Bản chất hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng
BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA...
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TRANH TỤNG
NGUYỄN THỊ MAI*
Bài viết tập trung làm rõ bản chất hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự thông qua việc nghiên cứu các đặc điểm, phạm vi, nội dung và chủ thể thực hiện hoạt động tranh
tụng. Từ đó, tác giả chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng để có thể tìm ra giải pháp
nhằm tăng cường, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Từ khóa: Tranh tụng, hoạt động tranh tụng, phiên tòa sơ thẩm.
Ngày nhận bài: 23/9/2020; Biên tập xong: 30/9/2020; Duyệt đăng: 02/10/2020.
The article clarifies the nature of litigation activities at first-instance criminal trial by
studying their characteristics, scope, content and subjects. Then the author points out factors
affecting the quality of litigation to find solutions to improve the quality of litigation at the
first-instance criminal trial.
Keywords: Litigation, litigation activities, first-instance trial.
ố tụng hình sự là trình tự, thủ
tục giải quyết vụ án hình sự với
các bước điển hình như khởi tố,
vụ án. Như vậy, có thể coi hoạt động tranh
tụng tại phiên tòa là một cuộc điều tra công
khai, mọi chứng cứ, tài liệu, đồ vật đều
được đưa ra xem xét, kiểm chứng. Nếu có
phát sinh các tình tiết mới thì cũng được
đánh giá, xem xét một cách công khai, trực
tiếp tại phiên tòa. Hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa được thực hiện theo trình tự, thủ
tục rất chặt chẽ. Những bước quan trọng
nhất của phiên tòa sơ thẩm bao gồm thủ tục
xét hỏi, tranh luận và hoạt động tranh tụng
diễn ra ở tất cả các thủ tục này. Khi tiến
hành xét hỏi, thực chất là các bên đang tiến
hành kiểm tra chéo lẫn nhau để kiểm chứng
độ chính xác của các thông tin có liên quan
đến vụ án, xác nhận lại một lần nữa tại
phiên tòa có hoặc không có các tình tiết, sự
kiện nhất định. Ở phần tranh luận, mâu
thuẫn các bên lên sẽ lên đến “đỉnh điểm”
khi cùng đưa ra các căn cứ, lập luận để bảo
vệ quan điểm của mình và bác bỏ quan
điểm của phía bên kia. Lời buộc tội của
Kiểm sát viên và lời bào chữa của luật sư
T
điều tra, truy tố, xét xử. Trong đó, xét xử
sơ thẩm được coi là trọng tâm, trên cơ sở
kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án sẽ ra
bản án quyết định một người là có tội hay
không có tội, quyết định hình phạt và giải
quyết các vấn đề khác có liên quan đến vụ
án. Để hoạt động xét xử sơ thẩm của Tòa
án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
việc làm rõ bản chất hoạt động tranh tụng
tại phiên tòa và xác định được các yếu tố
ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng là hết
sức cần thiết.
1. Bản chất của hoạt động tranh tụng
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Phiên tòa sơ thẩm có sự tham gia đầy đủ
các bên của tranh tụng gồm chủ thể buộc tội
là Kiểm sát viên, chủ thể gỡ tội là bị cáo,
người bào chữa, ngoài ra còn có sự có mặt
của một số người tham gia tố tụng khác;
Hội đồng xét xử với vai trò là trọng tài sẽ
đưa ra phán quyết cuối cùng để giải quyết
* Thạc sĩ, Khoa Pháp luật hình sự, Trường Đại học
Luật Hà Nội.
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 27
BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA...
chỉ có sức thuyết phục và được Tòa án chấp đỉnh điểm và được giải quyết thông qua các
nhận khi và chỉ khi nó dựa trên các sự kiện, phán quyết, bản án đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án”3. Theo quan điểm này, hoạt động
tranh tụng trong vụ án hình sự bắt đầu từ rất
sớm, ngay từ khi xuất hiện người bị tình nghi
phạm tội và tồn tại trong tất cả các giai đoạn
của tố tụng hình sự bao gồm khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc
thẩm. Tác giả không đồng tình với toàn bộ
nội dung quan điểm khoa học này, bởi lẽ chỉ
có tranh tụng khi xuất hiện đủ ba chức năng
của tố tụng hình sự là buộc tội, gỡ tội và xét
xử. Hoạt động tranh tụng chỉ xuất hiện và
tồn tại trong giai đoạn xét xử, còn trong các
giai đoạn trước đó (khởi tố, điều tra, truy tố)
không có tranh tụng, bởi ở đó chỉ xuất hiện
các chủ thể làm chức năng buộc tội và gỡ tội.
Tất cả các hoạt động điều tra, thu thập chứng
cứ, tài liệu có liên quan đến vụ án trong các
giai đoạn này đều nhằm chuẩn bị cho hoạt
động tranh tụng tại phiên tòa được thực hiện
một cách có chất lượng.
Phạm vi tranh tụng được xác định cụ thể
như sau: Thời điểm bắt đầu tranh tụng là
từ khi Thẩm phán chủ tọa bắt đầu khai mạc
phiên tòa. Dưới sự điều khiển của chủ tọa,
phiên tòa sẽ diễn ra với các bước gồm thủ tục
bắt đầu phiên tòa, thủ tục tranh tụng (có thủ
tục xét hỏi và tranh luận), nghị án và tuyên
án. Theo đó, hoạt động tranh tụng cũng diễn
ra theo các mức độ tịnh tiến. Ở phần thủ tục
bắt đầu phiên tòa sẽ là sự kiểm tra về các chủ
thể có mặt tại tòa, các chứng cứ, tài liệu được
đưa ra xem xét. Việc Kiểm sát viên và những
người tham gia tố tụng khác, trong đó có bên
gỡ tội có quyền đề nghị thay đổi những người
tiến hành tố tụng, người giám định, người
phiên dịch… là những tiền đề bảo đảm cho
hoạt động tranh tụng được diễn ra một cách
khách quan. Trong quá trình xét hỏi, Chủ tọa
phiên tòa điều khiển việc xét hỏi, tạo cơ hội
tình tiết và các chứng cứ, tài liệu đã được
thẩm tra, xác minh công khai tại phiên tòa và
chỉ ra được mối liên hệ logic khách quan
giữa các sự kiện, tình tiết của vụ án1. Tòa án
là chủ thể duy nhất có quyền ra phán quyết
trên cơ sở kết quả của tranh tụng và các vấn
đề đã được chứng minh công khai tại tòa.
Nếu chỉ có hai bên buộc tội - gỡ tội mà thiếu
đi sự xuất hiện của Tòa án với vai trò tài phán
thì không thể đạt đến độ hoàn thiện của
tranh tụng.
1.1. Về phạm vi của hoạt động tranh tụng
Có quan điểm khoa học cho rằng, “chức
năng buộc tội xuất hiện kéo theo sự xuất hiện
của chức năng bào chữa và đó chính là thời
điểm bắt đầu của quá trình tranh tụng. Chức
năng buộc tội kết thúc tất yếu kéo theo sự kết
thúc chức năng bào chữa và đó chính là thời
điểm kết thúc của quá trình tranh tụng”2.
Tương tự như vậy, cũng có quan điểm xác
định “tranh tụng phải bắt đầu ngay từ khi
xuất hiện người bị tình nghi phạm tội trong
vụ án bởi lẽ khi nào xuất hiện chức năng
buộc tội và chức năng gỡ tội thì khi đó xuất
hiện tranh tụng… Trong các giai đoạn điều
tra, truy tố, tranh tụng chưa thực sự quyết
liệt và cũng chưa thực sự cần đến vai trò
trọng tài của Tòa án. Sang giai đoạn xét xử,
khi bên buộc tội đã củng cố được chứng cứ
và tự tin về lập luận buộc tội của mình là có
căn cứ thì cũng là lúc quan hệ lượng chất đã
có những thay đổi. Lúc này, mâu thuẫn cần
được giải quyết thông qua vai trò trọng tài
của Tòa án. Tranh tụng sẽ chấm dứt khi vụ
án được đình chỉ trong các giai đoạn tố tụng
trước đó hoặc tranh tụng đã phát triển đến
1ꢀ Nguyễn Đức Mai, Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh
tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình
sự ở Việt Nam, Kỳ 1, hꢁps://tks.edu.vn/thong-tin- cho Kiểm sát viên, người bào chữa và bị cáo
khoa-hoc/chi-tiet/79/296, truy cập ngày 25/4/2020.
được hỏi, mục đích để thu thập, kiểm chứng
2ꢀ
Nguyễn Trương Tín, “Một số vấn đề về vai trò của
Tòa án trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ 3ꢀ Nguyễn Văn Hiển, Về nguyên tắc tranh tụng trong tố
thẩm trong điều kiện cải cách tư pháp”, Tạp chí Tòa án tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm
nhân dân số 1, năm 2009, tr.11.
2011, tr. 44 - 46.
28 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
NGUYỄN THỊ MAI
các thông tin. Mức độ của tranh tụng lúc này quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự,
đã tăng thêm một cấp độ nữa. Khi hai bên miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
tiến hành tranh luận là lúc tranh tụng được
thể hiện đậm nét nhất. Cả bên buộc tội và
gỡ tội phải đưa ra các căn cứ pháp lý, căn cứ
thực tế về nội dung vụ án để lập luận, bảo
vệ quan điểm. Nếu qua tranh luận mà thấy
còn có tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa
được làm sáng tỏ thì Hội đồng xét xử phải
quyết định trở lại việc xét hỏi, xét hỏi xong
phải tiếp tục tranh luận. Sau khi tất cả các
vấn đề có liên quan đến vụ án đã được đưa
ra xem xét, tranh tụng tại phiên tòa và các
bên buộc tội, gỡ tội không bổ sung gì thêm,
Hội đồng xét xử sẽ tiến hành nghị án. Trên
cơ sở kết quả tranh tụng và các nội dung đã
được chứng minh tại phiên tòa, Tòa án sẽ ra
bản án, quyết định để giải quyết các vấn đề:
bị cáo có tội hay không có tội, nếu có thì tội
danh cụ thể là gì, quyết định hình phạt, mức
bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng của
vụ án. Như vậy, hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt
đầu từ khi Tòa án tiến hành thủ tục bắt đầu
phiên tòa và kết thúc trước thời điểm Hội
đồng xét xử vào phòng nghị án.
Ngoài ra, ngay từ thủ tục bắt đầu phiên
tòa, các bên đã có những tranh tụng về thủ
tục này như có ý kiến đề nghị thay đổi Thẩm
phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư kí Tòa
án, người giám định, người định giá tài sản,
người phiên dịch, người dịch thuật. Nếu có
đề xuất thay đổi, các bên phải nêu được lý
do. Các bên cũng có quyền tranh tụng về
việc có cần triệu tập thêm người làm chứng
hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu
ra xem xét hay không. Nếu có người tham
gia tố tụng vắng mặt hoặc không thể tiếp tục
tham gia phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa phải
hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay
không… Những vấn đề tranh tụng này sẽ là
tiền đề cho các bên thực hiện việc tranh tụng
về nội dung, bản chất của vụ án. Đồng thời,
tại phiên tòa, các bên còn tranh tụng về tính
hợp pháp, tính đúng đắn của các quyết định,
các hoạt động tố tụng trước đó, kiểm chứng
lại các kết quả giám định, kết quả khám
nghiệm hiện trường. Các bên cũng tranh
tụng về các hoạt động được Hội đồng xét xử
quyết định thực hiện như xem xét vật chứng;
xem xét tại chỗ; trình bày, công bố báo cáo,
tài liệu của cơ quan, tổ chức…
1.2. Về nội dung của hoạt động tranh tụng
Tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự thực chất cũng là quá trình
chứng minh tất cả vấn đề có liên quan đến
vụ án, trong đó tập trung làm rõ tính có căn
cứ và tính hợp pháp của việc buộc tội và gỡ
tội. Như vậy, nội dung tranh tụng bao gồm
các tình tiết thể hiện bản chất vụ án và căn cứ
để chứng minh bao gồm: có hành vi phạm
tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm
và những tình tiết khác của hành vi phạm
tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội;
có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có
năng lực trách nhiệm hình sự hay không;
mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết
giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của
bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của
1.3. Về chủ thể thực hiện hoạt động tranh
tụng
Hiện nay, trong khoa học tố tụng hình sự
thừa nhận ba chức năng cơ bản của tố tụng
hình sự là chức năng buộc tội, chức năng bào
chữa và chức năng xét xử. Chức năng tố tụng
được coi là một dạng chức năng nhà nước
mang tính định hướng, trong đó có sự phân
định rõ ràng hoạt động của các chủ thể khác
nhau khi thực hiện để đạt được mục đích
nhất định với những quyền hạn và nhiệm vụ
khác nhau. Tranh tụng là quá trình tồn tại,
vận động và đấu tranh giữa hai chức năng
đối trọng nhau, có quyền ngang nhau trong
việc bảo vệ ý kiến, lập luận, lợi ích của mình
bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại và phản bác ý kiến, lập luận, lợi ích của phía
do hành vi phạm tội gây ra; nguyên nhân và bên kia: chức năng buộc tội và chức năng
điều kiện phạm tội; những tình tiết khác liên bào chữa. Hoạt động tranh tụng chỉ thực sự
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 29
BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA...
diễn ra khi có đủ ba điều kiện cơ bản là: (i) có việc cá nhân bị thiệt hại do hành vi phạm tội
các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội và gây ra và hướng đến mục đích bảo vệ quyền
chức năng bào chữa; (ii) có sự “xung đột” về và lợi ích hợp pháp của chính người bị hại. Ở
nội dung buộc tội và nội dung bào chữa, nếu Việt Nam, Viện kiểm sát là cơ quan có chức
không có điều kiện này thì hoạt động tranh năng thực hành quyền công tố, tức là nhân
tụng không xảy ra; (iii) có chủ thể điều khiển danh quyền lực công (quyền lực Nhà nước)
hoạt động tranh tụng và phán quyết về kết để buộc tội. Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát
quả tranh tụng, đó chính là Hội đồng xét xử4. viên có thể thực hiện chức năng buộc tội
thông qua một số hoạt động điển hình như:
+ Công bố cáo trạng
Tham gia vào quá trình tranh tụng gồm
các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội và
chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội. Tòa án
không phải là chủ thể tranh tụng mà thông
qua việc thực hiện chức năng xét xử, Tòa án
đóng vai trò là trọng tài vô tư, khách quan
điều khiển tranh tụng. Tranh tụng là một
quá trình và sự xuất hiện của Tòa án trong
quá trình này là sự xác nhận tranh tụng đã
lên đến đỉnh điểm cần được giải quyết. Để
tranh tụng có chất lượng, đòi hỏi Kiểm sát
viên, luật sư, bị cáo, bị hại và những người
tham gia tố tụng khác phải tranh luận từng
vấn đề rõ ràng, dứt khoát, không tranh luận
một cách chung chung, dàn trải, lạc đề. Đặc
biệt cần tránh khuynh hướng Kiểm sát viên
chỉ phát biểu quan điểm của mình là giữ
nguyên quan điểm như đã truy tố mà không
đưa ra lý lẽ, dẫn chứng có sức thuyết phục
để bảo vệ quan điểm đó5.
Trong giai đoạn truy tố, nếu Viện kiểm sát
nhận thấy hành vi phạm tội đã rõ ràng, chứng
cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, Viện kiểm
sát sẽ truy tố bị can bằng bản cáo trạng. Nội
dung cáo trạng thể hiện quan điểm truy tố
của Viện kiểm sát về hành vi phạm tội nhưng
đồng thời cáo trạng cũng tái hiện lại toàn bộ
diễn biến, tính chất, mức độ nguy hiểm của
hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Nếu không
có quyết định truy tố của Viện kiểm sát bằng
cáo trạng thì cũng không có phiên tòa xét xử
sơ thẩm. Do đó, tại phiên tòa, Kiểm sát viên
phải công bố cáo trạng một cách công khai
để cho tất cả những người có mặt tại phiên
tòa biết được nội dung truy tố của Viện kiểm
sát nhưng đồng thời cũng là cơ hội để cho
bị cáo tự đối chiếu với cáo trạng mình đã
được nhận xem các nội dung có trùng khớp,
có nội dung nào được thay đổi, bổ sung hay
không, chuẩn bị cho việc thực hiện quyền
bào chữa. Có ý kiến cho rằng “cáo trạng do
Viện kiểm sát truy tố trước Tòa án không chỉ
là lý do hình thức tồn tại của giai đoạn xét
xử sơ thẩm mà là đối tượng trung tâm diễn
ra trong giai đoạn này”6. Theo đó, nội dung
các bên tiến hành tranh tụng tại phiên tòa
đều xoay quanh cáo trạng, trong đó đặc biệt
quan tâm đến việc kết luận hành vi của bị
cáo phạm vào tội gì và phải chịu hình phạt
như thế nào. Việc Kiểm sát viên công bố cáo
trạng trước khi tiến hành xét hỏi đã đánh
- Chủ thể thực hiện chức năng buộc tội
Chức năng buộc tội là chức năng cơ bản
của tố tụng hình sự, theo đó các chủ thể buộc
tội sử dụng các quyền năng tố tụng của mình
để chứng minh tội phạm, người phạm tội để
truy cứu ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc
tội đó trước phiên tòa. Chủ thể thực hiện
chức năng buộc tội không chỉ có Viện kiểm
sát mà còn có thể được thực hiện nhân danh
cá nhân người bị hại. Hình thức buộc tội này
được gọi là tư tố, buộc tội tư tố xuất phát từ
4ꢀ Nguyễn Văn Quảng, Đổi mới thủ tục tại phiên tòa
phúc thẩm hình sự theo hướng tăng cường tranh tụng
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Nhà nước và 6ꢀ Nguyễn Thái Phúc, Một số vấn đề về quyền công tố của
pháp luật, số 10, năm 2012, tr. 102-103.
Viện kiểm sát nhân dân, Kỉ yếu đề tài khoa học cấp bộ
5ꢀ Trịnh Tiến Việt, Nâng cao chất lượng tranh tụng tại “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của tố
phiên tòa hình sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7, tụng hình sự Việt Nam”, Viện kiểm sát nhân dân tối
năm 2003, tr. 62.
cao, Viện khoa học kiểm sát, Hà Nội, năm 1995, tr. 143.
30 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
NGUYỄN THỊ MAI
dấu tranh tụng thực sự bắt đầu.
+ Tham gia xét hỏi
không dựa vào các sự kiện, các tình tiết đã
được làm rõ trong vụ án thì lời buộc tội đó
thiếu căn cứ khách quan. Ngược lại, nếu lời
buộc tội chỉ dựa vào kết quả thẩm vấn, các
tình tiết của vụ án nhưng không chỉ ra được
sự liên hệ khách quan giữa các sự việc, tình
tiết đó thì lời buộc tội không có tính thuyết
phục đối với người nghe.
Kiểm sát viên tham gia vào quá trình xét
hỏi để làm rõ các nội dung có liên quan đến
vụ án, đặc biệt là các tình tiết làm cơ sở cho
việc buộc tội bị cáo. Có thể hình dung hoạt
động chứng minh của Kiểm sát viên tại phần
thẩm vấn chủ yếu diễn ra dưới hình thức
nhận định cảm tính - kinh nghiệm: xem xét
trực tiếp, kiểm tra các chứng cứ, xác định sự
việc này hay sự việc khác. Khi hỏi bị cáo, bị
hại, người làm chứng, xem xét các vật chứng,
Kiểm sát viên lúc này chưa đưa ra một kết
luận hay một nhận định nào hết. Kiểm sát
viên chỉ xác định các tình tiết, các sự kiện để
trong phần tranh luận tiếp theo làm cơ sở
khẳng định sự đúng đắn cho các kết luận,
nhận định của mình. Mô hình tố tụng của
nước ta là mô hình tố tụng thẩm vấn nên
Thẩm phán đang giữ vai trò hỏi chính và hỏi
trước, Kiểm sát viên và người bào chữa hỏi
sau nhưng để phù hợp với nguyên tắc tranh
tụng thì nên xem xét để Kiểm sát viên phải
là người xét hỏi trước và là người hỏi chính,
Hội đồng xét xử xét hỏi sau và chỉ hỏi về
những tình tiết chưa rõ hoặc để kiểm tra, xác
minh các chứng cứ mới tại phiên tòa.
Trên cơ sở luận tội của Kiểm sát viên, chủ
thể thực hiện chức năng bào chữa và những
người tham gia tố tụng khác tiến hành tranh
luận, đối đáp để đưa ra những ý kiến phản
bác. Tranh luận cũng chính là một phần của
quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm và
lúc này tranh tụng đã lên đến “đỉnh điểm”,
các bên được đưa ra lập luận để bảo vệ cho
quan điểm của mình và phản bác lại phía
bên kia. Đồng thời, “việc Kiểm sát viên tranh
luận với người bào chữa, bị cáo và những
người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ
thẩm là một hoạt động thể hiện sự bình đẳng
giữa bên buộc tội và bên gỡ tội… Kiểm sát
viên là người đại diện cho Viện kiểm sát đưa
ra lời buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa, nên
phải có nghĩa vụ chứng minh lời buộc tội đó
bằng hình thức tranh luận công khai, ngược
lại, chủ thể bị buộc tội và những người tham
gia tố tụng khác tham gia tranh luận với tư
cách cá nhân, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân họ hoặc người họ đại
diện mà thôi”7.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát đóng
vai trò là một bên của tranh tụng, là chủ thể
thực hiện chức năng buộc tội, hay nói cách
khác, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là
hình thức trực tiếp thực hiện nghĩa vụ chứng
minh buộc tội của mình, trực tiếp đề xuất các
chứng cứ khẳng định sự đúng đắn trong các
kết luận của mình về lỗi của bị cáo, hệ thống
và phân tích các chứng cứ đó để thuyết phục
Hội đồng xét xử chấp nhận các đề nghị của
mình. Từ đó, bảo đảm việc buộc tội là chính
+ Trình bày luận tội và tranh luận
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát
viên trình bày luận tội, thể hiện quan điểm
buộc tội của Viện kiểm sát đối với hành vi
phạm tội của bị cáo. Những nội dung bên gỡ
tội tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm sẽ xoay
quanh nội dung buộc tội của Kiểm sát viên
bởi các quan điểm buộc tội - gỡ tội mang tính
đối lập nhau, trong một số trường hợp nhất
định có thể phủ định nhau. Để việc luận tội
được chính xác, đúng đắn, có chất lượng và
có tính thuyết phục, Kiểm sát viên phải căn
cứ vào tất cả các chứng cứ, tài liệu trước đó
và những vấn đề đã được kiểm chứng tại tòa,
tránh tình trạng buộc tội trên cơ sở hồ sơ đã
nghiên cứu mà xa rời thực tế tại phiên xét
xử. Nếu lời buộc tội của Kiểm sát viên không
7ꢀ Trần Thị Liên, Thực hành quyền công tố trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận án Tiến sĩ Luật học,
dựa vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, năm 2019, tr. 59.
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 31
BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA...
xác, đúng người, đúng tội, góp phần nâng bào chữa và nhờ người khác bào chữa, trong
cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ
thẩm.
đó, quyền tự bào chữa là quyền năng tố tụng
đặc thù của người bị buộc tội được pháp luật
ghi nhận và bảo đảm cho phép họ tự mình
thực hiện các hành vi tố tụng và biện pháp
bào chữa theo quy định của pháp luật nhằm
minh oan, bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự cho mình9.
Trên thực tế, do trình độ hiểu biết pháp
luật còn hạn chế hoặc do những nguyên
nhân khác mà đa số bị cáo thường không
- Chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội
Chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội gồm
có người bào chữa và bị cáo. Trên thực tế, các
chủ thể này sẽ thực hiện hoạt động bào chữa
với mục đích xác định sự vô tội hoặc làm
giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cơ sở
phát sinh hoạt động bào chữa là quyền bào
chữa của người bị buộc tội và ngược lại, hoạt
động bào chữa là phương thức để người bị thực hiện được tốt quyền bào chữa của mình.
buộc tội và người bào chữa thực hiện quyền
bào chữa của người bị buộc tội. Quyền bào
chữa là quyền cơ bản của con người, của
công dân trong tố tụng hình sự, đó là tổng
thể các quyền mà pháp luật quy định, cho
phép người bị buộc tội có thể sử dụng nhằm
bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội
và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự, đặc biệt là khi
tranh tụng tại phiên tòa, hoạt động bào chữa
phải được bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ
quyền con người, quyền bình đẳng trước
pháp luật. “Nếu quá trình tố tụng chỉ thể hiện
vai trò của Nhà nước thì sẽ dẫn tới tình trạng
cả hệ thống tố tụng hình sự sẽ trở thành hệ
thống buộc tội. Với tư cách là quyền cơ bản
hiến định của công dân, quyền bào chữa bắt
buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo
cơ hội để chức năng bào chữa được thực hiện
một cách thuận lợi. Các cơ quan tiến hành tố
tụng cũng phải tôn trọng và bảo đảm quyền
bào chữa của bị can, bị cáo. Nói một cách cụ
thể hơn, người bào chữa, thông thường là
luật sư, phải được coi trọng và có vị trí xứng
đáng trong tố tụng hình sự. Tốt nhất là vị trí
của luật sư phải ngang hàng với cơ quan công
tố trong quá trình tố tụng hình sự, có như
vậy thì quá trình tố tụng hình sự mới thật sự
công bằng”8. Quyền bào chữa gồm quyền tự
Do đó, bị cáo có quyền nhờ người khác bào
chữa, trong trường hợp bị cáo về tội mà Bộ
luật hình sự quy định mức cao nhất của
khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân,
tử hình; có nhược điểm về thể chất mà không
thể tự bào chữa; có nhược điểm về tâm thần
hoặc là người dưới 18 tuổi thì bị cáo có người
bào chữa chỉ định. Người bào chữa cho bị
cáo có thể là luật sư, người đại diện của bị
cáo, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên
pháp lý. Tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa
đưa ra các cơ sở pháp lý, lập luận nhằm bác
bỏ những căn cứ buộc tội, chứng minh sự vô
tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối
với bị cáo, đề xuất yêu cầu, kiến nghị với Hội
đồng xét xử về hình phạt, mức bồi thường
đối với bị cáo. Trong số những người bào
chữa thì luật sư là người có khả năng thực
hiện hoạt động bào chữa hiệu quả nhất, do
đó, hoạt động bào chữa tại phiên tòa, nhất
là hoạt động bào chữa của luật sư phải được
bảo đảm thực hiện nhằm tăng cường tranh
tụng, vụ án được giải quyết một cách chính
xác, khách quan, công bằng.
- Tòa án
Tại phiên tòa, Tòa án (Hội đồng xét xử)
không phải là chủ thể tranh tụng nhưng
để bảo đảm có tranh tụng thì phải có sự
xuất hiện của chủ thể giữ vai trò trọng tài,
8ꢀ Tô Văn Hòa, Các quyền cơ bản hiến định của công dân
trong lĩnh vực tố tụng hình sự trong đề tài nghiên cứu học Luật Hà Nội, năm 2011, tr. 94.
khoa học: Hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 9ꢀ Ngô Ngọc Vân, Hoạt động bào chữa của luật sư trong
nhằm thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận án Tiến sĩ
cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự, Trường Đại Luật học, năm 2016, tr. 48.
32 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
NGUYỄN THỊ MAI
ra phán quyết cuối cùng - chính là Tòa án. trình xét xử, nhưng Viện kiểm sát và Tòa án
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, chức năng lại hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi cơ quan
xét xử là hoạt động tố tụng của Tòa án có tự chịu trách nhiệm về công việc của mình.
thẩm quyền nhân danh Nhà nước áp dụng Tòa án không làm thay hay can thiệp vào
pháp luật vào trường hợp cụ thể như: xem công việc của Viện kiểm sát (Kiểm sát viên)
xét và phán quyết người bị buộc tội có tội và ngược lại, Viện kiểm sát cũng không can
hay không có tội, nếu có tội thì trách nhiệm thiệp vào công việc xét xử của Tòa án, mặc
hình sự như thế nào cũng như các vấn đề dù VKS có quyền và trách nhiệm kiểm sát
khác có liên quan, được thực hiện trong hoạt động xét xử của Tòa án”10. Khi các chức
mối quan hệ với các chức năng tố tụng khác năng buộc tội và xét xử thực sự tách bạch, rõ
nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp ràng sẽ đảm bảo việc xét xử của Tòa án được
pháp của công dân, tổ chức và Nhà nước. vô tư, khách quan và công bằng cho các chủ
Chức năng xét xử được thực hiện thông qua thể có liên quan.
Hội đồng xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán
và Hội thẩm đóng vai trò là những người
“cầm cân nảy mực” ra phán quyết cuối cùng
để giải quyết vụ án. Chủ tọa phiên tòa là
người điều khiển các hoạt động tố tụng tại
phiên tòa, chịu trách nhiệm chính về những
vấn đề BLTTHS quy định đối với Hội đồng
xét xử, thay mặt Hội đồng xét xử công bố
những quyết định quan trọng. Hoạt động
tranh tụng bắt đầu từ khi Tòa án tiến hành
thủ tục bắt đầu phiên tòa, do đó lúc này Hội
đồng xét xử, đặc biệt là Thẩm phán chủ tọa
đã phải thể hiện được vai trò của mình. Hội
đồng xét xử kiểm tra sự có mặt của các bên
tranh tụng nhằm tạo ra những điều kiện
cần thiết cho các bên tiến hành tranh tụng
ở các thủ tục tiếp theo được thuận lợi, đúng
pháp luật và đạt hiệu quả.
Tại thủ tục bắt đầu phiên tòa, hoạt động
tranh tụng giữa bên buộc tội và bào chữa đã
diễn ra nhưng ở mức độ thấp, Hội đồng xét
xử cũng đã thể hiện được vai trò trọng tài của
mình để giải quyết các xung đột, các lợi ích
đối lập theo yêu cầu của các bên tranh tụng.
Trong các thủ tục tố tụng tiếp theo, Hội đồng
xét xử mà đặc biệt là Thẩm phán vẫn thể hiện
được vai trò của người điều khiển phiên tòa,
tạo điều kiện để các bên được tranh luận,
đưa ra các chứng cứ, lập luận để bảo vệ quan
điểm của mình và bác bỏ quan điểm của phía
bên kia. “Ở giai đoạn xét xử, tuy Tòa án (hoặc
Hội đồng xét xử) là cơ quan giữ vai trò chỉ
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự được coi là trung tâm
của giai đoạn xét xử, ở đó có sự hiện diện rất
đầy đủ những người tham gia tố tụng có liên
quan đến vụ án, có nghĩa vụ phải tham gia
tố tụng cũng như những người tiến hành tố
tụng. Muốn hoạt động tranh tụng được thực
hiện trên thực tế và thực hiện một cách chất
lượng để bảo đảm việc xét xử công bằng,
khách quan, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật đòi hỏi phải có công cụ pháp luật
chính xác, khả thi, nguồn nhân lực có năng
lực, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt. Do
đó, muốn đảm bảo chất lượng hoạt động
tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự thì việc nghiên cứu các yếu tố ảnh
hưởng là hết sức cần thiết để có những đề
xuất phù hợp.
Một là, yếu tố pháp luật
BLTTHS năm 2015 là văn bản pháp luật
điều chỉnh trực tiếp hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, ngoài
ra còn phải kể đến các văn bản khác như Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật
Luật sư năm 2006… Cùng một hoạt động
10ꢀ Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Sổ tay Kiểm sát viên
hình sự (tập I), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, năm
đạo việc xét xử, là cơ quan quyết định quá 2006, tr. 46.
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 33
BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA...
nhưng lại chịu sự điều chỉnh, chi phối của xét xử. Chất lượng hoạt động tranh tụng tại
rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau, do
đó đòi hỏi nội dung của các văn bản này phải
chi tiết, cụ thể, phù hợp nhưng không được
mâu thuẫn, chồng chéo. Nhà nước ra đời kéo
theo sự hình thành tất yếu của hệ thống pháp
luật, pháp luật có vai trò hết sức quan trọng
trong việc duy trì trật tự xã hội, phát huy
dân chủ, phát huy quyền lực nhân dân nhằm
đảm bảo công bằng. Với chức năng quan
trọng như vậy, đòi hỏi pháp luật nói chung
và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng phải
đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định.
Muốn hoàn thiện các quy phạm pháp luật,
điều chỉnh hoạt động tranh tụng tại phiên
tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự phải đáp
ứng được những tiêu chuẩn cơ bản sau: tính
toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính
minh bạch và kĩ thuật lập pháp. Tính toàn
diện của hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt
động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự bảo đảm hoạt động của tất
cả chủ thể có liên quan đều được pháp luật
điều chỉnh; tính đồng bộ thể hiện ở việc các
văn bản pháp luật được quy định một cách
thống nhất, không trùng lắp, không mâu
thuẫn, chồng chéo; tính phù hợp đòi hỏi các
văn bản pháp luật phải có sự tương thích với
chế độ chính trị, trình độ phát triển của nền
kinh tế - xã hội, truyền thống dân tộc, phong
tục tập quán địa phương và trình độ dân trí;
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ngoài
chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các văn bản
pháp luật điều chỉnh thì còn chịu ảnh hưởng
rất lớn từ những chủ thể có liên quan đến
hoạt động này.
Về phía Kiểm sát viên với vai trò là
bên buộc tội, Kiểm sát viên cần có trình độ
chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp để có thể
đưa ra bản luận tội xác đáng, phù hợp với
tình tiết khách quan của vụ án. Việc buộc
tội phải dựa trên những chứng cứ cụ thể,
rõ ràng, cách nêu vấn đề phải đúng trọng
tâm, bảo đảm kết luận đúng người, đúng tội,
không làm oan người vô tội.
Về phía người bào chữa mà điển hình là
luật sư đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn,
có vốn hiểu biết xã hội, có kinh nghiệm và
kĩ năng bào chữa. Ở người luật sư cũng rất
cần có đạo đức tốt, có trách nhiệm với thân
chủ của mình, với những trường hợp tham
gia bào chữa chỉ định càng đòi hỏi luật sư
làm việc có tâm, tránh tình trạng bào chữa
mang tính hình thức hoặc gây bất lợi cho bị
cáo. Ngoài ra, trình độ nhận thức, khả năng
hợp tác của bị cáo cũng ảnh hưởng đến chất
lượng hoạt động tranh tụng.
Về phía Hội đồng xét xử, mặc dù không
phải là chủ thể của tranh tụng nhưng lại có
vai trò hết sức quan trọng. Trên cơ sở các
tính minh bạch đòi hỏi việc xây dựng, ban vấn đề được kiểm tra, chứng minh ngay tại
hành, thực thi pháp luật được thực hiện công
khai, phát huy vai trò tích cực, làm chủ của
nhân dân. Việc bảo đảm kĩ thuật lập pháp
sẽ giúp hệ thống quy phạm pháp luật được
chặt chẽ, logic, có tính ổn định và có cơ chế
điều chỉnh phù hợp với những thay đổi của
thực tiễn.
phiên tòa và kết quả tranh tụng của các bên,
Hội đồng xét xử sẽ ra phán quyết cuối cùng
để giải quyết vụ án. Tòa án, mà cụ thể Hội
đồng xét xử là chủ thể duy nhất được ra bản
án tuyên một người là có tội hay vô tội, do đó
đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm phải có trình
độ chuyên môn, đánh giá đúng tính chất,
mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã
thực hiện, việc xét xử không thể qua loa, cảm
tính hoặc chỉ thiên về bên buộc tội mà phải
luôn đảm bảo công bằng, khách quan, việc ra
phán quyết phải thấu tình đạt lý.
Hai là, yếu tố con người
Để có thể tiến hành hoạt động tranh tụng
cần có bên buộc tội là Kiểm sát viên, bên gỡ
tội là bị cáo, người bào chữa và không thể
thiếu Thẩm phán, Hội thẩm với vai trò trọng
tài để đưa ra phán quyết, bảo đảm sự bình
Ba là, yếu tố quản lý, chỉ đạo, điều hành và
đẳng, công bằng trong tranh tụng cũng như kiểm tra, giám sát
34 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
NGUYỄN THỊ MAI
Trong quá trình Kiểm sát viên thực hiện
Chế độ đãi ngộ đối với Kiểm sát viên,
nhiệm vụ cần có sự quản lý, chỉ đạo của lãnh Thẩm phán, Hội thẩm cũng cần được đảm
bảo để họ không phải chịu áp lực về kinh
tế, chuyên tâm vào công việc. Với trường
hợp có người bào chữa chỉ định cũng cần
phải được trả thù lao phù hợp, tương xứng
với trí tuệ và công sức họ đã bỏ ra. Khi đáp
ứng được các vấn đề về cơ sở vật chất, trang
thiết bị và chế độ đãi ngộ sẽ góp phần nâng
cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa.
đạo, Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự kiểm
tra, giám sát của Viện kiểm sát cấp trên. Việc
quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cần được
tiến hành kịp thời, thường xuyên, liên tục
nhằm phát hiện những thiếu sót, sai phạm.
Từ đó có biện pháp khắc phục, bảo đảm
chứng cứ của vụ án được thu thập đầy đủ,
việc buộc tội bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ,
đúng pháp luật.
Chánh án Tòa án cũng cần thường xuyên
chỉ đạo, kiểm tra quá trình nghiên cứu hồ
sơ, kết quả xét xử vụ án để kịp thời đôn đốc,
khắc phục thiếu sót. Khi phân công Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm tham gia
xét xử, Chánh án Tòa án cũng cần cân nhắc
đến trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm
việc, với Hội thẩm nhân dân cần đặc biệt chú
ý đến kiến thức xã hội, chuyên môn để có sự
phân công phù hợp, đúng sở trường nhằm
nâng cao chất lượng xét xử cũng như chất
lượng tranh tụng.
3. Kết luận
Cải cách tư pháp đã đặt ra nhiều nhiệm
vụ trọng tâm mà các cơ quan ban ngành
đều phải thực hiện một cách đồng bộ, đặc
biệt là các cơ quan tư pháp. Tăng cường
tranh tụng trong tố tụng hình sự được
xác định là một trong những vấn đề quan
trọng nhất của cải cách tư pháp, là tư tưởng
mang tính đột phá. Muốn có tranh tụng
đòi hỏi phải có sự tham gia của bên buộc
tội, bên gỡ tội và cơ quan giữ vai trò trọng
tài. Các văn bản pháp lý được Đảng và Nhà
nước ta ban hành chính là để tạo điều kiện
thuận lợi cho các bên được tham gia vào
hoạt động tranh tụng và thực hiện một
cách chất lượng. Theo đó, hai bên buộc tội
- gỡ tội phải bình đẳng với nhau trên mọi
phương diện, có đầy đủ quyền và nghĩa
vụ mang tính đối trọng. Đảng ta đã chỉ rõ
những nhiệm vụ trọng tâm đặt ra cho các
cơ quan trong tiến trình cải cách tư pháp,
đặt biệt là tăng cường tranh tụng, do đó
việc tăng cường kiểm tra, rà soát hoạt động
của các cơ quan tiến hành tố tụng, kiện
toàn đội ngũ luật sư và các chủ thể khác
tham gia bào chữa đều nhằm bảo đảm và
nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng
tại phiên tòa. Những yêu cầu mà công cuộc
cải cách tư pháp đặt ra thực sự là kim chỉ
nam hành động cho quá trình giải quyết vụ
án nói chung và hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa nói riêng./.
Bốn là, yếu tố trang thiết bị, cơ sở vật chất và
chế độ đãi ngộ
Một số yếu tố khác cũng ít nhiều tác động
đến chất lượng hoạt động tranh tụng có thể
kể đến như điều kiện làm việc, cơ sở vật chất,
trang thiết bị máy móc và các chế độ đãi ngộ.
Để Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm có
thể thực hiện tốt công việc, trụ sở Viện kiểm
sát, Tòa án phải được trang bị đầy đủ các
thiết bị phục vụ cho việc cập nhật, lưu trữ
hồ sơ, các phương tiện ghi âm, ghi hình và
các thiết bị hỗ trợ khác. Khi Kiểm sát viên,
Thẩm phán, Hội thẩm có điều kiện làm việc
tốt, máy móc, trang thiết bị hiện đại, đáp ứng
được yêu cầu công việc sẽ giúp họ có tâm
lý thoải mái, tập trung vào công việc. Trụ sở
Viện kiểm sát, Tòa án cũng cần bố trí những
không gian để cho luật sư được đọc, nghiên
cứu hồ sơ và có bố trí các trang thiết bị phục
vụ cho việc sao chép hồ sơ khi được phép.
Có như vậy luật sư mới có đủ các tài liệu,
thông tin phục vụ cho việc bào chữa.
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 35
Bạn đang xem tài liệu "Bản chất hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ban_chat_hoat_dong_tranh_tung_tai_phien_toa_xet_xu_so_tham_v.pdf

