chỗ ở, nơi làm  
việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật,  
thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu  
điện tử. Tuy nhiên, về nội dung, Điều 192  
chỉ quy định về khám xét người, chỗ ở, nơi  
làm việc, địa điểm, phương tiện, thư tín, điện  
tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử mà  
không đề cập đến tài liệu, đồ vật. Mặt khác,  
theo quy định của điều này thì dữ liệu điện tử  
là đối tượng khám xét, nhưng dữ liệu điện  
tử chỉ có thể là đối tượng cần phát hiện, thu  
thập với tư cách là một loại nguồn của chứng  
cứ chứ không thể là đối tượng khám xét.  
Trên thực tiễn cũng chưa có Cơ quan điều  
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành  
một số hoạt động điều tra nào ra lệnh khám  
xét đối với đối tượng là dữ liệu điện tử. Vì  
vậy, tên gọi của Điều 192 Bộ luật TTHS  
năm 2015 cần được sửa đổi và đưa “tài liệu,  
đồ vật, dữ liệu điện tử” ra khỏi diện đối  
tượng khám xét.  
Ngoài ra, Điều 197 Bộ luật TTHS năm  
2015 quy định về thu giữ thư tín, điện tín,  
bưu kiện, bưu phẩm tại “cơ quan, tổ chức  
bưu chính viễn thông” (thay cho cụm từ  
“bưu điện” trong Bộ luật TTHS năm 2003)  
còn bổ sung thủ tục đề nghị xét phê chuẩn  
của Viện kiểm sát sau khi thu giữ trong  
trường hợp không thể trì hoãn và các công  
việc cần tiến hành trong trường hợp Viện  
kiểm sát không phê chuẩn lệnh thu giữ.  
2. Một số bất cập, vướng mắc và đề xuất  
tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ  
luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về biện  
pháp khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu,  
đồ vật  
Thực tiễn thi hành Bộ luật TTHS năm  
2015 về biện pháp khám xét, thu giữ, tạm  
giữ tài liệu, đồ vật cho thấy, bên cạnh những  
thuận lợi còn có một số bất cập, vướng mắc  
cần phải được tiếp tục hoàn thiện sau đây:  
Thứ nhất, tên gọi của Chương XIII Bộ luật  
TTHS năm 2015 là “Khám xét, thu giữ, tạm  
giữ đồ vật tài liệu”. Như vậy, có thể hiểu,  
36  
Số 11(435) - T6/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Thứ ba, theo quy định của Điều 192 Bộ  
luật TTHS năm 2015, mục đích của khám  
xét là: Phát hiện, thu thập công cụ, phương  
tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm  
tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu  
khác có liên quan đến vụ án, phát hiện người  
bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.  
Trong khi đó, Điều 89 Bộ luật TTHS năm  
2015 đã quy định “Vật chứng là vật được  
dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật  
mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của  
tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng  
minh tội phạm và người phạm tội hoặc có  
ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Như  
vậy, trong các đối tượng cần phát hiện, thu  
thập theo mục đích khám xét nêu trên thì:  
công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ  
vật, tài sản do phạm tội mà có chính là vật  
chứng. Mặt khác, truy tìm và giải cứu nạn  
nhân cũng không phải là mục đích khám xét;  
mục đích khám xét chỉ là phát hiện nạn nhân  
cũng giống như phát hiện người đang bị truy  
nã, còn bắt người đang bị truy nã hay giải  
cứu nạn nhân là biện pháp khác.  
Để khắc phục bất cập nêu trên, tác giả  
cho rằng, cần sửa đổi Điều 192 Bộ luật  
TTHS năm 2015 theo hướng xác định mục  
đích khám xét là: Nhằm phát hiện, thu thập  
vật chứng, dữ liệu điện tử, đồ vật, tài liệu  
khác có liên quan và phát hiện người bị truy  
nã, nạn nhân.  
Thứ tư, khoản 1 Điều 193 Bộ luật TTHS  
năm 2015 quy định: “Những người có thẩm  
quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ  
luật này có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh  
khám xét của những người được quy định tại  
khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113  
Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm  
quyền phê chuẩn trước khi thi hành”. Quy  
định này là chưa hợp lý; bởi lẽ, theo quy  
định của đoạn 1 thì chỉ những người có thẩm  
quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 mới có  
thẩm quyền khám xét, nhưng theo quy định  
của đoạn 2 thì cả những người được quy  
định tại khoản 2 Điều 35 cũng có quyền ra  
lệnh khám xét. Những người được quy định  
tại khoản 2 Điều 35 bao gồm cấp trưởng,  
cấp phó và cán bộ điều tra các cơ quan khác  
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt  
động điều tra. Tuy nhiên, cán bộ điều tra thì  
không thể ra lệnh khám xét được.  
Để khắc phục bất cập này, tác giả cho  
rằng, cần đổi sửa đổi khoản 1 Điều 193 Bộ  
luật TTHS năm 2015 như sau: “Những người  
có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều  
113, điểm a, b, c, d, đ, e, h khoản 2 Điều 35  
của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét.  
Lệnh khám xét của những người được quy  
định tại điểm a, b, c, d, đ, e, h khoản 2 Điều  
35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật  
này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền  
phê chuẩn trước khi thi hành”.  
Thứ năm, quy định của Điều 193 Bộ  
luật TTHS năm 2015 (Thẩm quyền ra lệnh  
khám xét) về việc thông báo cho Viện kiểm  
sát để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc tiến  
hành khám xét cũng như việc lập biên bản  
khám xét là không phù hợp; bởi lẽ, đây  
là những vấn đề thuộc về trình tự, thủ tục  
khám xét. Hơn nữa, trường hợp các cơ quan  
khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số  
hoạt động điều tra tiến hành khám xét thì  
không thể có Điều tra viên để thông báo  
cho Viện kiểm sát được.  
Bộ luật TTHS năm 2015 mới quy định  
về thủ tục đọc lệnh, đưa cho người bị khám  
xét đọc lệnh, giải thích quyền, nghĩa vụ,  
yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài  
liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án khi  
khám xét người (Điều 194); đối với các đối  
tượng khám xét khác như chỗ ở, nơi làm  
việc, địa điểm, phương tiện... thì không  
quy định và cũng không có viện dẫn như  
khoản 1 Điều 143 Bộ luật TTHS năm 20031.  
1 Khoản 1 Điều 143 Bộ luật TTHS năm 2003 có quy định việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm được tiến  
hành theo quy định tại các điều 140, 141, 142 của Bộ luật này như đối với khám người.  
Số 11(435) - T6/2021  
37  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Thủ tục mời người có chuyên môn liên  
quan tham gia khám xét cũng chỉ được Bộ  
luật TTHS năm 2015 đề cập khi khám xét  
phương tiện hoặc dữ liệu điện tử, còn khi  
khám xét các đối tượng khác thì không được  
đề cập.  
Để khắc phục bất cập nêu trên, tác giả  
cho rằng, cần sửa đổi Bộ luật TTHS năm  
2015 theo hướng bổ sung quy định về trình  
tự, thủ tục khám xét chung cho tất cả các đối  
tượng khám xét; trong đó có việc đọc lệnh,  
đưa cho người bị khám xét đọc lệnh, yêu cầu  
đưa ra tài liệu, đồ vật có liên quan, thông báo  
cho Viện kiểm sát để cử Kiểm sát viên kiểm  
sát, mời người có chuyên môn liên quan, lập  
biên bản....  
Thứ sáu, nhằm tuân thủ nguyên tắc  
hiến định bảo đảm, bảo vệ quyền con  
người, quyền công dân, Bộ luật TTHS  
năm 2015 đã bỏ trường hợp bắt khẩn  
cấp, đồng thời bổ sung các biện pháp giữ  
người trong trường hợp khẩn cấp, bắt  
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp  
để “thay thế”. Tuy nhiên, khoản 3 Điều  
194 Bộ luật TTHS năm 2015 chỉ quy định  
trong trường hợp bắt người hoặc khi có  
căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi  
khám xét giấu trong người vũ khí, hung  
khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan  
đến vụ án thì có thể khám xét người mà  
không cần có lệnh. Vì vậy, trường hợp  
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, chủ  
thể có thẩm quyền không được tiến hành  
khám người mà không có lệnh. Trong  
khi đó, đây là vấn đề rất cần thiết nhằm  
nhanh chóng thu giữ vũ khí, hung khí mà  
đối tượng có thể lợi dụng chống trả hoặc  
thu thập vật chứng, đồ vật, tài liệu trong  
người của đối tượng nhằm phục vụ quá  
trình điều tra. Để khắc phục bất cập này,  
tác giả cho rằng cần sửa đổi Điều 194 Bộ  
luật TTHS năm 2015 theo hướng bổ sung  
trường hợp khám người không cần lệnh  
khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp.  
Thứ bảy, Điều 192 Bộ luật TTHS năm  
2015 quy định đối tượng khám xét bao  
gồm: người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm,  
phương tiện, thư tín, điện tín, bưu kiện,  
bưu phẩm, dữ liệu điện tử. Trong khi đó,  
các điều 196, 197, 198 Bộ luật TTHS năm  
2015 lại quy định về thu giữ thư tín, điện  
tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử  
và tạm giữ tài liệu mà không phải là khám  
xét. Như vậy, giữa các quy định trên chưa  
bảo đảm sự thống nhất; bởi lẽ, nếu cùng  
là đối tượng khám xét thì thư tín, điện tín,  
bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử, đồ  
vật, tài liệu cần phải quy định chung là  
việc khám xét chứ không phải là thu giữ,  
tạm giữ. Để khắc phục bất cập này, tác giả  
cho rằng, cần sửa đổi Điều 192 Bộ luật  
TTHS năm 2015 theo hướng đưa thư tín,  
điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện  
tử, đồ vật, tài liệu ra khỏi diện đối tượng  
khám xét và chuyển vào đối tượng của thu  
giữ, tạm giữ.  
Thứ tám, Điều 196 Bộ luật TTHS năm  
2015 có tên và nội dung trùng với Điều  
107 về thu thập phương tiện điện tử, dữ  
liệu điện tử. Hơn nữa, theo quy định của  
Điều 192 Bộ luật TTHS năm 2015, phương  
tiện điện tử cũng không phải là đối tượng  
khám xét độc lập. Bên cạnh đó, Điều 198  
Bộ luật TTHS năm 2015 quy định về việc  
lập biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu khi  
tiến hành khám xét. Trong khi đó, khi tiến  
hành khám xét đã lập biên bản khám xét  
rồi thì lập thêm biên bản tạm giữ đồ vật tài  
liệu là không cần thiết. Để khắc phục hạn  
chế này, chúng tôi cho rằng, cần sửa đổi  
Bộ luật TTHS năm 2015 theo hướng nhập  
Điều 196 và Điều 198 Bộ luật TTHS năm  
2015 thành một điều luật với tên gọi: “Thu  
giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện  
tử”, trong đó, cần quy định rõ, trường hợp  
thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, dữ liệu  
điện tử khi khám xét thì không cần phải  
lập biên bản riêng  
38  
Số 11(435) - T6/2021  
pdf 5 trang Thùy Anh 9700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_cac_quy_dinh_cua_bo_luat_to_tung_hinh_su_nam_2015.pdf