Bản chất hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng

BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA...  
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ  
ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TRANH TỤNG  
NGUYỄN THỊ MAI*  
Bài viết tập trung làm rõ bản chất hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình  
sự thông qua việc nghiên cứu các đặc điểm, phạm vi, nội dung và chủ thể thực hiện hoạt động tranh  
tụng. Từ đó, tác giả chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng để có thể tìm ra giải pháp  
nhằm tăng cường, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.  
Từ khóa: Tranh tụng, hoạt động tranh tụng, phiên tòa sơ thẩm.  
Ngày nhận bài: 23/9/2020; Biên tập xong: 30/9/2020; Duyệt đăng: 02/10/2020.  
The article clarifies the nature of litigation activities at first-instance criminal trial by  
studying their characteristics, scope, content and subjects. Then the author points out factors  
affecting the quality of litigation to find solutions to improve the quality of litigation at the  
first-instance criminal trial.  
Keywords: Litigation, litigation activities, first-instance trial.  
ố tụng hình sự là trình tự, thủ  
tục giải quyết vụ án hình sự với  
các bước điển hình như khởi tố,  
vụ án. Như vậy, có thể coi hoạt động tranh  
tụng tại phiên tòa là một cuộc điều tra công  
khai, mọi chứng cứ, tài liệu, đồ vật đều  
được đưa ra xem xét, kiểm chứng. Nếu có  
phát sinh các tình tiết mới thì cũng được  
đánh giá, xem xét một cách công khai, trực  
tiếp tại phiên tòa. Hoạt động tranh tụng tại  
phiên tòa được thực hiện theo trình tự, thủ  
tục rất chặt chẽ. Những bước quan trọng  
nhất của phiên tòa sơ thẩm bao gồm thủ tục  
xét hỏi, tranh luận và hoạt động tranh tụng  
diễn ra ở tất cả các thủ tục này. Khi tiến  
hành xét hỏi, thực chất là các bên đang tiến  
hành kiểm tra chéo lẫn nhau để kiểm chứng  
độ chính xác của các thông tin có liên quan  
đến vụ án, xác nhận lại một lần nữa tại  
phiên tòa có hoặc không có các tình tiết, sự  
kiện nhất định. Ở phần tranh luận, mâu  
thuẫn các bên lên sẽ lên đến “đỉnh điểm”  
khi cùng đưa ra các căn cứ, lập luận để bảo  
vệ quan điểm của mình và bác bỏ quan  
điểm của phía bên kia. Lời buộc tội của  
Kiểm sát viên và lời bào chữa của luật sư  
T
điều tra, truy tố, xét xử. Trong đó, xét xử  
sơ thẩm được coi là trọng tâm, trên cơ sở  
kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết  
quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án sẽ ra  
bản án quyết định một người là có tội hay  
không có tội, quyết định hình phạt và giải  
quyết các vấn đề khác có liên quan đến vụ  
án. Để hoạt động xét xử sơ thẩm của Tòa  
án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,  
việc làm rõ bản chất hoạt động tranh tụng  
tại phiên tòa và xác định được các yếu tố  
ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng là hết  
sức cần thiết.  
1. Bản chất của hoạt động tranh tụng  
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự  
Phiên tòa sơ thẩm có sự tham gia đầy đủ  
các bên của tranh tụng gồm chủ thể buộc tội  
là Kiểm sát viên, chủ thể gỡ tội là bị cáo,  
người bào chữa, ngoài ra còn có sự có mặt  
của một số người tham gia tố tụng khác;  
Hội đồng xét xử với vai trò là trọng tài sẽ  
đưa ra phán quyết cuối cùng để giải quyết  
* Thạc sĩ, Khoa Pháp luật hình sự, Trường Đại học  
Luật Hà Nội.  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 27  
BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA...  
chỉ có sức thuyết phục và được Tòa án chấp đỉnh điểm và được giải quyết thông qua các  
nhận khi và chỉ khi nó dựa trên các sự kiện, phán quyết, bản án đã có hiệu lực pháp luật  
của Tòa án”3. Theo quan điểm này, hoạt động  
tranh tụng trong vụ án hình sự bắt đầu từ rất  
sớm, ngay từ khi xuất hiện người bị tình nghi  
phạm tội và tồn tại trong tất cả các giai đoạn  
của tố tụng hình sự bao gồm khởi tố, điều  
tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc  
thẩm. Tác giả không đồng tình với toàn bộ  
nội dung quan điểm khoa học này, bởi lẽ chỉ  
có tranh tụng khi xuất hiện đủ ba chức năng  
của tố tụng hình sự là buộc tội, gỡ tội và xét  
xử. Hoạt động tranh tụng chỉ xuất hiện và  
tồn tại trong giai đoạn xét xử, còn trong các  
giai đoạn trước đó (khởi tố, điều tra, truy tố)  
không có tranh tụng, bởi ở đó chỉ xuất hiện  
các chủ thể làm chức năng buộc tội và gỡ tội.  
Tất cả các hoạt động điều tra, thu thập chứng  
cứ, tài liệu có liên quan đến vụ án trong các  
giai đoạn này đều nhằm chuẩn bị cho hoạt  
động tranh tụng tại phiên tòa được thực hiện  
một cách có chất lượng.  
Phạm vi tranh tụng được xác định cụ thể  
như sau: Thời điểm bắt đầu tranh tụng là  
từ khi Thẩm phán chủ tọa bắt đầu khai mạc  
phiên tòa. Dưới sự điều khiển của chủ tọa,  
phiên tòa sẽ diễn ra với các bước gồm thủ tục  
bắt đầu phiên tòa, thủ tục tranh tụng (có thủ  
tục xét hỏi và tranh luận), nghị án và tuyên  
án. Theo đó, hoạt động tranh tụng cũng diễn  
ra theo các mức độ tịnh tiến. Ở phần thủ tục  
bắt đầu phiên tòa sẽ là sự kiểm tra về các chủ  
thể có mặt tại tòa, các chứng cứ, tài liệu được  
đưa ra xem xét. Việc Kiểm sát viên và những  
người tham gia tố tụng khác, trong đó có bên  
gỡ tội có quyền đề nghị thay đổi những người  
tiến hành tố tụng, người giám định, người  
phiên dịch… là những tiền đề bảo đảm cho  
hoạt động tranh tụng được diễn ra một cách  
khách quan. Trong quá trình xét hỏi, Chủ tọa  
phiên tòa điều khiển việc xét hỏi, tạo cơ hội  
tình tiết và các chứng cứ, tài liệu đã được  
thẩm tra, xác minh công khai tại phiên tòa và  
chỉ ra được mối liên hệ logic khách quan  
giữa các sự kiện, tình tiết của vụ án1. Tòa án  
là chủ thể duy nhất có quyền ra phán quyết  
trên cơ sở kết quả của tranh tụng và các vấn  
đề đã được chứng minh công khai tại tòa.  
Nếu chỉ có hai bên buộc tội - gỡ tội mà thiếu  
đi sự xuất hiện của Tòa án với vai trò tài phán  
thì không thể đạt đến độ hoàn thiện của  
tranh tụng.  
1.1. Về phạm vi của hoạt động tranh tụng  
Có quan điểm khoa học cho rằng, “chức  
năng buộc tội xuất hiện kéo theo sự xuất hiện  
của chức năng bào chữa và đó chính là thời  
điểm bắt đầu của quá trình tranh tụng. Chức  
năng buộc tội kết thúc tất yếu kéo theo sự kết  
thúc chức năng bào chữa và đó chính là thời  
điểm kết thúc của quá trình tranh tụng”2.  
Tương tự như vậy, cũng có quan điểm xác  
định “tranh tụng phải bắt đầu ngay từ khi  
xuất hiện người bị tình nghi phạm tội trong  
vụ án bởi lẽ khi nào xuất hiện chức năng  
buộc tội và chức năng gỡ tội thì khi đó xuất  
hiện tranh tụng… Trong các giai đoạn điều  
tra, truy tố, tranh tụng chưa thực sự quyết  
liệt và cũng chưa thực sự cần đến vai trò  
trọng tài của Tòa án. Sang giai đoạn xét xử,  
khi bên buộc tội đã củng cố được chứng cứ  
và tự tin về lập luận buộc tội của mình là có  
căn cứ thì cũng là lúc quan hệ lượng chất đã  
có những thay đổi. Lúc này, mâu thuẫn cần  
được giải quyết thông qua vai trò trọng tài  
của Tòa án. Tranh tụng sẽ chấm dứt khi vụ  
án được đình chỉ trong các giai đoạn tố tụng  
trước đó hoặc tranh tụng đã phát triển đến  
1ꢀ Nguyễn Đức Mai, Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh  
tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình  
sự ở Việt Nam, Kỳ 1, hꢁps://tks.edu.vn/thong-tin- cho Kiểm sát viên, người bào chữa và bị cáo  
khoa-hoc/chi-tiet/79/296, truy cập ngày 25/4/2020.  
được hỏi, mục đích để thu thập, kiểm chứng  
2ꢀ  
Nguyễn Trương Tín, “Một số vấn đề về vai trò của  
Tòa án trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ 3ꢀ Nguyễn Văn Hiển, Về nguyên tắc tranh tụng trong tố  
thẩm trong điều kiện cải cách tư pháp”, Tạp chí Tòa án tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm  
nhân dân số 1, năm 2009, tr.11.  
2011, tr. 44 - 46.  
28 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
NGUYỄN THỊ MAI  
các thông tin. Mức độ của tranh tụng lúc này quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự,  
đã tăng thêm một cấp độ nữa. Khi hai bên miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.  
tiến hành tranh luận là lúc tranh tụng được  
thể hiện đậm nét nhất. Cả bên buộc tội và  
gỡ tội phải đưa ra các căn cứ pháp lý, căn cứ  
thực tế về nội dung vụ án để lập luận, bảo  
vệ quan điểm. Nếu qua tranh luận mà thấy  
còn có tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa  
được làm sáng tỏ thì Hội đồng xét xử phải  
quyết định trở lại việc xét hỏi, xét hỏi xong  
phải tiếp tục tranh luận. Sau khi tất cả các  
vấn đề có liên quan đến vụ án đã được đưa  
ra xem xét, tranh tụng tại phiên tòa và các  
bên buộc tội, gỡ tội không bổ sung gì thêm,  
Hội đồng xét xử sẽ tiến hành nghị án. Trên  
cơ sở kết quả tranh tụng và các nội dung đã  
được chứng minh tại phiên tòa, Tòa án sẽ ra  
bản án, quyết định để giải quyết các vấn đề:  
bị cáo có tội hay không có tội, nếu có thì tội  
danh cụ thể là gì, quyết định hình phạt, mức  
bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng của  
vụ án. Như vậy, hoạt động tranh tụng tại  
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt  
đầu từ khi Tòa án tiến hành thủ tục bắt đầu  
phiên tòa và kết thúc trước thời điểm Hội  
đồng xét xử vào phòng nghị án.  
Ngoài ra, ngay từ thủ tục bắt đầu phiên  
tòa, các bên đã có những tranh tụng về thủ  
tục này như có ý kiến đề nghị thay đổi Thẩm  
phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư kí Tòa  
án, người giám định, người định giá tài sản,  
người phiên dịch, người dịch thuật. Nếu có  
đề xuất thay đổi, các bên phải nêu được lý  
do. Các bên cũng có quyền tranh tụng về  
việc có cần triệu tập thêm người làm chứng  
hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu  
ra xem xét hay không. Nếu có người tham  
gia tố tụng vắng mặt hoặc không thể tiếp tục  
tham gia phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa phải  
hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay  
không… Những vấn đề tranh tụng này sẽ là  
tiền đề cho các bên thực hiện việc tranh tụng  
về nội dung, bản chất của vụ án. Đồng thời,  
tại phiên tòa, các bên còn tranh tụng về tính  
hợp pháp, tính đúng đắn của các quyết định,  
các hoạt động tố tụng trước đó, kiểm chứng  
lại các kết quả giám định, kết quả khám  
nghiệm hiện trường. Các bên cũng tranh  
tụng về các hoạt động được Hội đồng xét xử  
quyết định thực hiện như xem xét vật chứng;  
xem xét tại chỗ; trình bày, công bố báo cáo,  
tài liệu của cơ quan, tổ chức…  
1.2. Về nội dung của hoạt động tranh tụng  
Tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm  
vụ án hình sự thực chất cũng là quá trình  
chứng minh tất cả vấn đề có liên quan đến  
vụ án, trong đó tập trung làm rõ tính có căn  
cứ và tính hợp pháp của việc buộc tội và gỡ  
tội. Như vậy, nội dung tranh tụng bao gồm  
các tình tiết thể hiện bản chất vụ án và căn cứ  
để chứng minh bao gồm: có hành vi phạm  
tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm  
và những tình tiết khác của hành vi phạm  
tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội;  
có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có  
năng lực trách nhiệm hình sự hay không;  
mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết  
giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của  
bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của  
1.3. Về chủ thể thực hiện hoạt động tranh  
tụng  
Hiện nay, trong khoa học tố tụng hình sự  
thừa nhận ba chức năng cơ bản của tố tụng  
hình sự là chức năng buộc tội, chức năng bào  
chữa và chức năng xét xử. Chức năng tố tụng  
được coi là một dạng chức năng nhà nước  
mang tính định hướng, trong đó có sự phân  
định rõ ràng hoạt động của các chủ thể khác  
nhau khi thực hiện để đạt được mục đích  
nhất định với những quyền hạn và nhiệm vụ  
khác nhau. Tranh tụng là quá trình tồn tại,  
vận động và đấu tranh giữa hai chức năng  
đối trọng nhau, có quyền ngang nhau trong  
việc bảo vệ ý kiến, lập luận, lợi ích của mình  
bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại và phản bác ý kiến, lập luận, lợi ích của phía  
do hành vi phạm tội gây ra; nguyên nhân và bên kia: chức năng buộc tội và chức năng  
điều kiện phạm tội; những tình tiết khác liên bào chữa. Hoạt động tranh tụng chỉ thực sự  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 29  
BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA...  
diễn ra khi có đủ ba điều kiện cơ bản là: (i) có việc cá nhân bị thiệt hại do hành vi phạm tội  
các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội và gây ra và hướng đến mục đích bảo vệ quyền  
chức năng bào chữa; (ii) có sự “xung đột” về và lợi ích hợp pháp của chính người bị hại. Ở  
nội dung buộc tội và nội dung bào chữa, nếu Việt Nam, Viện kiểm sát là cơ quan có chức  
không có điều kiện này thì hoạt động tranh năng thực hành quyền công tố, tức là nhân  
tụng không xảy ra; (iii) có chủ thể điều khiển danh quyền lực công (quyền lực Nhà nước)  
hoạt động tranh tụng và phán quyết về kết để buộc tội. Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát  
quả tranh tụng, đó chính là Hội đồng xét xử4. viên có thể thực hiện chức năng buộc tội  
thông qua một số hoạt động điển hình như:  
+ Công bố cáo trạng  
Tham gia vào quá trình tranh tụng gồm  
các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội và  
chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội. Tòa án  
không phải là chủ thể tranh tụng mà thông  
qua việc thực hiện chức năng xét xử, Tòa án  
đóng vai trò là trọng tài vô tư, khách quan  
điều khiển tranh tụng. Tranh tụng là một  
quá trình và sự xuất hiện của Tòa án trong  
quá trình này là sự xác nhận tranh tụng đã  
lên đến đỉnh điểm cần được giải quyết. Để  
tranh tụng có chất lượng, đòi hỏi Kiểm sát  
viên, luật sư, bị cáo, bị hại và những người  
tham gia tố tụng khác phải tranh luận từng  
vấn đề rõ ràng, dứt khoát, không tranh luận  
một cách chung chung, dàn trải, lạc đề. Đặc  
biệt cần tránh khuynh hướng Kiểm sát viên  
chỉ phát biểu quan điểm của mình là giữ  
nguyên quan điểm như đã truy tố mà không  
đưa ra lý lẽ, dẫn chứng có sức thuyết phục  
để bảo vệ quan điểm đó5.  
Trong giai đoạn truy tố, nếu Viện kiểm sát  
nhận thấy hành vi phạm tội đã rõ ràng, chứng  
cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, Viện kiểm  
sát sẽ truy tố bị can bằng bản cáo trạng. Nội  
dung cáo trạng thể hiện quan điểm truy tố  
của Viện kiểm sát về hành vi phạm tội nhưng  
đồng thời cáo trạng cũng tái hiện lại toàn bộ  
diễn biến, tính chất, mức độ nguy hiểm của  
hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Nếu không  
có quyết định truy tố của Viện kiểm sát bằng  
cáo trạng thì cũng không có phiên tòa xét xử  
sơ thẩm. Do đó, tại phiên tòa, Kiểm sát viên  
phải công bố cáo trạng một cách công khai  
để cho tất cả những người có mặt tại phiên  
tòa biết được nội dung truy tố của Viện kiểm  
sát nhưng đồng thời cũng là cơ hội để cho  
bị cáo tự đối chiếu với cáo trạng mình đã  
được nhận xem các nội dung có trùng khớp,  
có nội dung nào được thay đổi, bổ sung hay  
không, chuẩn bị cho việc thực hiện quyền  
bào chữa. Có ý kiến cho rằng “cáo trạng do  
Viện kiểm sát truy tố trước Tòa án không chỉ  
là lý do hình thức tồn tại của giai đoạn xét  
xử sơ thẩm mà là đối tượng trung tâm diễn  
ra trong giai đoạn này”6. Theo đó, nội dung  
các bên tiến hành tranh tụng tại phiên tòa  
đều xoay quanh cáo trạng, trong đó đặc biệt  
quan tâm đến việc kết luận hành vi của bị  
cáo phạm vào tội gì và phải chịu hình phạt  
như thế nào. Việc Kiểm sát viên công bố cáo  
trạng trước khi tiến hành xét hỏi đã đánh  
- Chủ thể thực hiện chức năng buộc tội  
Chức năng buộc tội là chức năng cơ bản  
của tố tụng hình sự, theo đó các chủ thể buộc  
tội sử dụng các quyền năng tố tụng của mình  
để chứng minh tội phạm, người phạm tội để  
truy cứu ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc  
tội đó trước phiên tòa. Chủ thể thực hiện  
chức năng buộc tội không chỉ có Viện kiểm  
sát mà còn có thể được thực hiện nhân danh  
cá nhân người bị hại. Hình thức buộc tội này  
được gọi là tư tố, buộc tội tư tố xuất phát từ  
4ꢀ Nguyễn Văn Quảng, Đổi mới thủ tục tại phiên tòa  
phúc thẩm hình sự theo hướng tăng cường tranh tụng  
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Nhà nước và 6ꢀ Nguyễn Thái Phúc, Một số vấn đề về quyền công tố của  
pháp luật, số 10, năm 2012, tr. 102-103.  
Viện kiểm sát nhân dân, Kỉ yếu đề tài khoa học cấp bộ  
5ꢀ Trịnh Tiến Việt, Nâng cao chất lượng tranh tụng tại “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của tố  
phiên tòa hình sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7, tụng hình sự Việt Nam”, Viện kiểm sát nhân dân tối  
năm 2003, tr. 62.  
cao, Viện khoa học kiểm sát, Hà Nội, năm 1995, tr. 143.  
30 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
NGUYỄN THỊ MAI  
dấu tranh tụng thực sự bắt đầu.  
+ Tham gia xét hỏi  
không dựa vào các sự kiện, các tình tiết đã  
được làm rõ trong vụ án thì lời buộc tội đó  
thiếu căn cứ khách quan. Ngược lại, nếu lời  
buộc tội chỉ dựa vào kết quả thẩm vấn, các  
tình tiết của vụ án nhưng không chỉ ra được  
sự liên hệ khách quan giữa các sự việc, tình  
tiết đó thì lời buộc tội không có tính thuyết  
phục đối với người nghe.  
Kiểm sát viên tham gia vào quá trình xét  
hỏi để làm rõ các nội dung có liên quan đến  
vụ án, đặc biệt là các tình tiết làm cơ sở cho  
việc buộc tội bị cáo. Có thể hình dung hoạt  
động chứng minh của Kiểm sát viên tại phần  
thẩm vấn chủ yếu diễn ra dưới hình thức  
nhận định cảm tính - kinh nghiệm: xem xét  
trực tiếp, kiểm tra các chứng cứ, xác định sự  
việc này hay sự việc khác. Khi hỏi bị cáo, bị  
hại, người làm chứng, xem xét các vật chứng,  
Kiểm sát viên lúc này chưa đưa ra một kết  
luận hay một nhận định nào hết. Kiểm sát  
viên chỉ xác định các tình tiết, các sự kiện để  
trong phần tranh luận tiếp theo làm cơ sở  
khẳng định sự đúng đắn cho các kết luận,  
nhận định của mình. Mô hình tố tụng của  
nước ta là mô hình tố tụng thẩm vấn nên  
Thẩm phán đang giữ vai trò hỏi chính và hỏi  
trước, Kiểm sát viên và người bào chữa hỏi  
sau nhưng để phù hợp với nguyên tắc tranh  
tụng thì nên xem xét để Kiểm sát viên phải  
là người xét hỏi trước và là người hỏi chính,  
Hội đồng xét xử xét hỏi sau và chỉ hỏi về  
những tình tiết chưa rõ hoặc để kiểm tra, xác  
minh các chứng cứ mới tại phiên tòa.  
Trên cơ sở luận tội của Kiểm sát viên, chủ  
thể thực hiện chức năng bào chữa và những  
người tham gia tố tụng khác tiến hành tranh  
luận, đối đáp để đưa ra những ý kiến phản  
bác. Tranh luận cũng chính là một phần của  
quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm và  
lúc này tranh tụng đã lên đến “đỉnh điểm”,  
các bên được đưa ra lập luận để bảo vệ cho  
quan điểm của mình và phản bác lại phía  
bên kia. Đồng thời, “việc Kiểm sát viên tranh  
luận với người bào chữa, bị cáo và những  
người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ  
thẩm là một hoạt động thể hiện sự bình đẳng  
giữa bên buộc tội và bên gỡ tội… Kiểm sát  
viên là người đại diện cho Viện kiểm sát đưa  
ra lời buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa, nên  
phải có nghĩa vụ chứng minh lời buộc tội đó  
bằng hình thức tranh luận công khai, ngược  
lại, chủ thể bị buộc tội và những người tham  
gia tố tụng khác tham gia tranh luận với tư  
cách cá nhân, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích  
hợp pháp của cá nhân họ hoặc người họ đại  
diện mà thôi”7.  
Tại phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát đóng  
vai trò là một bên của tranh tụng, là chủ thể  
thực hiện chức năng buộc tội, hay nói cách  
khác, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là  
hình thức trực tiếp thực hiện nghĩa vụ chứng  
minh buộc tội của mình, trực tiếp đề xuất các  
chứng cứ khẳng định sự đúng đắn trong các  
kết luận của mình về lỗi của bị cáo, hệ thống  
và phân tích các chứng cứ đó để thuyết phục  
Hội đồng xét xử chấp nhận các đề nghị của  
mình. Từ đó, bảo đảm việc buộc tội là chính  
+ Trình bày luận tội và tranh luận  
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát  
viên trình bày luận tội, thể hiện quan điểm  
buộc tội của Viện kiểm sát đối với hành vi  
phạm tội của bị cáo. Những nội dung bên gỡ  
tội tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm sẽ xoay  
quanh nội dung buộc tội của Kiểm sát viên  
bởi các quan điểm buộc tội - gỡ tội mang tính  
đối lập nhau, trong một số trường hợp nhất  
định có thể phủ định nhau. Để việc luận tội  
được chính xác, đúng đắn, có chất lượng và  
có tính thuyết phục, Kiểm sát viên phải căn  
cứ vào tất cả các chứng cứ, tài liệu trước đó  
và những vấn đề đã được kiểm chứng tại tòa,  
tránh tình trạng buộc tội trên cơ sở hồ sơ đã  
nghiên cứu mà xa rời thực tế tại phiên xét  
xử. Nếu lời buộc tội của Kiểm sát viên không  
7ꢀ Trần Thị Liên, Thực hành quyền công tố trong giai đoạn  
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận án Tiến sĩ Luật học,  
dựa vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, năm 2019, tr. 59.  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 31  
BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA...  
xác, đúng người, đúng tội, góp phần nâng bào chữa và nhờ người khác bào chữa, trong  
cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ  
thẩm.  
đó, quyền tự bào chữa là quyền năng tố tụng  
đặc thù của người bị buộc tội được pháp luật  
ghi nhận và bảo đảm cho phép họ tự mình  
thực hiện các hành vi tố tụng và biện pháp  
bào chữa theo quy định của pháp luật nhằm  
minh oan, bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ  
trách nhiệm hình sự cho mình9.  
Trên thực tế, do trình độ hiểu biết pháp  
luật còn hạn chế hoặc do những nguyên  
nhân khác mà đa số bị cáo thường không  
- Chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội  
Chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội gồm  
có người bào chữa và bị cáo. Trên thực tế, các  
chủ thể này sẽ thực hiện hoạt động bào chữa  
với mục đích xác định sự vô tội hoặc làm  
giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cơ sở  
phát sinh hoạt động bào chữa là quyền bào  
chữa của người bị buộc tội và ngược lại, hoạt  
động bào chữa là phương thức để người bị thực hiện được tốt quyền bào chữa của mình.  
buộc tội và người bào chữa thực hiện quyền  
bào chữa của người bị buộc tội. Quyền bào  
chữa là quyền cơ bản của con người, của  
công dân trong tố tụng hình sự, đó là tổng  
thể các quyền mà pháp luật quy định, cho  
phép người bị buộc tội có thể sử dụng nhằm  
bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội  
và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá  
trình giải quyết vụ án hình sự, đặc biệt là khi  
tranh tụng tại phiên tòa, hoạt động bào chữa  
phải được bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ  
quyền con người, quyền bình đẳng trước  
pháp luật. “Nếu quá trình tố tụng chỉ thể hiện  
vai trò của Nhà nước thì sẽ dẫn tới tình trạng  
cả hệ thống tố tụng hình sự sẽ trở thành hệ  
thống buộc tội. Với tư cách là quyền cơ bản  
hiến định của công dân, quyền bào chữa bắt  
buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo  
cơ hội để chức năng bào chữa được thực hiện  
một cách thuận lợi. Các cơ quan tiến hành tố  
tụng cũng phải tôn trọng và bảo đảm quyền  
bào chữa của bị can, bị cáo. Nói một cách cụ  
thể hơn, người bào chữa, thông thường là  
luật sư, phải được coi trọng và có vị trí xứng  
đáng trong tố tụng hình sự. Tốt nhất là vị trí  
của luật sư phải ngang hàng với cơ quan công  
tố trong quá trình tố tụng hình sự, có như  
vậy thì quá trình tố tụng hình sự mới thật sự  
công bằng”8. Quyền bào chữa gồm quyền tự  
Do đó, bị cáo có quyền nhờ người khác bào  
chữa, trong trường hợp bị cáo về tội mà Bộ  
luật hình sự quy định mức cao nhất của  
khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân,  
tử hình; có nhược điểm về thể chất mà không  
thể tự bào chữa; có nhược điểm về tâm thần  
hoặc là người dưới 18 tuổi thì bị cáo có người  
bào chữa chỉ định. Người bào chữa cho bị  
cáo có thể là luật sư, người đại diện của bị  
cáo, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên  
pháp lý. Tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa  
đưa ra các cơ sở pháp lý, lập luận nhằm bác  
bỏ những căn cứ buộc tội, chứng minh sự vô  
tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối  
với bị cáo, đề xuất yêu cầu, kiến nghị với Hội  
đồng xét xử về hình phạt, mức bồi thường  
đối với bị cáo. Trong số những người bào  
chữa thì luật sư là người có khả năng thực  
hiện hoạt động bào chữa hiệu quả nhất, do  
đó, hoạt động bào chữa tại phiên tòa, nhất  
là hoạt động bào chữa của luật sư phải được  
bảo đảm thực hiện nhằm tăng cường tranh  
tụng, vụ án được giải quyết một cách chính  
xác, khách quan, công bằng.  
- Tòa án  
Tại phiên tòa, Tòa án (Hội đồng xét xử)  
không phải là chủ thể tranh tụng nhưng  
để bảo đảm có tranh tụng thì phải có sự  
xuất hiện của chủ thể giữ vai trò trọng tài,  
8ꢀ Tô Văn Hòa, Các quyền cơ bản hiến định của công dân  
trong lĩnh vực tố tụng hình sự trong đề tài nghiên cứu học Luật Hà Nội, năm 2011, tr. 94.  
khoa học: Hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 9ꢀ Ngô Ngọc Vân, Hoạt động bào chữa của luật sư trong  
nhằm thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận án Tiến sĩ  
cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự, Trường Đại Luật học, năm 2016, tr. 48.  
32 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
NGUYỄN THỊ MAI  
ra phán quyết cuối cùng - chính là Tòa án. trình xét xử, nhưng Viện kiểm sát và Tòa án  
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, chức năng lại hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi cơ quan  
xét xử là hoạt động tố tụng của Tòa án có tự chịu trách nhiệm về công việc của mình.  
thẩm quyền nhân danh Nhà nước áp dụng Tòa án không làm thay hay can thiệp vào  
pháp luật vào trường hợp cụ thể như: xem công việc của Viện kiểm sát (Kiểm sát viên)  
xét và phán quyết người bị buộc tội có tội và ngược lại, Viện kiểm sát cũng không can  
hay không có tội, nếu có tội thì trách nhiệm thiệp vào công việc xét xử của Tòa án, mặc  
hình sự như thế nào cũng như các vấn đề dù VKS có quyền và trách nhiệm kiểm sát  
khác có liên quan, được thực hiện trong hoạt động xét xử của Tòa án”10. Khi các chức  
mối quan hệ với các chức năng tố tụng khác năng buộc tội và xét xử thực sự tách bạch, rõ  
nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp ràng sẽ đảm bảo việc xét xử của Tòa án được  
pháp của công dân, tổ chức và Nhà nước. vô tư, khách quan và công bằng cho các chủ  
Chức năng xét xử được thực hiện thông qua thể có liên quan.  
Hội đồng xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán  
và Hội thẩm đóng vai trò là những người  
“cầm cân nảy mực” ra phán quyết cuối cùng  
để giải quyết vụ án. Chủ tọa phiên tòa là  
người điều khiển các hoạt động tố tụng tại  
phiên tòa, chịu trách nhiệm chính về những  
vấn đề BLTTHS quy định đối với Hội đồng  
xét xử, thay mặt Hội đồng xét xử công bố  
những quyết định quan trọng. Hoạt động  
tranh tụng bắt đầu từ khi Tòa án tiến hành  
thủ tục bắt đầu phiên tòa, do đó lúc này Hội  
đồng xét xử, đặc biệt là Thẩm phán chủ tọa  
đã phải thể hiện được vai trò của mình. Hội  
đồng xét xử kiểm tra sự có mặt của các bên  
tranh tụng nhằm tạo ra những điều kiện  
cần thiết cho các bên tiến hành tranh tụng  
ở các thủ tục tiếp theo được thuận lợi, đúng  
pháp luật và đạt hiệu quả.  
Tại thủ tục bắt đầu phiên tòa, hoạt động  
tranh tụng giữa bên buộc tội và bào chữa đã  
diễn ra nhưng ở mức độ thấp, Hội đồng xét  
xử cũng đã thể hiện được vai trò trọng tài của  
mình để giải quyết các xung đột, các lợi ích  
đối lập theo yêu cầu của các bên tranh tụng.  
Trong các thủ tục tố tụng tiếp theo, Hội đồng  
xét xử mà đặc biệt là Thẩm phán vẫn thể hiện  
được vai trò của người điều khiển phiên tòa,  
tạo điều kiện để các bên được tranh luận,  
đưa ra các chứng cứ, lập luận để bảo vệ quan  
điểm của mình và bác bỏ quan điểm của phía  
bên kia. “Ở giai đoạn xét xử, tuy Tòa án (hoặc  
Hội đồng xét xử) là cơ quan giữ vai trò chỉ  
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng  
hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ  
thẩm vụ án hình sự  
Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử  
sơ thẩm vụ án hình sự được coi là trung tâm  
của giai đoạn xét xử, ở đó có sự hiện diện rất  
đầy đủ những người tham gia tố tụng có liên  
quan đến vụ án, có nghĩa vụ phải tham gia  
tố tụng cũng như những người tiến hành tố  
tụng. Muốn hoạt động tranh tụng được thực  
hiện trên thực tế và thực hiện một cách chất  
lượng để bảo đảm việc xét xử công bằng,  
khách quan, đúng người, đúng tội, đúng  
pháp luật đòi hỏi phải có công cụ pháp luật  
chính xác, khả thi, nguồn nhân lực có năng  
lực, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt. Do  
đó, muốn đảm bảo chất lượng hoạt động  
tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ  
án hình sự thì việc nghiên cứu các yếu tố ảnh  
hưởng là hết sức cần thiết để có những đề  
xuất phù hợp.  
Một là, yếu tố pháp luật  
BLTTHS năm 2015 là văn bản pháp luật  
điều chỉnh trực tiếp hoạt động tranh tụng tại  
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, ngoài  
ra còn phải kể đến các văn bản khác như Luật  
Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ  
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật  
Luật sư năm 2006… Cùng một hoạt động  
10ꢀ Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Sổ tay Kiểm sát viên  
hình sự (tập I), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, năm  
đạo việc xét xử, là cơ quan quyết định quá 2006, tr. 46.  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 33  
BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA...  
nhưng lại chịu sự điều chỉnh, chi phối của xét xử. Chất lượng hoạt động tranh tụng tại  
rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau, do  
đó đòi hỏi nội dung của các văn bản này phải  
chi tiết, cụ thể, phù hợp nhưng không được  
mâu thuẫn, chồng chéo. Nhà nước ra đời kéo  
theo sự hình thành tất yếu của hệ thống pháp  
luật, pháp luật có vai trò hết sức quan trọng  
trong việc duy trì trật tự xã hội, phát huy  
dân chủ, phát huy quyền lực nhân dân nhằm  
đảm bảo công bằng. Với chức năng quan  
trọng như vậy, đòi hỏi pháp luật nói chung  
và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng phải  
đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định.  
Muốn hoàn thiện các quy phạm pháp luật,  
điều chỉnh hoạt động tranh tụng tại phiên  
tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự phải đáp  
ứng được những tiêu chuẩn cơ bản sau: tính  
toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính  
minh bạch và kĩ thuật lập pháp. Tính toàn  
diện của hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt  
động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm  
vụ án hình sự bảo đảm hoạt động của tất  
cả chủ thể có liên quan đều được pháp luật  
điều chỉnh; tính đồng bộ thể hiện ở việc các  
văn bản pháp luật được quy định một cách  
thống nhất, không trùng lắp, không mâu  
thuẫn, chồng chéo; tính phù hợp đòi hỏi các  
văn bản pháp luật phải có sự tương thích với  
chế độ chính trị, trình độ phát triển của nền  
kinh tế - xã hội, truyền thống dân tộc, phong  
tục tập quán địa phương và trình độ dân trí;  
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ngoài  
chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các văn bản  
pháp luật điều chỉnh thì còn chịu ảnh hưởng  
rất lớn từ những chủ thể có liên quan đến  
hoạt động này.  
Về phía Kiểm sát viên với vai trò là  
bên buộc tội, Kiểm sát viên cần có trình độ  
chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp để có thể  
đưa ra bản luận tội xác đáng, phù hợp với  
tình tiết khách quan của vụ án. Việc buộc  
tội phải dựa trên những chứng cứ cụ thể,  
rõ ràng, cách nêu vấn đề phải đúng trọng  
tâm, bảo đảm kết luận đúng người, đúng tội,  
không làm oan người vô tội.  
Về phía người bào chữa mà điển hình là  
luật sư đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn,  
có vốn hiểu biết xã hội, có kinh nghiệm và  
kĩ năng bào chữa. Ở người luật sư cũng rất  
cần có đạo đức tốt, có trách nhiệm với thân  
chủ của mình, với những trường hợp tham  
gia bào chữa chỉ định càng đòi hỏi luật sư  
làm việc có tâm, tránh tình trạng bào chữa  
mang tính hình thức hoặc gây bất lợi cho bị  
cáo. Ngoài ra, trình độ nhận thức, khả năng  
hợp tác của bị cáo cũng ảnh hưởng đến chất  
lượng hoạt động tranh tụng.  
Về phía Hội đồng xét xử, mặc dù không  
phải là chủ thể của tranh tụng nhưng lại có  
vai trò hết sức quan trọng. Trên cơ sở các  
tính minh bạch đòi hỏi việc xây dựng, ban vấn đề được kiểm tra, chứng minh ngay tại  
hành, thực thi pháp luật được thực hiện công  
khai, phát huy vai trò tích cực, làm chủ của  
nhân dân. Việc bảo đảm kĩ thuật lập pháp  
sẽ giúp hệ thống quy phạm pháp luật được  
chặt chẽ, logic, có tính ổn định và có cơ chế  
điều chỉnh phù hợp với những thay đổi của  
thực tiễn.  
phiên tòa và kết quả tranh tụng của các bên,  
Hội đồng xét xử sẽ ra phán quyết cuối cùng  
để giải quyết vụ án. Tòa án, mà cụ thể Hội  
đồng xét xử là chủ thể duy nhất được ra bản  
án tuyên một người là có tội hay vô tội, do đó  
đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm phải có trình  
độ chuyên môn, đánh giá đúng tính chất,  
mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã  
thực hiện, việc xét xử không thể qua loa, cảm  
tính hoặc chỉ thiên về bên buộc tội mà phải  
luôn đảm bảo công bằng, khách quan, việc ra  
phán quyết phải thấu tình đạt lý.  
Hai là, yếu tố con người  
Để có thể tiến hành hoạt động tranh tụng  
cần có bên buộc tội là Kiểm sát viên, bên gỡ  
tội là bị cáo, người bào chữa và không thể  
thiếu Thẩm phán, Hội thẩm với vai trò trọng  
tài để đưa ra phán quyết, bảo đảm sự bình  
Ba là, yếu tố quản lý, chỉ đạo, điều hành và  
đẳng, công bằng trong tranh tụng cũng như kiểm tra, giám sát  
34 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
NGUYỄN THỊ MAI  
Trong quá trình Kiểm sát viên thực hiện  
Chế độ đãi ngộ đối với Kiểm sát viên,  
nhiệm vụ cần có sự quản lý, chỉ đạo của lãnh Thẩm phán, Hội thẩm cũng cần được đảm  
bảo để họ không phải chịu áp lực về kinh  
tế, chuyên tâm vào công việc. Với trường  
hợp có người bào chữa chỉ định cũng cần  
phải được trả thù lao phù hợp, tương xứng  
với trí tuệ và công sức họ đã bỏ ra. Khi đáp  
ứng được các vấn đề về cơ sở vật chất, trang  
thiết bị và chế độ đãi ngộ sẽ góp phần nâng  
cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại  
phiên tòa.  
đạo, Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự kiểm  
tra, giám sát của Viện kiểm sát cấp trên. Việc  
quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cần được  
tiến hành kịp thời, thường xuyên, liên tục  
nhằm phát hiện những thiếu sót, sai phạm.  
Từ đó có biện pháp khắc phục, bảo đảm  
chứng cứ của vụ án được thu thập đầy đủ,  
việc buộc tội bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ,  
đúng pháp luật.  
Chánh án Tòa án cũng cần thường xuyên  
chỉ đạo, kiểm tra quá trình nghiên cứu hồ  
sơ, kết quả xét xử vụ án để kịp thời đôn đốc,  
khắc phục thiếu sót. Khi phân công Thẩm  
phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm tham gia  
xét xử, Chánh án Tòa án cũng cần cân nhắc  
đến trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm  
việc, với Hội thẩm nhân dân cần đặc biệt chú  
ý đến kiến thức xã hội, chuyên môn để có sự  
phân công phù hợp, đúng sở trường nhằm  
nâng cao chất lượng xét xử cũng như chất  
lượng tranh tụng.  
3. Kết luận  
Cải cách tư pháp đã đặt ra nhiều nhiệm  
vụ trọng tâm mà các cơ quan ban ngành  
đều phải thực hiện một cách đồng bộ, đặc  
biệt là các cơ quan tư pháp. Tăng cường  
tranh tụng trong tố tụng hình sự được  
xác định là một trong những vấn đề quan  
trọng nhất của cải cách tư pháp, là tư tưởng  
mang tính đột phá. Muốn có tranh tụng  
đòi hỏi phải có sự tham gia của bên buộc  
tội, bên gỡ tội và cơ quan giữ vai trò trọng  
tài. Các văn bản pháp lý được Đảng và Nhà  
nước ta ban hành chính là để tạo điều kiện  
thuận lợi cho các bên được tham gia vào  
hoạt động tranh tụng và thực hiện một  
cách chất lượng. Theo đó, hai bên buộc tội  
- gỡ tội phải bình đẳng với nhau trên mọi  
phương diện, có đầy đủ quyền và nghĩa  
vụ mang tính đối trọng. Đảng ta đã chỉ rõ  
những nhiệm vụ trọng tâm đặt ra cho các  
cơ quan trong tiến trình cải cách tư pháp,  
đặt biệt là tăng cường tranh tụng, do đó  
việc tăng cường kiểm tra, rà soát hoạt động  
của các cơ quan tiến hành tố tụng, kiện  
toàn đội ngũ luật sư và các chủ thể khác  
tham gia bào chữa đều nhằm bảo đảm và  
nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng  
tại phiên tòa. Những yêu cầu mà công cuộc  
cải cách tư pháp đặt ra thực sự là kim chỉ  
nam hành động cho quá trình giải quyết vụ  
án nói chung và hoạt động tranh tụng tại  
phiên tòa nói riêng./.  
Bốn là, yếu tố trang thiết bị, cơ sở vật chất và  
chế độ đãi ngộ  
Một số yếu tố khác cũng ít nhiều tác động  
đến chất lượng hoạt động tranh tụng có thể  
kể đến như điều kiện làm việc, cơ sở vật chất,  
trang thiết bị máy móc và các chế độ đãi ngộ.  
Để Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm có  
thể thực hiện tốt công việc, trụ sở Viện kiểm  
sát, Tòa án phải được trang bị đầy đủ các  
thiết bị phục vụ cho việc cập nhật, lưu trữ  
hồ sơ, các phương tiện ghi âm, ghi hình và  
các thiết bị hỗ trợ khác. Khi Kiểm sát viên,  
Thẩm phán, Hội thẩm có điều kiện làm việc  
tốt, máy móc, trang thiết bị hiện đại, đáp ứng  
được yêu cầu công việc sẽ giúp họ có tâm  
lý thoải mái, tập trung vào công việc. Trụ sở  
Viện kiểm sát, Tòa án cũng cần bố trí những  
không gian để cho luật sư được đọc, nghiên  
cứu hồ sơ và có bố trí các trang thiết bị phục  
vụ cho việc sao chép hồ sơ khi được phép.  
Có như vậy luật sư mới có đủ các tài liệu,  
thông tin phục vụ cho việc bào chữa.  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 35  
pdf 9 trang Thùy Anh 16060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bản chất hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_chat_hoat_dong_tranh_tung_tai_phien_toa_xet_xu_so_tham_v.pdf