Hệ thống biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam từ giữa thế kỷ 19 đến nay và xu hướng phát triển

HỆ THỐNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN  
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ GIỮA THẾ KỶ 19 ĐẾN NAY  
VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN  
LÊ TRỌNG TÀI* - TRẦN ĐỨC HIẾU**  
Hệ thống biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam đã có nhiều sự thay đổi  
cùng với sự phát triển của lịch sử nhà nước và pháp luật. Bài viết tập trung phân tích, đánh  
giá khái quát sự thay đổi của hệ thống biện pháp ngăn chặn thời kỳ từ giữa thế kỷ 19 đến  
nay với hai giai đoạn trước và sau khi Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) đầu tiên được  
ban hành.  
Từ khóa: Tố tụng hình sự Việt Nam, biện pháp ngăn chặn, bắt, tạm giữ, tạm giam.  
Ngày nhận bài: 05/6/2021; Biên tập xong: 01/7/2021; Duyệt đăng: 15/8/2021  
The system of preventive measures in criminal proceedings in Vietnam has many  
changes along with the development of the history of the state and law. The article  
focuses on analyzing and evaluating the changes of the system of preventive measures  
in the period from the mid-nineteenth century to the present with two periods before  
and after the first Vietnamese Criminal Procedure Code was promulgated.  
Keywords: Vietnamese criminal proceedings, preventive measures, arrest, temporary  
detention or custody.  
iện pháp ngăn chặn là một trong tìm thấy BLTTHS áp dụng tại Bắc kỳ, hai  
những chế định có vị trí quan trọng  
trong pháp luật tố tụng hình sự mỗi  
văn bản còn lại vẫn chưa được tìm thấy.  
B
BLTTHS áp dụng tại miền Bắc có 13  
chương với 211 điều, nhưng quy định về  
biện pháp ngăn chặn mới chỉ dừng lại ở  
hai biện pháp bắt và giam giữ nói chung  
và được lồng ghép tại nhiều chương khác  
nhau như: Tại ngoại hậu cứu (Chương IV),  
Tạm tha người có tội (Chương VI), Giam  
thất (Chương XII)... Trong những nội dung  
này, đáng chú ý là quy định chi tiết về các  
trường hợp phải trả tự do cho người bị tạm  
giam nếu hết thời hạn tạm giam hoặc thời  
hạn tạm giam bằng thời hạn phạt tù. Điều  
này cho thấy quy định về trả tự do cho  
người bị tạm giam đã xuất hiện sớm trong  
lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam,  
mặc dù trong thời kỳ Pháp thuộc. Đây là  
quy định góp phần quan trọng vào việc bảo  
quốc gia cũng như Việt Nam bởi đây là  
những quy định góp phần bảo đảm hiệu  
quả hoạt động giải quyết vụ án hình sự.  
Trải qua quá trình tồn tại lâu dài trong tố  
tụng hình sự, hệ thống các biện pháp ngăn  
chặn đã có nhiều sự thay đổi. Việc nghiên  
cứu lịch sử các biện pháp ngăn chặn trong  
tố tụng hình sự giúp chúng ta hiểu rõ hơn  
về bản chất và ý nghĩa xã hội - pháp lý của  
chúng, từ đó có những dự báo về triển  
vọng phát triển, phương hướng hoàn thiện  
chế định quan trọng này.  
1. Giai đoạn trước khi Bộ luật tố tụng  
hình sự năm 1988 được ban hành  
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt  
Nam, sau đó áp dụng chính sách chia để trị  
và xây dựng hệ thống pháp luật thực dân  
nửa phong kiến nên ở ba miền có ba văn  
bản luật tố tụng hình sự khác nhau. Tuy  
* Thạc sĩ, giảng viên Khoa Luật, Học viện Cảnh sát  
nhân dân. Nghiên cứu sinh Khoa Luật, Đại học Tổng  
hợp miền Nam Liên bang, Liên bang Nga  
nhiên đến nay, các nhà nghiên cứu mới chỉ ** Khoa Luật, Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an  
26 Khoa học Kiểm sát  
Số 04 - 2021  
LÊ TRỌNG TÀI - TRẦN ĐỨC HIẾU  
đảm quyền và tự do của người bị giam giữ, thẩm phán viên...”3. Quy định này đã cho  
vì người bị buộc tội chỉ có thể bị giam giữ  
theo căn cứ và thời hạn do luật định. Bởi  
vậy, quy định tiến bộ này tiếp tục được ghi  
nhận trong BLTTHS nước Việt Nam độc lập  
sau này. Chúng tôi đồng quan điểm với tác  
giả Nguyễn Trọng Phúc khi cho rằng “pháp  
luật tố tụng hình sự được áp dụng tại Bắc Kỳ  
chịu sự ảnh hưởng của pháp luật tố tụng hình  
sự Pháp, nhưng xét về khía cạnh pháp lý thì  
có sự tiến bộ về kỹ thuật lập pháp mang giá trị  
khoa học đáng được tham khảo”1 bởi các biện  
pháp ngăn chặn nói riêng, thủ tục tố tụng  
nói chung được xây dựng sau này là kết quả  
của những sự thay đổi trước đó.  
Sau khi giành được độc lập năm 1945,  
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rất  
quan tâm đến hoạt động lập pháp, minh  
chứng là sự ra đời của bản Hiến pháp đầu  
tiên ngày 09/11/1946. Điều 11 Hiến pháp  
quy định: “Tư pháp chưa quyết định thì  
không được bắt bớ và giam cầm người  
công dân Việt Nam”2. Trên cơ sở Hiến  
pháp, các đạo luật hành pháp được ban  
hành như Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946  
về tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm  
phán; Sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946 về  
việc bảo vệ tự do cá nhân; Sắc lệnh số 51  
ngày 17/4/1946 về việc ấn định thẩm quyền  
các Tòa án và sự phân công giữa các nhân  
viên trong Tòa án; Sắc lệnh số 131 ngày  
20/7/1946 về tổ chức Tư pháp Công an.  
Đây là những văn bản luật đầu tiên của  
nước Việt Nam độc lập thời kỳ hiện đại có  
các quy định liên quan đến biện pháp ngăn  
chặn. Tuy chỉ mới quy định về bắt và giam  
giữ người (bao gồm tạm giam và tạm giữ)  
nhưng cũng có những nội dung rất tiến bộ  
như: “Chỉ trừ khi nào có sự phạm pháp  
quả tang về khinh tội hay trọng tội còn bao  
giờ bắt người cũng cần phải có lệnh của  
thấy sự coi trọng quyền con người, quyền  
công dân của nhà nước ta khi nhấn mạnh  
việc bắt người phải có lệnh bằng văn bản  
của người có thẩm quyền, trừ trường hợp  
bắt người phạm tội quả tang. Nội dung  
này tiếp tục được kế thừa trong các văn  
bản luật sau này.  
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm  
1954 chính thức chấm dứt ách thống trị của  
thực dân Pháp kéo dài gần một thế kỷ, mở  
ra bước ngoặt phát triển mới cho dân tộc  
Việt Nam. Đất nước ta bước sang thời kỳ  
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và  
kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Pháp  
luật nói chung, pháp luật tố tụng hình sự  
nói riêng của thời kỳ này phải góp phần  
phục vụ thắng lợi các nhiệm vụ trên của  
cách mạng nước nhà.  
Ở miền Bắc, ngày 20/5/1957, Quốc hội  
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban  
hành Luật số 103-SL/L5 đảm bảo quyền tự  
do thân thể và quyền bất khả xâm phạm  
đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân.  
Có ba biện pháp ngăn chặn được quy định  
tại Chương II - Việc bắt người phạm pháp;  
Chương III - Việc tạm giữ, tạm giam, tạm  
tha; trong đó đáng chú ý ở thủ tục, thẩm  
quyền ra lệnh bắt người: “Ngoài những  
trường hợp phạm pháp quả tang và  
trường hợp khẩn cấp nói trong Điều 4, bắt  
người phạm đến pháp luật Nhà nước phải  
có lệnh viết của cơ quan tư pháp từ cấp  
tỉnh hoặc thành phố trở lên nếu là thường  
dân phạm pháp, hoặc của toà án binh nếu  
là quân nhân phạm pháp, hay là thường  
dân phạm pháp có liên quan đến quân đội  
nhân dân”4. Đây lần đầu tiên pháp luật Việt  
Nam phân định rõ thẩm quyền áp dụng  
một biện pháp ngăn chặn đối với người  
phạm tội là quân nhân hay người dân bình  
1ꢀ Nguyễn Trọng Phúc, Chế định các biện pháp ngăn chặn thường. Trong văn bản luật này, thời hạn  
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến  
tạm giam cũng lần đầu tiên được quy định.  
sỹ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, trang 66.  
2ꢀ Điều 11 Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng 3ꢀ Điều 1 Sắc lệnh số 40.  
hoà năm 1946.  
4ꢀ Điều 3 Luật số 103-SL/L5.  
Số 04 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 27  
HỆ THỐNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN...  
Tiếp theo là Sắc luật số 002/SLT ngày thuật lập pháp. Tuy chưa xuất hiện biện  
18/6/1957 quy định những trường hợp pháp ngăn chặn mới mà đối tượng bị áp  
phạm pháp quả tang, những trường hợp dụng không bị giam giữ, nhưng vẫn có  
khẩn cấp, và những trường hợp khám những quy định có thể coi là “tiền thân” của  
người phạm pháp quả tang đã đánh dấu các biện pháp sau này như cấm đi khỏi nơi  
một bước phát triển mới về kỹ thuật lập cư trú: “Trong tình thế đặc biệt hiện thời và  
pháp trong lĩnh vực luật tố tụng hình sự cho đến khi có lệnh khác, Chủ tịch Uỷ ban  
khi chỉ ra rất chi tiết về các căn cứ bắt người, hành chính kỳ đặc cách được phép ra lệnh  
thủ tục và thẩm quyền ra lệnh bắt. Đạo luật bắt những người xét ra lời nói hay việc làm  
này đã quy định chi tiết về bốn trường hợp  
bắt người phạm tội quả tang và sáu trường  
hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, những quy định  
này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Việc  
quy định bắt người “đang có lệnh truy nã”  
thuộc trường hợp bắt quả tang là chưa phù  
hợp với bản chất cũng như tên gọi của nó;  
chỉ quy định “Có hành động chuẩn bị trốn,  
hoặc đang trốn”5 hay “Căn cước, lý lịch  
không rõ ràng”6 mà không gắn với người  
thực hiện hành vi phạm tội là những căn  
cứ để bắt khẩn cấp chưa thực sự phù hợp,  
có thể dẫn đến việc áp dụng không đúng  
hoặc lạm dụng trên thực tế...  
Ở miền Nam, ngày 15/03/1976, Hội  
đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng  
hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc luật  
số 02/SL-76 về thẩm quyền và thủ tục bắt,  
giam những phần tử cần tập trung cải tạo.  
Những quy định về biện pháp ngăn chặn  
trong đạo luật này giống với quy định  
được áp dụng tại miền Bắc nhưng có sự  
phân định cụ thể đối với thẩm quyền áp  
dụng của Viện kiểm sát nhân dân, Ủy ban  
nhân dân cách mạng và cơ quan An ninh  
bởi đây là văn bản luật được áp dụng với  
những phần tử phản cách mạng vào thời  
điểm vừa giải phóng miền Nam, thống  
nhất đất nước.  
có thể làm hại cho sự đấu tranh giành độc  
lập, cho chế độ dân chủ, cho sự an toàn của  
công chúng và sự đoàn kết của quốc gia, để  
đem trừng trị trong những trại giam đặc  
biệt. Chủ tịch Uỷ ban hành chính kỳ cũng có thể  
ra lệnh cấm những người kể trên không được ở  
luôn hoặc lui tới một hay nhiều nơi sẽ ấn định”7.  
2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố  
tụng hình sự năm 1988  
Sau khi giải phóng miền Nam, thống  
nhất đất nước, từ tháng 12/1986, Việt Nam  
bước sang thời kỳ đổi mới toàn diện với  
chính sách phát triển kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa. Pháp luật tố  
tụng hình sự nói chung và các quy định về  
biện pháp cưỡng chế nói riêng trong giai  
đoạn này ngày càng được hoàn thiện để  
phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh  
chống tội phạm8. Tuy nhiên, những mặt  
trái của nền kinh tế thị trường kéo theo  
các hiện tượng tiêu cực mới trong xã hội,  
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị  
xâm phạm, hoạt động lập pháp nói chung,  
xây dựng luật tố tụng hình sự nói riêng tồn  
tại nhiều hạn chế do chiến tranh kéo dài.  
Để khắc phục những hạn chế trên và  
phục vụ hiệu quả cho công tác đấu tranh  
phòng chống tội phạm trong thời kỳ mới,  
BLTTHS đầu tiên đã ra đời ngày 28/6/1988,  
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989. Lần  
đầu tiên trong pháp luật Việt Nam hiện đại,  
một danh sách chi tiết các biện pháp ngăn  
Có thể thấy, giai đoạn này, pháp luật  
Việt Nam mới chỉ tập trung quy định các  
biện pháp ngăn chặn cơ bản là bắt người,  
tạm giam, tạm giữ bởi những hạn chế nhất  
định về hoàn cảnh lịch sử, trình độ và kỹ  
7ꢀ Điều thứ 7 Sắc lệnh số 40.  
8ꢀ Trần Thị Bích Hà, Biện pháp cưỡng chế trong luật tố  
tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học,  
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020, trang 20.  
5ꢀ Khoản 4 Điều 2 Sắc luật số 002-SLT.  
6ꢀ Khoản 6 Điều 2 Sắc luật số 002-SLT.  
28 Khoa học Kiểm sát  
Số 04 - 2021  
LÊ TRỌNG TÀI - TRẦN ĐỨC HIẾU  
chặn được xây dựng tại Chương V với: 1) Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 74); Bảo lĩnh  
Bắt (bao gồm: bắt bị can, bị cáo để tạm giam; (Điều 75); Đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm  
bắt trong trường hợp khẩn cấp; bắt người  
phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã); 2)  
Tạm giữ; 3) Tạm giam; 4) Cấm đi khỏi nơi  
cư trú; 5) Bảo lĩnh; 6) Đặt tiền hoặc tài sản có  
giá trị để bảo đảm. BLTTHS năm 1988 có ý  
nghĩa lập pháp quan trọng trong lĩnh vực tố  
tụng hình sự bởi đây là lần pháp điển hoá  
đầu tiên đối với hệ thống biện pháp ngăn  
chặn. Từ đây, các biện pháp ngăn chặn  
chính thức trở thành một chế định độc lập  
trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.  
(Điều 76). Tuy nhiên, biện pháp đặt tiền  
hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm mới chỉ  
áp dụng với bị can, bị cáo là người nước  
ngoài. Sự xuất hiện của các biện pháp ngăn  
chặn được thực hiện ở cộng đồng (bị can,  
bị cáo không bị tạm giam) thể hiện sự quan  
tâm của Nhà nước ta đối với vấn đề bảo vệ  
tốt hơn quyền và tự do cá nhân, đồng thời,  
đề cao trách nhiệm không chỉ của cơ quan  
tố tụng mà còn của người dân đối với công  
tác đấu tranh phòng chống tội phạm.  
Với bộ luật này, biện pháp bắt khẩn cấp  
được rút gọn còn ba trường hợp, trong đó  
một người có hành vi chuẩn bị thực hiện  
tội phạm nghiêm trọng sẽ bị bắt. Sở dĩ có  
trường hợp mới này bởi Bộ luật hình sự  
Việt Nam năm 1985 quy định có hai loại  
tội phạm là tội phạm nghiêm trọng và tội  
phạm ít nghiêm trọng, đồng thời “người  
chuẩn bị phạm một tội nghiêm trọng phải  
chịu trách nhiệm hình sự”9. Các căn cứchưa  
phù hợp nêu tại Sắc luật số 002-SLT ngày  
18/6/1957 như “Căn cước, lai lịch không  
rõ ràng” đã được huỷ bỏ. Các hành vi gây  
khó khăn cho hoạt động giải quyết vụ án  
như “có hành động chuẩn bị trốn, hoặc  
đang trốn”, “có sự thông đồng giữa những  
kẻ phạm pháp với nhau để trốn tránh pháp  
luật” đã được khái quát hoá trong các căn  
cứ bắt khẩn cấp khác. Như vậy, so với các  
văn bản luật trước đây, căn cứ bắt khẩn  
cấp đã được thu hẹp, chặt chẽ và khoa học  
hơn, gắn với quy định của luật nội dung  
(Luật hình sự) bởi đây là biện pháp bắt  
được áp dụng trong tình huống cấp bách  
trước khi có sự phê chuẩn của Viện kiểm  
sát, tác động mạnh mẽ, tức thì đến quyền  
bất khả xâm phạm về thân thể của cá nhân.  
Bên cạnh đó, bắt người đang bị truy nã đã  
được tách khỏi các trường hợp bắt người  
phạm tội quả tang.  
Hiến pháp năm 1992 ra đời đặc biệt coi  
trọng việc bảo đảm quyền con người trong  
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn với các  
quy định: “Không ai bị bắt, nếu không có  
quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định  
hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân,  
trừ trường hợp phạm tội quả tang… Việc  
bắt và giam giữ phải đúng pháp luật” (Điều  
71); “người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét  
xử trái pháp luật có quyền được bồi thường  
thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự.  
Người làm trái pháp luật trong việc bắt,  
giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho  
người khác phải bị xử lý nghiêm” (Điều 72).  
Đây là cơ sở vững chắc cho các quy định  
của BLTTHS về biện pháp ngăn chặn.  
Quy định về biện pháp ngăn chặn trong  
BLTTHS năm 1988 đã đóng góp vai trò  
quan trọng vào công tác phòng chống tội  
phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của  
cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, theo  
đánh giá chung của nhiều nhà nghiên cứu,  
“Bộ luật này có những hạn chế, như: Người  
bị giam, giữ một cách oan hoàn toàn có  
quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng  
không được đền bù thiệt hại một cách thỏa  
đáng; các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát  
đều có vi phạm pháp luật tố tụng hình  
sự về thời hạn giải quyết ở nhiều khâu”10.  
10ꢀ Vũ Đức Khiển, Công cuộc đổi mới và việc sửa đổi Bộ  
luật tố tụng hình sự của nước ta, Viện Khoa học kiểm  
sát, Hà Nội, 2002, trang 11.  
Các biện pháp ngăn chặn mới bao gồm:  
9ꢀ Khoản 1 Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1985.  
Số 04 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 29  
HỆ THỐNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN...  
Bởi vậy, BLTTHS tiếp theo ra đời ngày năm 2003 với 510 điều, trong đó, bổ sung  
26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004.  
Trong đạo luật này, số lượng các biện pháp  
ngăn chặn không thay đổi nhưng có một số  
nội dung mới quan trọng như: Tăng cường  
trách nhiệm của cơ quan công tố trong việc  
kiểm sát áp dụng biện pháp ngăn chặn, đặc  
biệt là bắt khẩn cấp: “Trong thời hạn 12 giờ,  
kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn  
và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp,  
Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn  
hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu  
Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn  
thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay  
cho người bị bắt”11. Đối tượng được đặt tiền  
hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đã được  
mở rộng, không còn giới hạn bị can, bị cáo  
là người nước ngoài. Bên cạnh đó, thẩm  
quyền tạm giam đã được thu hẹp và gắn cụ  
thể hơn với các chức danh tư pháp, chẳng  
hạn như: “Thẩm phán Toà án nhân dân cấp  
tỉnh hoặc Toà án quân sự cấp quân khu trở  
lên chủ toạ phiên toà”12 được thay thế bằng  
“Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó  
Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân  
tối cao; Hội đồng xét xử”13; không còn quy  
định “Trưởng Công an, Phó trưởng Công  
an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng  
Cơ quan điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu  
trở lên”14 mà quy định thành “Thủ trưởng,  
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp”15.  
mới 176 điều, sửa 317 điều, bãi bỏ 26 điều.  
Hệ thống các biện pháp ngăn chặn tiếp tục  
được mở rộng với hai biện pháp mới là  
“giữ người trong trường hợp khẩn cấp” và  
“tạm hoãn xuất cảnh”. Các biện pháp khác  
cũng được chỉnh sửa, hoàn thiện.  
Tác giả Nguyễn Thái Phúc cho rằng,  
quy định về các biện pháp ngăn chặn trong  
BLTTHS năm 2015 cho thấy sự tiến bộ cả  
về lý luận tố tụng hình sự và kỹ thuật lập  
pháp so với BLTTHS năm 200316. Chúng  
tôi có chung quan điểm này với những lý  
do sau: Từ góc độ lý luận, biện pháp ngăn  
chặn là những biện pháp mang tính cưỡng  
chế, dù có những đặc điểm chung và riêng  
với các biện pháp cưỡng chế khác nhưng  
nên được quy định trong cùng một chương.  
Về kỹ thuật lập pháp, quy định biện pháp  
ngăn chặn và các biện pháp cưỡng chế  
khác trong cùng một chương đã khắc phục  
được tình trạng quy định rải rác biện pháp  
cưỡng chế trong các chương khác nhau  
của BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, việc  
đặt tên chương là “Biện pháp ngăn chặn,  
biện pháp cưỡng chế” có thể dẫn tới cách  
hiểu đây là hai nhóm biện pháp khác nhau  
mặc dù về bản chất, biện pháp ngăn chặn  
là một nhóm biện pháp cưỡng chế tố tụng.  
Do vậy, theo chúng tôi, tên Chương VII  
- BLTTHS năm 2015 nên được sửa thành  
“Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự”;  
trong đó, Mục 1 - “Biện pháp ngăn chặn” và  
Mục 2 - “Các biện pháp cưỡng chế khác”.  
Nhằm thể chế hoá những quy định của  
Hiến pháp năm 2013, thực hiện chủ trương  
cải cách tư pháp, xây dựng, hoàn thiện  
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam cũng như đáp ứng yêu cầu thực  
tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử, bảo  
đảm quyền và tự do của con người, Quốc  
hội khoá XIV ban hành BLTTHS năm 2015,  
có hiệu lực từ 01/01/2018. Đây được xem  
là lần sửa đổi căn bản, toàn diện BLTTHS  
Theo Điều 81 BLTTHS năm 2003, các  
cơ quan có thẩm quyền được tiến hành bắt  
khẩn cấp trước khi có sự phê chuẩn của  
Viện kiểm sát. Tuy nhiên, quy định này mâu  
thuẫn với khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm  
2013: “Không ai bị bắt nếu không có quyết  
định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc  
11ꢀ Khoản 4 Điều 81 BLTTHS năm 2003.  
12ꢀ Điểm c Khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 1988.  
13ꢀ Điểm c Khoản 1 Điều 80 BLTTHS năm 2003.  
14ꢀ Điểm d Khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 1988.  
15ꢀ Điểm d Khoản 1 Điều 80 BLTTHS năm 2003.  
16ꢀ Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp  
cưỡng chế trong tố tụng hình sự, Nội dung mới của Bộ  
luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị quốc  
gia, Hà Nội, 2016, trang 246.  
30 Khoa học Kiểm sát  
Số 04 - 2021  
LÊ TRỌNG TÀI - TRẦN ĐỨC HIẾU  
phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy  
trường hợp phạm tội quả tang”. Nhằm bảo định và có bản án kết tội của Tòa án đã có  
đảm tính thống nhất với Hiến pháp cũng hiệu lực pháp luật”. Điều này có nghĩa là  
bị can, bị cáo được coi là vô tội cho đến  
khi bản án được Tòa án tuyên và có hiệu  
lực. Tuy nhiên, họ vẫn có thể bị tạm giam  
trong một thời gian dài, mặc dù thời hạn  
tạm giam đã được rút ngắn so với BLTTHS  
năm 2003. Do vậy, theo chúng tôi căn cứ,  
thẩm quyền tạm giam nên được quy định  
chặt chẽ hơn, thời hạn tạm giam nên tiếp  
tục được rút ngắn; bị can, bị cáo chỉ có  
thể bị tạm giam khi việc áp dụng các biện  
pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn  
mà không đạt được mục đích.  
Không giống như cấm đi khỏi nơi cư  
trú hay tạm hoãn xuất cảnh, đặt tiền để bảo  
đảm là biện pháp khi áp dụng, bị can, bị  
cáo không bị hạn chế quyền tự do đi lại, tự  
do cư trú, bởi các cam kết của họ được bảo  
đảm không phải bằng cách hạn chế quyền  
tự do, mà bằng việc họ không thể định đoạt  
số tiền đã đặt cho cơ quan tố tụng. Khác với  
BLTTHS năm 2003, Bộ luật năm 2015 chỉ  
cho phép bị can, bị cáo đặt tiền. Quy định  
này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cơ  
quan tố tụng trong việc xác định số lượng,  
lưu giữ, đồng thời trả lại tiền cho người đã  
đặt hoặc chuyển thành nguồn thu của Nhà  
nước. Tuy nhiên, quy định này lại gây khó  
khăn cho những bị can, bị cáo có tài sản khác  
nhưng không thể hoặc không muốn chuyển  
đổi thành tiền chỉ để đặt cho cơ quan chức  
năng. Do vậy, theo chúng tôi nên quy định  
biện pháp này là “Đặt tiền hoặc tài sản để bảo  
đảm”. Đối với biện pháp bảo lĩnh, BLTTHS  
năm 2015 đã quy định chế tài xử lý đối với  
cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để  
bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan  
là phạt tiền. Bên cạnh đó, ba biện pháp ngăn  
chặn này cùng với biện pháp tạm hoãn xuất  
cảnh đã được quy định cụ thể về thời hạn  
áp dụng.  
như khắc phục những tồn tại, hạn chế khi  
áp dụng quy định bắt khẩn cấp, các nhà lập  
pháp đã đưa vào BLTTHS năm 2015 một  
biện pháp mới có tên gọi “giữ người trong  
trường hợp khẩn cấp” (với biện pháp này,  
cơ quan có thẩm quyền được giữ người  
không cần sự phê chuẩn của Viện kiểm sát).  
Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 quy định  
05 trường hợp bắt, trong đó có bắt người  
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Đây là  
hình thức bắt được áp dụng trong thời hạn  
12 giờ kể từ khi giữ khẩn cấp, cơ quan có  
thẩm quyền phải ra lệnh bắt và quyết định  
tạm giữ (hoặc trả tự do cho người bị giữ).  
Điều này có nghĩa là người đã bị giữ khẩn  
cấp sẽ bị bắt và bị tạm giữ tại cơ sở giam giữ  
trong thời hạn từ 03 đến 09 ngày. Lúc này,  
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp  
phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát.  
Thủ tục này thực sự phức tạp, gây ra những  
vướng mắc nhất định cho các cơ quan thực  
thi pháp luật khi áp dụng. Về bản chất, căn  
cứ giữ khẩn cấp không khác biệt lớn so với  
căn cứ bắt khẩn cấp của BLTTHS năm 2003.  
Cả hai biện pháp này đều tác động trực tiếp  
đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể  
của con người. Do đó, theo chúng tôi, việc  
quy định biện pháp ngăn chặn mới là giữ  
người trong trường hợp khẩn cấp không  
xóa bỏ được mâu thuẫn giữa BLTTHS với  
Hiến pháp. Để loại bỏ hoàn toàn mâu thuẫn  
này, nội dung khoản 2 Điều 20 Hiến pháp  
nên được quy định là: “Không ai bị bắt nếu  
không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết  
định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân,  
trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc trường  
hợp khẩn cấp”. Hoặc cần tiếp tục chỉnh sửa  
quy định của BLTTHS về thủ tục giữ người  
trong trường hợp khẩn cấp.  
Nguyên tắc suy đoán vô tội lần đầu tiên  
được ghi nhận trong BLTTHS năm 2015  
tại Điều 13: “Người bị buộc tội được coi là  
4. Kết luận  
Thứ nhất, từ giữa thế kỷ XIX đến nay là  
không có tội cho đến khi được chứng minh giai đoạn lịch sử mà chế định biện pháp  
Số 04 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 31  
HỆ THỐNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN...  
ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam muốn hoàn thiện hơn quy định về biện  
trải qua nhiều thay đổi nhất, từ việc chỉ  
có bắt, giam giữ người, đến nay đã được  
mở rộng với với tám biện pháp. Sự phát  
triển của hệ thống biện pháp ngăn chặn nói  
riêng, pháp luật tố tụng hình sự nói chung  
gắn liền với lịch sử đất nước và sự phát  
triển của kỹ thuật lập pháp. Kinh tế - xã  
hội càng phát triển, kỹ thuật lập pháp càng  
phát triển thì hệ thống biện pháp ngăn  
chặn sẽ càng được hoàn thiện hơn.  
pháp ngăn chặn như: Sửa đổi khoản 2 Điều  
20 Hiến pháp năm 2013 theo hướng đưa  
trường hợp khẩn cấp là trường hợp bắt  
không cần có sự phê chuẩn của Viện kiểm  
sát hoặc bổ sung yêu cầu có sự phê chuẩn  
của Viện kiểm sát đối với thủ tục giữ khẩn  
cấp; sửa tên Chương VII BLTTHS năm  
2015; bổ sung các loại tài sản khác là đối  
tượng có thể đặt để bảo đảm./.  
Thứ hai, việc sửa đổi, bổ sung các quy  
định về biện pháp ngăn chặn phản ánh rõ  
nét mong muốn của nhà lập pháp về nâng  
cao hiệu quả của các biện pháp có tính  
cưỡng chế tác động đến đối tượng bị áp  
dụng. Tuy nhiên, quy định về biện pháp  
ngăn chặn trong giai đoạn nào cũng thể  
hiện được quan điểm, chính sách của Nhà  
nước Việt Nam là đề cao quyền con người,  
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ  
chức, cá nhân. Điều này sẽ tiếp tục được  
kế thừa và phát huy hơn nữa trong các lần  
xây dựng luật tiếp theo.  
Thứ ba, chúng tôi cho rằng, sự đa dạng  
trong hệ thống biện pháp ngăn chặn và sự  
lựa chọn chính xác, đặc biệt là các biện pháp  
mà người bị áp dụng không bị giam giữ sẽ  
có những tác động tích cực đến hiệu quả áp  
dụng chúng. Hệ thống biện pháp ngăn chặn  
càng đa dạng thì hiệu quả sẽ càng cao. Với  
sự quan tâm của các nhà lập pháp cũng như  
nhà nghiên cứu và cán bộ thực tiễn, chúng  
tôi tin rằng chế định biện pháp ngăn chặn  
này sẽ ngày càng được mở rộng và hoàn  
chỉnh. Tuy bắt người, tạm giữ, tạm giam  
vẫn là những biện pháp ngăn chặn phổ biến  
nhưng biện pháp mới sẽ xuất hiện với xu  
hướng tăng số lượng các biện pháp không  
hạn chế nhiều quyền và tự do cá nhân của  
người bị áp dụng; tạm giữ, tạm giam cũng  
sẽ được quy định chặt chẽ hơn bởi Nhà  
nước ta ngày càng quan tâm hơn đến vấn  
đề bảo vệ các quyền và tự do của con người.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985, 1999.  
2. Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam các năm  
1988, 2003, 2015.  
3. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà  
năm 1946.  
4. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam các năm 1992, 2013.  
5. Luật số 103-SL/L5 ngày 20/5/1957 đảm bảo  
quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm  
đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân.  
6. Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện  
pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự, Nội dung mới  
của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị  
quốc gia, Hà Nội, 2016.  
7. Nguyễn Trọng Phúc, Chế định các biện pháp  
ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận  
án Tiến sỹ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010.  
8. Sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946 của Chủ tịch  
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về việc bảo  
vệ tự do cá nhân.  
9. Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 của Chủ tịch  
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về tổ chức  
Tư pháp Công an.  
10. Sắc luật số 002-SLT ngày 18/6/1957 quy định  
những trường hợp phạm pháp quả tang, những  
trường hợp khẩn cấp, và những trường hợp khám  
người phạm pháp quả tang.  
11. Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/03/1976 của Hội  
đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền  
Nam Việt Nam quy định về thẩm quyền và thủ tục  
bắt, giam những phần tử cần tập trung cải tạo.  
12. Trần Thị Bích Hà, Biện pháp cưỡng chế trong  
luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật  
học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020.  
13. Vũ Đức Khiển, Công cuộc đổi mới và việc sửa  
đổi Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta, Viện Khoa học  
Cuối cùng, trong bài viết này, chúng tôi  
đưa ra một số ý kiến của mình với mong kiểm sát, Hà Nội, 2002.  
32 Khoa học Kiểm sát  
Số 04 - 2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 16460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hệ thống biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam từ giữa thế kỷ 19 đến nay và xu hướng phát triển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhe_thong_bien_phap_ngan_chan_trong_to_tung_hinh_su_viet_nam.pdf