Căn cứ xác định phạm tội “trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”

CĂN CỨ XÁC ĐỊNH PHẠM TỘI...  
“TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH”  
TRẦN ĐÌNH HẢI*  
Trạng thái kích động mạnh là nội dung quan trọng được quy định là tình tiết định tội trong  
Bộ luật hình sự (BLHS). Tuy nhiên, trạng thái này không có một “mẫu số chung” để đánh giá,  
điều này dẫn đến những quan điểm còn chưa thống nhất, qua đó làm ảnh hưởng tới hiệu quả áp  
dụng trên thực tiễn. Bài viết phân tích về các căn cứ để đánh giá một hành vi gây thiệt hại cho  
người khác có được coi là trong “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” hay không.  
Từ khóa: Kích động mạnh, tinh thần, trạng thái tinh thần.  
Ngày nhận bài: 08/12/2020; Biên tập xong: 12/01/2021; Duyệt đăng: 28/01/2021  
The heat of passion is an important content defined as a criminal circumstance in the  
Penal Code. However, that status does not have a general definition for evaluation which  
leads to different opinions and application. The article analyzes the foundations for  
assessing whether an act of inflicting damage is “in the heat of passion” or not.  
Keywords: The heat of passion, mind, emotional state of mind.  
gày 09/9/2019, Chánh án trong việc đánh giá “trạng thái tinh thần  
bị kích động mạnh” để làm căn cứ xử lý  
vụ án được chính xác nhất.  
Tòa án nhân dân tối cao  
(TANDTC) ban hành Quyết  
N
định số 293/QĐ-CA về việc công bố Án  
lệ số 28/2019/AL về tội giết người trong  
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh  
đã được Hội đồng Thẩm phán TANDTC  
thông qua ngày 22/8/2019. Theo nội  
dung án lệ, bị hại đã có hành vi trái pháp  
luật là chửi bới, xâm phạm sự an toàn về  
thân thể của bị cáo, bị hại là người gây  
sự, tấn công bị cáo trước. Hành vi tấn  
công của bị hại diễn ra liên tục với mức  
độ tăng dần, làm cho bị cáo rơi vào trạng  
thái tinh thần bị kích động dẫn đến mất  
khả năng tự chủ, không nhận thức hết  
được tính chất và mức độ nguy hiểm của  
hành vi của mình, vì vậy bị cáo đã dùng  
dao đâm vào ngực bị hại nhằm thoát  
khỏi sự tấn công. Có thể nói, án lệ được  
ban hành đã giải quyết những lúng túng  
trong thực tiễn áp dụng với những vụ  
án có tình tiết tương tự. Tuy nhiên, thực  
tế các hành vi xâm phạm tính mạng, sức  
khỏe của người khác diễn ra rất đa dạng  
cả về diễn biến hành vi, thủ đoạn, tính  
chất nguy hiểm với nhiều biểu hiện tâm  
lý phong phú. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên  
cứu để có được sự tổng kết sâu sắc hơn  
Thực tiễn xét xử cũng cho thấy, việc  
phân biệt giữa hai cặp tội danh giết người  
với giết người trong trạng thái tinh thần  
bị kích động mạnh và cố ý gây thương  
tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác  
với cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại  
sức khỏe người khác trong trạng thái tinh  
thần bị kích động mạnh là rất khó khăn,  
phải dựa vào cảm quan đánh giá của  
người tiến hành tố tụng. Do đó, quá trình  
tố tụng hiện vẫn còn tồn tại tương đối  
nhiều quan điểm khác nhau.  
Theo quy định tại Điều 123, Điều  
135 BLHS năm 2015, để xác định trường hợp  
người phạm tội bị kích động mạnh về tinh  
thần do hành vi trái pháp luật của người bị  
hại gây ra phải căn cứ vào các yếu tố:  
+ Thứ nhất, phải có hành vi trái  
pháp luật nghiêm trọng của người bị hại.  
+ Thứ hai, hành vi trái pháp luật của  
người bị hại diễn ra đối với người phạm  
tội hoặc đối với người thân thích của  
người phạm tội.  
* Thạc sĩ, Khoa Tội phạm học và Điều tra Tội phạm,  
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  
23 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH PHẠM TỘI...  
+ Thứ ba, hành vi trái pháp luật của xảy ra trong chốc lát, sau đó tinh thần của  
người bị hại phải là nguyên nhân làm cho họ trở lại bình thường như trước; trạng  
người phạm tội bị kích động mạnh về thái tinh thần bị kích động ở những mức  
tinh thần.  
Vấn đề trạng thái tinh thần bị kích  
động mạnh trong BLHS đã được hướng  
dẫn lần đầu tiên tại điểm b Mục 1 Chương  
2 Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ  
ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm  
phán TANDTC, hướng dẫn áp dụng một  
độ khác nhau”1. Về phía bị hại, cũng cần  
xác định hành vi trái pháp luật đã tới  
mức nghiêm trọng hay chưa để qua đó  
đánh giá một cách toàn diện hệ quả tinh  
thần người phạm tội bị kích động mạnh  
hay không.  
Có thể thấy, trong đời sống xã hội, các  
số quy định trong phần các tội phạm của cá nhân có hoàn cảnh, điều kiện sống và  
BLHS. Theo đó, “Tình trạng tinh thần bị các yếu tố thuộc về bản thân khác nhau  
kích động là tình trạng người phạm tội không với những nhu cầu, lợi ích khác nhau.  
hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi Để thoả mãn nhu cầu, lợi ích của mình,  
phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động gắn với mỗi chủ thể lại có những phương  
mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp pháp, cách thức không giống nhau nhằm  
luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự đạt được mục đích ấy. Vì vậy, tinh thần  
phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nhưng một con người có bị rơi vào trạng thái  
cá biꢀt có trường hợp do hành vi trái pháp kích động mạnh hay không cũng không  
luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức có một “mẫu số chung” để đánh giá cho  
tương đối nꢁng nề, lꢁp đi lꢁp lại, sự kích động dù có thể cùng một biểu hiện làm phát  
đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành sinh nguyên nhân bị kích động. Do đó, để  
vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn đánh giá chính xác trạng thái tinh thần  
làm cho người bị kích động không tự kiềm chế của con người có bị kích động mạnh hay  
được; nếu tách riêng sự kích động mới này không cần xem xét một cách khách quan,  
thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu toàn diện về mọi mặt. Trong đó, cần đánh  
xét cả quá trình phát triển của sự viꢀc, thì lại giá tổng thể và xem xét kĩ mối liên hệ giữa  
được coi là mạnh hoꢁc rất mạnh”.  
các đặc điểm cụ thể sau đây:  
Dưới góc độ tâm lý, có thể lý giải cơ  
Thời gian, hoàn cảnh, địa điểm: Điều  
chế phát sinh hành vi phạm tội mà trong này thường được biểu hiện cụ thể bởi  
đó, “tinh thần bị kích động mạnh” là kết các hành vi trái pháp luật của nạn nhân  
quả của sự tác động qua lại giữa cả yếu tố gây ra vào dịp tết, các ngày lễ, ngày hiến  
bên ngoài và bên trong của người phạm chương, ngày tôn vinh liên quan trực tiếp  
tội. Theo đó, nguyên nhân gây kích động đến công việc, nghề nghiệp, sinh hoạt,  
có thể là khoảnh khắc bột phát, cũng có ngày giỗ chạp, ngày đoàn viên, sự kiện  
thể là cách hành vi lặp đi lặp lại, gây âm đón tiếp khách, những sự kiện đã được  
ỉ, tuy nhiên hệ quả của nó - “tinh thần bị người phạm tội chuẩn bị công phu, tốn  
kích động mạnh” dẫn đến “có hành vi nhiều công sức, tâm huyết hoặc xảy ra  
nhằm hả giận” lại chỉ là một trạng thái vào quãng thời gian mà người phạm tội  
mang tính nhất thời. Nói cách khác, tại đang phải trải qua nhiều áp lực, lo toan.  
thời điểm phạm tội, người đó không còn Địa điểm phạm tội có thể là nơi diễn ra  
nhận thức đầy đủ về hành vi của mình hành vi trái pháp luật của nạn nhân tại  
như lúc bình thường nhưng chưa mất những nơi tôn nghiêm, có ý nghĩa lớn,  
hẳn khả năng nhận thức. Lúc đó “họ mất trân trọng về tinh thần với người phạm  
khả năng tự chủ và không thấy hết được tội, nơi trước đó chưa hề xảy ra hành vi  
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội  
của hành vi của mình; trạng thái này chỉ  
1ꢀ  
Đinh Văn Quế, Bình luận BLHS năm 2015, phần  
các tội phạm, NXb Thông tin truyền thông, tr.46  
24 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
TRẦN ĐÌNH HẢI  
phi đạo đức, phi nhân tính như hành vi pháp luật nghiêm trọng. Thông thường,  
của nạn nhân… Ngoài ra, cần xem xét cả  
tính chất, mức độ và “loại” thiệt hại từ  
hành vi của nạn nhân đối với người phạm  
tội và người thân thích.  
Diễn biến của hành vi trái pháp luật  
nghiêm trọng của nạn nhân: Đó có thể là  
những hành vi bột phát gây bất ngờ, gây  
sốc, ức chế mạnh hoặc mang tính liên tục,  
đè nén, áp đảo, áp bức, ngược đãi người  
phạm tội và người thân thích.  
Nguyên nhân sâu xa và trực tiếp của sự  
viꢀc: Thường là các trường hợp bị hại vô cớ  
xâm hại, đê hèn, thái độ hống hách, trịch  
thượng, mỉa mai, vòi vĩnh trắng trợn, bất  
càng gần gũi về quan hệ hôn nhân, huyết  
thống, nuôi dưỡng hoặc giữa hai đối  
tượng có tình cảm thiêng liêng đặc biệt,  
chịu ơn sâu nặng hay người bị xâm hại là  
niềm tự hào, là hình mẫu về đạo đức, lối  
sống, nhân cách của người phạm tội thì  
mức độ bị kích động của người phạm tội  
sẽ càng cao nếu phải chứng kiến hành vi  
vi phạm pháp luật xảy ra với họ.  
Nhân thân người phạm tội: Thực tế cho  
thấy đối với mỗi con người, những chuẩn  
mực đạo đức xã hội sẽ tác động đến ý  
thức cá nhân, được cá nhân đó tiếp thu,  
hấp thụ, tu dưỡng, được nội tâm hoá và  
công, vô ơn, vô lễ, coi thường người phạm trở thành tri thức, tình cảm, nghĩa vụ,  
tội và những người thân thích.  
Mối quan hꢀ giữa nạn nhân với người  
phạm tội và mối quan hꢀ của chính người  
phạm tội với người thân thích bị xâm hại:  
trách nhiệm, đạo đức. Từ đó, mỗi người  
tự xây dựng phương châm ứng xử cho  
mình trong những điều kiện, hoàn cảnh  
cụ thể. Vì vậy, về nguyên tắc, người có  
nhân thân càng tốt thì biểu hiện bất bình  
với cái sai, cái vô lý, cái trái phép tắc càng  
rõ ràng, quyết liệt và mạnh mẽ. Bên cạnh  
đó, người có khí chất nóng nảy, tính tình  
ngay thẳng, bộc trực lại càng dễ bị kích  
động với các hành vi sai trái hơn người  
khác, người già cả, người ít kinh nghiệm  
sống cũng thường thiếu kiềm chế hơn với  
những điều “chướng tai gai mắt”, người  
bị bệnh tật cũng thường có tâm lý tự ti,  
chán chường, bồn chồn, bực bội và dễ bị  
kích động nếu xuất hiện sự vi phạm. Nói  
cách khác, việc gây thiệt hại về tính mạng,  
sức khỏe cho nạn nhân trong các trường  
hợp này xứng đáng được “cảm thông”  
hơn các trường hợp thông thường.  
Nghề nghiꢀp, uy tín, trình độ văn hóa,  
chính trị, tính cách, cá tính của mỗi bên: Có  
thể thấy, những quan niệm, quan điểm,  
tư tưởng đạo đức được truyền bá hết sức  
sâu rộng trong xã hội, bởi vậy, nó đã ăn  
sâu, bám rễ một cách chắc chắn trong mỗi  
người, chi phối hành động, thói quen của  
con người. Về biểu hiện cụ thể có thể thấy,  
người thâm niên công tác càng cao, gắn  
bó, tự hào về truyền thống nghề nghiệp  
Thứ nhất, về mối quan hệ giữa nạn nhân  
và người phạm tội, xét về nguyên tắc hai  
đối tượng này càng quan hệ gần gũi, huyết  
thống, trực hệ, đặc biệt khi nạn nhân có  
hành vi trái pháp luật (như vô lễ, chửi bới,  
ngược đãi, hành hạ…), lại là “hàng dưới”,  
“vai dưới” như con, cháu, chắt của chính  
người phạm tội… thì càng gây nên ức chế  
mạnh mẽ. Ngược lại, cũng cần xem xét kĩ  
các trường hợp người có hành vi trái pháp  
luật là ông, bà, cha, mẹ của người phạm tội.  
Lúc này, việc công nhận trạng thái tinh thần  
của người con, cháu có bị kích động mạnh  
hay không đòi hỏi phải khắt khe hơn trong  
việc đánh giá. Hơn nữa, trong các mối quan  
hệ này, hành vi trái pháp luật của nạn nhân  
trước đó càng hiếm xảy ra thì mức độ kích  
động đối với người phạm tội sẽ càng cao  
khi phải đối mặt. Ví dụ: Hai cha con thường  
xuyên cãi vã, mâu thuẫn thì sự kích động  
không thể so sánh với trường hợp người  
cha đột ngột bị người con mà bình thường  
đều có các biểu hiện ngoan ngoãn, hiếu thảo  
xúc phạm.  
Thứ hai, cũng cần xem xét đến mối  
quan hệ của người phạm tội và người thân  
thích của họ khi nạn nhân có hành vi trái hay bí mật nghề nghiệp càng nhiều thì  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 25  
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH PHẠM TỘI...  
nhu cầu bảo vệ danh dự nghề nghiệp càng gia trưởng cũng bị ảnh hưởng lớn và mang  
lớn. Người có uy tín, trọng danh dự cũng  
phản ứng mạnh mẽ hơn với các hành vi  
bôi nhọ, xúc phạm, xuyên tạc, thái độ vô lễ.  
Người có trình độ văn hóa cao lại có khả  
năng kiềm chế tốt hơn trước những tác  
động ngoại cảnh. Người vốn nền nã, bao  
dung, “dông dài” thường chỉ bị kích động  
đến mức phạm tội khi thực sự bản thân  
mình hoặc người thân thích bị xâm hại rất  
nghiêm trọng. Người được trải nghiệm  
qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau  
trong cuộc sống sẽ có khả năng tiết chế,  
điều chỉnh cảm xúc của mình hơn những  
người non trẻ. Người mang tư tưởng  
thù hận, ác cảm với đối tượng cụ thể sẽ  
thường trực suy nghĩ trả thù. Người có cá  
tính mạnh mẽ hay bình thản đều có cách  
xử lý riêng trong những trường hợp tính  
chất tương tự nhau. Người có trách nhiệm  
với những người xung quanh, với cộng  
đồng lại thường bị kích động mạnh hơn  
với các hành vi vô trách nhiệm, hành vi  
phản bội… Ví dụ: Một người chồng sống  
chung thủy, trách nhiệm, cảm thông, chia  
sẻ, có niềm tin tuyệt đối… phản ứng và  
“được phép” phản ứng với mức độ khác  
so với một người chồng vô trách nhiệm,  
lối sống buông thả, thường xuyên đánh  
đập, hành hạ vợ con khi chứng kiến cảnh  
vợ mình ngoại tình.  
tính tất yếu hơn về xu hướng thực hiện  
hành vi của mình. Ví dụ: Một tỷ phú khi  
phát hiện người lấy trộm của mình 10 triệu  
đồng mức độ bị kích động sẽ rất khác so  
với một người nghèo bị mất số tiền tương  
tự. Đặc biệt, có những trường hợp do sống  
ở nhiều quốc gia, nhiều địa bàn khác nhau  
nên hình thành tư tưởng về tuân thủ pháp  
luật khác nhau, dẫn đến hiểu biết về giới  
hạn xử sự của mình cũng khác nhau. Điều  
này có thể xuất phát từ quan niệm, pháp  
luật được quy định không giống, thậm chí  
trái ngược nhau giữa các quốc gia.  
Hoạt động xã hội và những biểu hiꢀn sau  
khi thực hiꢀn hành vi phạm tội: Được thể  
hiện ở sự tích cực tham gia vào các hoạt  
động xã hội, các mối quan hệ giao tiếp hay  
không để từ đó có thể đánh giá kỹ năng  
thích ứng với hoàn cảnh và các tác động  
khác. Bên cạnh đó, các biểu hiện về mặt  
tâm lý sau khi phạm tội như chủ thể có  
thấy thoả mãn, bằng lòng, hưng phấn hay  
ngược lại là sự ăn năn, ân hận, sợ hãi… để  
đánh giá trạng thái tinh thần.  
Tóm lại, để xác định trạng thái tinh  
thần bị kích động mạnh hay không, cần  
nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện  
tất cả các yếu tố và đánh giá thông qua cả  
cơ chế và những mối quan hệ giữa các yếu  
tố đó. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong  
việc đảm bảo tính chính xác của quá trình  
áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn.  
Để đánh giá chính xác hơn, tác giả đưa  
ra một số bình luận liên quan đến hành vi  
của đối tượng Lê Văn C trong bài “Lê Văn  
C có phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích  
động mạnh hay không?” của tác giả Lê Ngọc  
Hà, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 04/2020.  
Theo nội dung vụ việc, trước đó Lê Văn C  
và Lê Văn D đang điều khiển xe mô tô thì bị  
Trần Văn A và Trần Văn B đi xe máy đâm  
vào. Trong vụ tai nạn này lỗi thuộc về A và  
B, hậu quả xe của C và D bị vỡ yếm, C, D bị  
xây xát nhẹ. Hai bên ngay thời điểm đó có  
lao vào xô xát, tuy nhiên được mọi người  
Điều kiꢀn sống: Điều kiện sống, trong đó  
đặc biệt là điều kiện kinh tế - xã hội là yếu  
tố tác động rất mạnh mẽ đến hành vi con  
người, được biểu hiện thông qua lăng kính  
ý thức cá nhân của con người đó. Đây là  
các yếu tố quy định nguồn gốc, động lực,  
xu hướng của hành vi pháp luật và hành vi  
đạo đức. Do đó, giới hạn phản ứng của mỗi  
người sống trong những điều kiện khác  
nhau cũng sẽ không giống nhau dù xuất  
phát từ cùng biểu hiện làm phát sinh phản  
ứng. Về nguyên tắc, người sống trong điều  
kiện đầy đủ về vật chất, tinh thần khả năng  
kiềm chế thông thường cũng cao hơn so  
với các trường hợp khác. Người sống trong  
điều kiện khó khăn, lạc hậu, vùng sâu,  
vùng xa, nơi còn nhiều hủ tục, nếp sống can ngăn và hẹn nhau “sẽ gặp để tiếp tục  
26 Khoa học Kiểm sát Số 01 - 2021  
TRẦN ĐÌNH HẢI  
giải quyết”. Sau đó 30 phút, A, B vác dao hai phía đều có ý định gây thương tích cho  
đi tìm thì gặp C và D đã cầm mỗi người nhau, lúc này ảnh hưởng từ tình huống  
va chạm giao thông không còn mang tính  
quyết định tới việc gây thương tích “bằng  
mọi giá” cho đối phương mà chính từ thái  
độ thách thức khi gặp lại.  
trên tay 01 cán cuốc. A đã đuổi đánh C và  
chém 01 nhát sâu vào bả vai C (sau này kết  
quả giám định thương tật là 10%), sau đó  
A dừng lại không tiếp tục tấn công. C chạy  
lại phía D để kêu gọi sự trợ giúp, D thấy  
vậy dùng cán cuốc đánh 2 nhát trúng vào  
mặt A, A ngã xuống mặt dính nhiều máu,  
C chạy lại đạp vào mặt A. Tỷ lệ thương tật  
của A là 32%.  
Trong vụ án trên, Tòa án xét xử C về  
tội cố ý gây thương tích còn quan điểm  
của tác giả bài viết trên thì C phạm tội “Cố  
ý gây thương tích trong trạng thái tinh  
thần bị kích động mạnh”.  
Theo chúng tôi, trong vụ việc trên mặc  
dù trước đó giữa A, B và C, D đã có mâu  
thuẫn do va chạm xe, trong đó A, B là  
người có lỗi, hai bên không dàn xếp được,  
A, B không xin lỗi trước những thiệt hại  
của C, D. Tuy nhiên, sau khi được can  
ngăn, cả hai phía đều hẹn nhau sẽ gặp  
nhau để tiếp tục giải quyết, ở đây hoàn  
toàn hiểu được ý định của cả hai bên sẽ  
sẵn sàng giải quyết bằng “vũ lực”. Thực  
tế cũng cho thấy cả A, B, C, D đều chuẩn  
bị trước cho lần gặp lại này, trong đó A, B  
chuẩn bị dao dừa, còn C, D mang cán cuốc  
chủ động chờ A, B. Sau khi gặp nhau, lời  
qua tiếng lại, A đã đuổi đánh C và chém  
vào bả vai, sau khi chém trúng vai C, A  
đã dừng lại và không tấn công tiếp. Lúc  
này, C mới chạy lại nhờ sự trợ giúp của D.  
Do chứng kiến sự việc trên nên D đã dùng  
cán cuốc đánh mạnh vào mặt A. Không  
dừng lại ở đó, C sau khi thấy A thất thế,  
mặt chảy nhiều máu vẫn chạy đến đạp  
vào mặt A, kết quả tỷ lệ thương tật của A  
là 32%. Như vậy có thể thấy, mặc dù vụ  
việc xuất phát từ hành vi trái pháp luật  
của A, B do gây tai nạn, nhưng cả hai phía  
đã “thống nhất” cách giải quyết bằng vũ  
lực, đều có sự chuẩn bị sẵn cho việc gây  
thương tích cho người khác, nói cách khác  
đã có sự chuẩn bị và hình dung rõ cho các  
diễn biến tiếp theo. Do đó, lần gặp lại cả  
Mặt khác, diễn biến thực tế cũng cho  
thấy, sau khi chém vào bả vai C, A không  
tiếp tục tấn công nữa, C đủ thời gian để  
quay lại cầu cứu D, sau khi chứng kiến D  
vụt mạnh 02 nhát khiến A chảy máu mặt,  
ngã xuống, C tiếp tục chạy lại đạp mạnh  
vào mặt A. Trong khi về lý luận có thể  
nhận thấy, trạng thái tinh thần bị kích động  
mạnh là một trạng thái “tâm lý”, mang  
tính bột phát tại một thời điểm do không  
kiếm chế được cảm xúc, thông thường sau  
khi bị kích động sẽ trở lại tình trạng bình  
thường. Chính bởi là một trạng thái tâm lý  
nên phân tích nguyên nhân không chỉ dựa  
vào các diễn biến khách quan mà các bên  
chứng kiến được mà còn ảnh hưởng từ  
nhiều yếu tố tâm lý khác. Do đó, quá trình  
xác định chính xác trạng thái tâm lý này cần  
phải phân tích cả các biểu hiện khác như  
đặc điểm nhân thân, tính tình, diễn biến,  
tính chất sự việc trước đó, điều kiện sống,  
sinh hoạt, thậm chí trong hoạt động điều tra  
cần xác minh thêm về thái độ trong và cả  
sau khi thực hiện hành vi để đánh giá một  
cách chính xác nhất. Vì vậy, với những dữ  
kiện hạn chế của sự việc trên cho thấy việc C  
chủ động chờ A, B để “đánh nhau”, sau khi  
thoát khỏi sự khống chế, đủ thời gian kêu  
gọi sự trợ giúp, chứng kiến A đã bị đánh  
mạnh vào mặt, chảy máu, ngã xuống nhưng  
C vẫn tiếp tục chạy đến đạp vào mặt để “trả  
thù” gây nên thương tật nặng hơn rất nhiều  
choA. Do đó, theo quan điểm của chúng tôi,  
dưới cả góc độ tâm lý, tình huống trên thể  
hiện sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm sống,  
thậm chí “hiếu thắng” của các bên hơn là  
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo  
đúng nghĩa. Vì vậy, Tòa án xét xử cả A, B,  
C và D với tội danh cố ý gây thương tích là  
đúng người, đúng tội./.  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 27  
pdf 5 trang Thùy Anh 7400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Căn cứ xác định phạm tội “trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcan_cu_xac_dinh_pham_toi_trong_trang_thai_tinh_than_bi_kich.pdf