Bàn về người giám hộ trong tố tụng hình sự
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
BÀN VỀ NGƯỜI GIÁM HỘ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Dương Tấn Thanh*
*Thẩm phán Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Việc xác định người giám hộ của người tham gia tố tụng là người dưới
18 tuổi trong vụ án hình sự có ý nghĩa rất quan trọng, vì đây là cơ sở
để xác định đúng người đại diện hợp pháp cho người tham gia tố tụng
là người dưới 18; qua đó, đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của người
chưa thành niên. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc xác định người giám
hộ của người chưa thành niên trong một số trường hợp vẫn còn khó khăn,
vướng mắc do không có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể.
Từ khóa: Người giám hộ; tố
tụng hình sự; người dưới 18
tuổi.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 07/3/2021
: 18/5/2021
:20/5/2021
Abstract:
Article Infomation:
Keywords: The
It is very important to identify the guardian of an under 18-year-old
procedure participant in a criminal case, because this is the ground for
the right legal representative for the procedure participant under 18
years olds, thereby, ensuring the legal rights of the minors. However,
practical enforcement shows that identifying the guardians of minors
faces difficulties in some cases because there are no specific regulations
or guidelines for the concerned matters.
guardian;
criminal procedure; people
under 18 years of age
Article History:
Received
Edited
: 07 Mar. 2021
: 18 May. 2021
Approved
: 20 May. 2021
1. Quy định của pháp luật về người giám
hộ là người đại diện của người tham gia tố
tụng dưới 18 tuổi
dưới 18 tuổi bao gồm người giám hộ đương
nhiên hoặc người được Ủy ban nhân dân
(UBND) cấp xã nơi người dưới 18 tuổi cư trú
cử hoặc Tòa án chỉ định theo quy định tại các
điều 46, 47, 48, 52 và 54 Mục 4 Chương III
Bộ luật Dân sự.
Theo quy định tại Thông tư liên tịch
số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-
BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân
dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Tư pháp - Bộ
Lao động-Thương binh và Xã hội về phối
hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với
người dưới 18 tuổi thì ngoài cha mẹ đẻ, cha
mẹ nuôi, người do Tòa án chỉ định thì người
giám hộ có thể là người đại diện của người
tham gia tố tụng dưới 18 tuổi (người bị buộc
tội: bị can, bị cáo; bị hại; người làm chứng).
Người giám hộ của người tham gia tố tụng
1.1. Quy định về người giám hộ đương
nhiên
Theo quy định tại các điểm a, b khoản 1
Điều 47 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015,
người chưa thành niên (hay người dưới 18
tuổi) nếu có yêu cầu người giám hộ thì có
người giám hộ đương nhiên trong những
trường hợp sau:
- Người chưa thành niên không còn cha,
mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;
Số 20(444) - T10/2021
39
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
- Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng
cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha,
mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn
chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có
điều kiện chăm sóc, giáo dục con.
cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án
tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ
đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục
con và không có người giám hộ đương nhiên
thì UBND cấp xã có trách nhiệm cử người
giám hộ cho họ. Việc cử người giám hộ của
người chưa thành niên được thực hiện theo
quy định tại Điều 54 của BLDS năm 2015.
Theo đó, việc cử người giám hộ phải được
sự đồng ý của người được cử làm người giám
hộ. Việc cử người giám hộ phải được lập
thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người
giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người
giám hộ, tình trạng tài sản của người được
giám hộ. Trường hợp cử người giám hộ cho
người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên
thì phải xem xét nguyện vọng của người chưa
thành niên.
Về người giám hộ đương nhiên của người
chưa thành niên được xác định theo thứ tự
quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015, cụ thể
như sau:
- Trường hợp thứ nhất: Anh ruột là anh cả
hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu
anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm
người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp
theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa
thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người
giám hộ;
- Trường hợp thứ hai: Nếu không có người
giám hộ là anh cả hoặc chị cả hoặc anh ruột
hoặc chị ruột thì ông nội, bà nội, ông ngoại,
bà ngoại là người giám hộ hoặc những người
này thỏa thuận cử một hoặc một số người
trong số họ làm người giám hộ;
1.3. Quy định về người giám hộ do Tòa
án chỉ định
- Trường hợp khi có tranh chấp giữa
những người giám hộ
Theo khoản 1 Điều 54 BLDS năm 2015,
khi có sự tranh chấp về người giám hộ giữa
những người giám hộ đương nhiên của người
chưa thành niên theo quy định tại điểm a, b
khoản 1 Điều 47 BLDS năm 2015, tức là có
sự tranh chấp người giám hộ giữa anh cả, chị
cả, anh ruột, chị ruột của người chưa thành
niên hoặc giữa ông nội, bà nội, ông ngoại, bà
ngoại hoặc giữa bác ruột, chú ruột, cậu ruột,
cô ruột, dì ruột hoặc giữa những người thì
Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ. Đối với
người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên
thì khi Tòa án chỉ định người giám hộ cho họ
phải xem xét nguyện vọng của người này.
- Trường hợp thứ ba: Nếu không có người
giám hộ như hai trường hợp trên thì bác ruột,
chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là
người giám hộ.
Như vậy, tùy trường hợp mà xác định ai là
người giám hộ đương nhiên của người chưa
thành niên; trong đó, trường hợp thứ nhất,
người giám hộ đương nhiên là 01 người (anh
cả hoặc chị cả); các trường hợp còn lại thì
bao gồm tất cả ông nội, bà nội, ông ngoại,
bà ngoại hoặc bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô
ruột, dì ruột. Những người này có quyền thỏa
thuận cử một hoặc một số người trong số họ
làm người giám hộ đương nhiên.
- Trường hợp khi có tranh chấp về việc cử
người giám hộ
1.2. Quy định về người giám hộ được Ủy
ban nhân dân cấp xã cử
Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 54
BLDS năm 2015, trong quá trình UBND cấp
xã nơi người chưa thành niên cứ trú cử người
giám hộ cho người chưa thành niên mà xảy
ra tranh chấp việc cử người giám hộ thì Tòa
Nếu người chưa thành niên không
còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha,
mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng
cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự;
40
Số 20(444) - T10/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
án sẽ chỉ định người giám hộ cho người chưa
thành niên.
2.3. Người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi
có nơi đăng ký thường trú và nơi thường
xuyên sinh sống khác nhau thì việc cử người
giám hộ cho họ thực hiện như thế nào?
2. Những khó khăn, vướng mắc trong
xác định người giám hộ của người chưa
thành niên
Theo quy định tại Điều 12 Luật Cư trú
năm 2006 thì nơi cư trú của công dân là nơi
thường trú hoặc nơi tạm trú. Nơi thường trú
là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn
định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất
định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú
là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký
thường trú và đã đăng ký tạm trú. Tuy nhiên,
trong thực tiễn có nhiều trường hợp người
tham gia tố tụng dưới 18 tuổi đăng ký thường
trú một nơi nhưng sinh sống một nơi (có đăng
ký hoặc không có đăng ký tạm trú). Như vậy,
trong trường hợp này, UBND cấp xã nơi
người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi đăng ký
thường trú hay nơi thường xuyên sinh sống
có trách nhiệm cử người giám hộ cho họ.
2.1. Thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đã
hết mà Tòa án chưa chỉ định người giám hộ
Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự có liên
quan đến người chưa thành niên cho thấy, có
trường hợp Tòa án phải chỉ định người giám
hộ cho người tham gia tố tụng là người dưới
18 tuổi nhưng thời hạn điều tra, truy tố, xét
xử đã hết. Vậy, trong trường hợp này, Tòa án
cần xử lý như thế nào? Về nguyên tắc, khi
thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đã hết, cơ
quan tiến hành tố tụng trong mỗi giai đoạn
điều tra, truy tố, xét xử sẽ tạm đình chỉ điều
tra hoặc tạm đình chỉ vụ án để chờ Tòa án
có thẩm quyền chỉ định người giám hộ cho
người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, đối chiếu quy định tại khoản 1
Điều 229, khoản 1 Điều 247 và khoản 1 Điều
281 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì
việc tạm đình chỉ điều tra hay tạm đình chỉ vụ
án không có trường hợp chờ Tòa án chỉ định
người giám hộ.
2.4. Tòa án chỉ định người giám hộ cho
người tham gia tố tụng chưa thành niên theo
trình tự, thủ tục nào?
Pháp luật hiện hành của nước ta trao cho
Tòa án chỉ định người giám hộ cho người
tham gia tố tụng chưa thành niên. Tuy nhiên,
không quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để
Tòa án thực hiện quyền chỉ định này. Bất cập
này gây khó khăn cho Tòa án trong việc chỉ
định người giám hộ cũng như trong xử lý
tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án
trong việc chỉ định người giám hộ.
2.2. Người nuôi dưỡng người chưa thành
niên từ nhỏ nhưng không làm thủ tục đăng ký
nhận con nuôi theo quy định pháp luật thì có
được làm người giám hộ đương nhiên không?
Theo quy định của BLDS năm 2015,
người giám hộ đương nhiên của người chưa
thành niên được xác định trước tiên là cha
mẹ đẻ, cha mẹ nuôi. Thực tiễn có trường hợp
người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi không
còn cha mẹ đẻ nhưng có người khác nhận
nuôi từ nhỏ. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn
bản nào quy định về việc người nuôi con nuôi
những không thực hiện việc đăng ký nhận
nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật
được làm người giám hộ đương nhiên của
người bị buộc tội dưới 18 tuổi. Điều này gây
khó khăn trong việc xác định người giám hộ
đương nhiên của người tham gia tố tụng dưới
18 tuổi trong một số vụ án hình sự hiện nay.
2.5. Thế nào là cha, mẹ đều không có điều
kiện chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của
BLDS năm 2015, người chưa thành niên có
cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều không có điều
kiện chăm sóc, giáo dục con thì có người
giám hộ đương nhiên. Tuy nhiên, thế nào là
cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc,
giáo dục con thì hiện nay pháp luật không
có quy định cụ thể. Đây cũng là khó khăn,
vướng mắc trong quá trình xác định người
giám hộ đương nhiên cho người tham gia tố
tụng dưới 18 tuổi
Số 20(444) - T10/2021
41
Bạn đang xem tài liệu "Bàn về người giám hộ trong tố tụng hình sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ban_ve_nguoi_giam_ho_trong_to_tung_hinh_su.pdf

