Căn cứ xác định phạm tội “trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH PHẠM TỘI...
“TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH”
TRẦN ĐÌNH HẢI*
Trạng thái kích động mạnh là nội dung quan trọng được quy định là tình tiết định tội trong
Bộ luật hình sự (BLHS). Tuy nhiên, trạng thái này không có một “mẫu số chung” để đánh giá,
điều này dẫn đến những quan điểm còn chưa thống nhất, qua đó làm ảnh hưởng tới hiệu quả áp
dụng trên thực tiễn. Bài viết phân tích về các căn cứ để đánh giá một hành vi gây thiệt hại cho
người khác có được coi là trong “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” hay không.
Từ khóa: Kích động mạnh, tinh thần, trạng thái tinh thần.
Ngày nhận bài: 08/12/2020; Biên tập xong: 12/01/2021; Duyệt đăng: 28/01/2021
The heat of passion is an important content defined as a criminal circumstance in the
Penal Code. However, that status does not have a general definition for evaluation which
leads to different opinions and application. The article analyzes the foundations for
assessing whether an act of inflicting damage is “in the heat of passion” or not.
Keywords: The heat of passion, mind, emotional state of mind.
gày 09/9/2019, Chánh án trong việc đánh giá “trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh” để làm căn cứ xử lý
vụ án được chính xác nhất.
Tòa án nhân dân tối cao
(TANDTC) ban hành Quyết
N
định số 293/QĐ-CA về việc công bố Án
lệ số 28/2019/AL về tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
đã được Hội đồng Thẩm phán TANDTC
thông qua ngày 22/8/2019. Theo nội
dung án lệ, bị hại đã có hành vi trái pháp
luật là chửi bới, xâm phạm sự an toàn về
thân thể của bị cáo, bị hại là người gây
sự, tấn công bị cáo trước. Hành vi tấn
công của bị hại diễn ra liên tục với mức
độ tăng dần, làm cho bị cáo rơi vào trạng
thái tinh thần bị kích động dẫn đến mất
khả năng tự chủ, không nhận thức hết
được tính chất và mức độ nguy hiểm của
hành vi của mình, vì vậy bị cáo đã dùng
dao đâm vào ngực bị hại nhằm thoát
khỏi sự tấn công. Có thể nói, án lệ được
ban hành đã giải quyết những lúng túng
trong thực tiễn áp dụng với những vụ
án có tình tiết tương tự. Tuy nhiên, thực
tế các hành vi xâm phạm tính mạng, sức
khỏe của người khác diễn ra rất đa dạng
cả về diễn biến hành vi, thủ đoạn, tính
chất nguy hiểm với nhiều biểu hiện tâm
lý phong phú. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên
cứu để có được sự tổng kết sâu sắc hơn
Thực tiễn xét xử cũng cho thấy, việc
phân biệt giữa hai cặp tội danh giết người
với giết người trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh và cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác
với cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
sức khỏe người khác trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh là rất khó khăn,
phải dựa vào cảm quan đánh giá của
người tiến hành tố tụng. Do đó, quá trình
tố tụng hiện vẫn còn tồn tại tương đối
nhiều quan điểm khác nhau.
Theo quy định tại Điều 123, Điều
135 BLHS năm 2015, để xác định trường hợp
người phạm tội bị kích động mạnh về tinh
thần do hành vi trái pháp luật của người bị
hại gây ra phải căn cứ vào các yếu tố:
+ Thứ nhất, phải có hành vi trái
pháp luật nghiêm trọng của người bị hại.
+ Thứ hai, hành vi trái pháp luật của
người bị hại diễn ra đối với người phạm
tội hoặc đối với người thân thích của
người phạm tội.
* Thạc sĩ, Khoa Tội phạm học và Điều tra Tội phạm,
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
23 Khoa học Kiểm sát
Số 01 - 2021
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH PHẠM TỘI...
+ Thứ ba, hành vi trái pháp luật của xảy ra trong chốc lát, sau đó tinh thần của
người bị hại phải là nguyên nhân làm cho họ trở lại bình thường như trước; trạng
người phạm tội bị kích động mạnh về thái tinh thần bị kích động ở những mức
tinh thần.
Vấn đề trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh trong BLHS đã được hướng
dẫn lần đầu tiên tại điểm b Mục 1 Chương
2 Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ
ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm
phán TANDTC, hướng dẫn áp dụng một
độ khác nhau”1. Về phía bị hại, cũng cần
xác định hành vi trái pháp luật đã tới
mức nghiêm trọng hay chưa để qua đó
đánh giá một cách toàn diện hệ quả tinh
thần người phạm tội bị kích động mạnh
hay không.
Có thể thấy, trong đời sống xã hội, các
số quy định trong phần các tội phạm của cá nhân có hoàn cảnh, điều kiện sống và
BLHS. Theo đó, “Tình trạng tinh thần bị các yếu tố thuộc về bản thân khác nhau
kích động là tình trạng người phạm tội không với những nhu cầu, lợi ích khác nhau.
hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi Để thoả mãn nhu cầu, lợi ích của mình,
phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động gắn với mỗi chủ thể lại có những phương
mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp pháp, cách thức không giống nhau nhằm
luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự đạt được mục đích ấy. Vì vậy, tinh thần
phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nhưng một con người có bị rơi vào trạng thái
cá biꢀt có trường hợp do hành vi trái pháp kích động mạnh hay không cũng không
luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức có một “mẫu số chung” để đánh giá cho
tương đối nꢁng nề, lꢁp đi lꢁp lại, sự kích động dù có thể cùng một biểu hiện làm phát
đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành sinh nguyên nhân bị kích động. Do đó, để
vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn đánh giá chính xác trạng thái tinh thần
làm cho người bị kích động không tự kiềm chế của con người có bị kích động mạnh hay
được; nếu tách riêng sự kích động mới này không cần xem xét một cách khách quan,
thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu toàn diện về mọi mặt. Trong đó, cần đánh
xét cả quá trình phát triển của sự viꢀc, thì lại giá tổng thể và xem xét kĩ mối liên hệ giữa
được coi là mạnh hoꢁc rất mạnh”.
các đặc điểm cụ thể sau đây:
Dưới góc độ tâm lý, có thể lý giải cơ
Thời gian, hoàn cảnh, địa điểm: Điều
chế phát sinh hành vi phạm tội mà trong này thường được biểu hiện cụ thể bởi
đó, “tinh thần bị kích động mạnh” là kết các hành vi trái pháp luật của nạn nhân
quả của sự tác động qua lại giữa cả yếu tố gây ra vào dịp tết, các ngày lễ, ngày hiến
bên ngoài và bên trong của người phạm chương, ngày tôn vinh liên quan trực tiếp
tội. Theo đó, nguyên nhân gây kích động đến công việc, nghề nghiệp, sinh hoạt,
có thể là khoảnh khắc bột phát, cũng có ngày giỗ chạp, ngày đoàn viên, sự kiện
thể là cách hành vi lặp đi lặp lại, gây âm đón tiếp khách, những sự kiện đã được
ỉ, tuy nhiên hệ quả của nó - “tinh thần bị người phạm tội chuẩn bị công phu, tốn
kích động mạnh” dẫn đến “có hành vi nhiều công sức, tâm huyết hoặc xảy ra
nhằm hả giận” lại chỉ là một trạng thái vào quãng thời gian mà người phạm tội
mang tính nhất thời. Nói cách khác, tại đang phải trải qua nhiều áp lực, lo toan.
thời điểm phạm tội, người đó không còn Địa điểm phạm tội có thể là nơi diễn ra
nhận thức đầy đủ về hành vi của mình hành vi trái pháp luật của nạn nhân tại
như lúc bình thường nhưng chưa mất những nơi tôn nghiêm, có ý nghĩa lớn,
hẳn khả năng nhận thức. Lúc đó “họ mất trân trọng về tinh thần với người phạm
khả năng tự chủ và không thấy hết được tội, nơi trước đó chưa hề xảy ra hành vi
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi của mình; trạng thái này chỉ
1ꢀ
Đinh Văn Quế, Bình luận BLHS năm 2015, phần
các tội phạm, NXb Thông tin truyền thông, tr.46
24 Khoa học Kiểm sát
Số 01 - 2021
TRẦN ĐÌNH HẢI
phi đạo đức, phi nhân tính như hành vi pháp luật nghiêm trọng. Thông thường,
của nạn nhân… Ngoài ra, cần xem xét cả
tính chất, mức độ và “loại” thiệt hại từ
hành vi của nạn nhân đối với người phạm
tội và người thân thích.
Diễn biến của hành vi trái pháp luật
nghiêm trọng của nạn nhân: Đó có thể là
những hành vi bột phát gây bất ngờ, gây
sốc, ức chế mạnh hoặc mang tính liên tục,
đè nén, áp đảo, áp bức, ngược đãi người
phạm tội và người thân thích.
Nguyên nhân sâu xa và trực tiếp của sự
viꢀc: Thường là các trường hợp bị hại vô cớ
xâm hại, đê hèn, thái độ hống hách, trịch
thượng, mỉa mai, vòi vĩnh trắng trợn, bất
càng gần gũi về quan hệ hôn nhân, huyết
thống, nuôi dưỡng hoặc giữa hai đối
tượng có tình cảm thiêng liêng đặc biệt,
chịu ơn sâu nặng hay người bị xâm hại là
niềm tự hào, là hình mẫu về đạo đức, lối
sống, nhân cách của người phạm tội thì
mức độ bị kích động của người phạm tội
sẽ càng cao nếu phải chứng kiến hành vi
vi phạm pháp luật xảy ra với họ.
Nhân thân người phạm tội: Thực tế cho
thấy đối với mỗi con người, những chuẩn
mực đạo đức xã hội sẽ tác động đến ý
thức cá nhân, được cá nhân đó tiếp thu,
hấp thụ, tu dưỡng, được nội tâm hoá và
công, vô ơn, vô lễ, coi thường người phạm trở thành tri thức, tình cảm, nghĩa vụ,
tội và những người thân thích.
Mối quan hꢀ giữa nạn nhân với người
phạm tội và mối quan hꢀ của chính người
phạm tội với người thân thích bị xâm hại:
trách nhiệm, đạo đức. Từ đó, mỗi người
tự xây dựng phương châm ứng xử cho
mình trong những điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể. Vì vậy, về nguyên tắc, người có
nhân thân càng tốt thì biểu hiện bất bình
với cái sai, cái vô lý, cái trái phép tắc càng
rõ ràng, quyết liệt và mạnh mẽ. Bên cạnh
đó, người có khí chất nóng nảy, tính tình
ngay thẳng, bộc trực lại càng dễ bị kích
động với các hành vi sai trái hơn người
khác, người già cả, người ít kinh nghiệm
sống cũng thường thiếu kiềm chế hơn với
những điều “chướng tai gai mắt”, người
bị bệnh tật cũng thường có tâm lý tự ti,
chán chường, bồn chồn, bực bội và dễ bị
kích động nếu xuất hiện sự vi phạm. Nói
cách khác, việc gây thiệt hại về tính mạng,
sức khỏe cho nạn nhân trong các trường
hợp này xứng đáng được “cảm thông”
hơn các trường hợp thông thường.
Nghề nghiꢀp, uy tín, trình độ văn hóa,
chính trị, tính cách, cá tính của mỗi bên: Có
thể thấy, những quan niệm, quan điểm,
tư tưởng đạo đức được truyền bá hết sức
sâu rộng trong xã hội, bởi vậy, nó đã ăn
sâu, bám rễ một cách chắc chắn trong mỗi
người, chi phối hành động, thói quen của
con người. Về biểu hiện cụ thể có thể thấy,
người thâm niên công tác càng cao, gắn
bó, tự hào về truyền thống nghề nghiệp
Thứ nhất, về mối quan hệ giữa nạn nhân
và người phạm tội, xét về nguyên tắc hai
đối tượng này càng quan hệ gần gũi, huyết
thống, trực hệ, đặc biệt khi nạn nhân có
hành vi trái pháp luật (như vô lễ, chửi bới,
ngược đãi, hành hạ…), lại là “hàng dưới”,
“vai dưới” như con, cháu, chắt của chính
người phạm tội… thì càng gây nên ức chế
mạnh mẽ. Ngược lại, cũng cần xem xét kĩ
các trường hợp người có hành vi trái pháp
luật là ông, bà, cha, mẹ của người phạm tội.
Lúc này, việc công nhận trạng thái tinh thần
của người con, cháu có bị kích động mạnh
hay không đòi hỏi phải khắt khe hơn trong
việc đánh giá. Hơn nữa, trong các mối quan
hệ này, hành vi trái pháp luật của nạn nhân
trước đó càng hiếm xảy ra thì mức độ kích
động đối với người phạm tội sẽ càng cao
khi phải đối mặt. Ví dụ: Hai cha con thường
xuyên cãi vã, mâu thuẫn thì sự kích động
không thể so sánh với trường hợp người
cha đột ngột bị người con mà bình thường
đều có các biểu hiện ngoan ngoãn, hiếu thảo
xúc phạm.
Thứ hai, cũng cần xem xét đến mối
quan hệ của người phạm tội và người thân
thích của họ khi nạn nhân có hành vi trái hay bí mật nghề nghiệp càng nhiều thì
Số 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 25
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH PHẠM TỘI...
nhu cầu bảo vệ danh dự nghề nghiệp càng gia trưởng cũng bị ảnh hưởng lớn và mang
lớn. Người có uy tín, trọng danh dự cũng
phản ứng mạnh mẽ hơn với các hành vi
bôi nhọ, xúc phạm, xuyên tạc, thái độ vô lễ.
Người có trình độ văn hóa cao lại có khả
năng kiềm chế tốt hơn trước những tác
động ngoại cảnh. Người vốn nền nã, bao
dung, “dông dài” thường chỉ bị kích động
đến mức phạm tội khi thực sự bản thân
mình hoặc người thân thích bị xâm hại rất
nghiêm trọng. Người được trải nghiệm
qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau
trong cuộc sống sẽ có khả năng tiết chế,
điều chỉnh cảm xúc của mình hơn những
người non trẻ. Người mang tư tưởng
thù hận, ác cảm với đối tượng cụ thể sẽ
thường trực suy nghĩ trả thù. Người có cá
tính mạnh mẽ hay bình thản đều có cách
xử lý riêng trong những trường hợp tính
chất tương tự nhau. Người có trách nhiệm
với những người xung quanh, với cộng
đồng lại thường bị kích động mạnh hơn
với các hành vi vô trách nhiệm, hành vi
phản bội… Ví dụ: Một người chồng sống
chung thủy, trách nhiệm, cảm thông, chia
sẻ, có niềm tin tuyệt đối… phản ứng và
“được phép” phản ứng với mức độ khác
so với một người chồng vô trách nhiệm,
lối sống buông thả, thường xuyên đánh
đập, hành hạ vợ con khi chứng kiến cảnh
vợ mình ngoại tình.
tính tất yếu hơn về xu hướng thực hiện
hành vi của mình. Ví dụ: Một tỷ phú khi
phát hiện người lấy trộm của mình 10 triệu
đồng mức độ bị kích động sẽ rất khác so
với một người nghèo bị mất số tiền tương
tự. Đặc biệt, có những trường hợp do sống
ở nhiều quốc gia, nhiều địa bàn khác nhau
nên hình thành tư tưởng về tuân thủ pháp
luật khác nhau, dẫn đến hiểu biết về giới
hạn xử sự của mình cũng khác nhau. Điều
này có thể xuất phát từ quan niệm, pháp
luật được quy định không giống, thậm chí
trái ngược nhau giữa các quốc gia.
Hoạt động xã hội và những biểu hiꢀn sau
khi thực hiꢀn hành vi phạm tội: Được thể
hiện ở sự tích cực tham gia vào các hoạt
động xã hội, các mối quan hệ giao tiếp hay
không để từ đó có thể đánh giá kỹ năng
thích ứng với hoàn cảnh và các tác động
khác. Bên cạnh đó, các biểu hiện về mặt
tâm lý sau khi phạm tội như chủ thể có
thấy thoả mãn, bằng lòng, hưng phấn hay
ngược lại là sự ăn năn, ân hận, sợ hãi… để
đánh giá trạng thái tinh thần.
Tóm lại, để xác định trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh hay không, cần
nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện
tất cả các yếu tố và đánh giá thông qua cả
cơ chế và những mối quan hệ giữa các yếu
tố đó. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong
việc đảm bảo tính chính xác của quá trình
áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn.
Để đánh giá chính xác hơn, tác giả đưa
ra một số bình luận liên quan đến hành vi
của đối tượng Lê Văn C trong bài “Lê Văn
C có phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh hay không?” của tác giả Lê Ngọc
Hà, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 04/2020.
Theo nội dung vụ việc, trước đó Lê Văn C
và Lê Văn D đang điều khiển xe mô tô thì bị
Trần Văn A và Trần Văn B đi xe máy đâm
vào. Trong vụ tai nạn này lỗi thuộc về A và
B, hậu quả xe của C và D bị vỡ yếm, C, D bị
xây xát nhẹ. Hai bên ngay thời điểm đó có
lao vào xô xát, tuy nhiên được mọi người
Điều kiꢀn sống: Điều kiện sống, trong đó
đặc biệt là điều kiện kinh tế - xã hội là yếu
tố tác động rất mạnh mẽ đến hành vi con
người, được biểu hiện thông qua lăng kính
ý thức cá nhân của con người đó. Đây là
các yếu tố quy định nguồn gốc, động lực,
xu hướng của hành vi pháp luật và hành vi
đạo đức. Do đó, giới hạn phản ứng của mỗi
người sống trong những điều kiện khác
nhau cũng sẽ không giống nhau dù xuất
phát từ cùng biểu hiện làm phát sinh phản
ứng. Về nguyên tắc, người sống trong điều
kiện đầy đủ về vật chất, tinh thần khả năng
kiềm chế thông thường cũng cao hơn so
với các trường hợp khác. Người sống trong
điều kiện khó khăn, lạc hậu, vùng sâu,
vùng xa, nơi còn nhiều hủ tục, nếp sống can ngăn và hẹn nhau “sẽ gặp để tiếp tục
26 Khoa học Kiểm sát Số 01 - 2021
TRẦN ĐÌNH HẢI
giải quyết”. Sau đó 30 phút, A, B vác dao hai phía đều có ý định gây thương tích cho
đi tìm thì gặp C và D đã cầm mỗi người nhau, lúc này ảnh hưởng từ tình huống
va chạm giao thông không còn mang tính
quyết định tới việc gây thương tích “bằng
mọi giá” cho đối phương mà chính từ thái
độ thách thức khi gặp lại.
trên tay 01 cán cuốc. A đã đuổi đánh C và
chém 01 nhát sâu vào bả vai C (sau này kết
quả giám định thương tật là 10%), sau đó
A dừng lại không tiếp tục tấn công. C chạy
lại phía D để kêu gọi sự trợ giúp, D thấy
vậy dùng cán cuốc đánh 2 nhát trúng vào
mặt A, A ngã xuống mặt dính nhiều máu,
C chạy lại đạp vào mặt A. Tỷ lệ thương tật
của A là 32%.
Trong vụ án trên, Tòa án xét xử C về
tội cố ý gây thương tích còn quan điểm
của tác giả bài viết trên thì C phạm tội “Cố
ý gây thương tích trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh”.
Theo chúng tôi, trong vụ việc trên mặc
dù trước đó giữa A, B và C, D đã có mâu
thuẫn do va chạm xe, trong đó A, B là
người có lỗi, hai bên không dàn xếp được,
A, B không xin lỗi trước những thiệt hại
của C, D. Tuy nhiên, sau khi được can
ngăn, cả hai phía đều hẹn nhau sẽ gặp
nhau để tiếp tục giải quyết, ở đây hoàn
toàn hiểu được ý định của cả hai bên sẽ
sẵn sàng giải quyết bằng “vũ lực”. Thực
tế cũng cho thấy cả A, B, C, D đều chuẩn
bị trước cho lần gặp lại này, trong đó A, B
chuẩn bị dao dừa, còn C, D mang cán cuốc
chủ động chờ A, B. Sau khi gặp nhau, lời
qua tiếng lại, A đã đuổi đánh C và chém
vào bả vai, sau khi chém trúng vai C, A
đã dừng lại và không tấn công tiếp. Lúc
này, C mới chạy lại nhờ sự trợ giúp của D.
Do chứng kiến sự việc trên nên D đã dùng
cán cuốc đánh mạnh vào mặt A. Không
dừng lại ở đó, C sau khi thấy A thất thế,
mặt chảy nhiều máu vẫn chạy đến đạp
vào mặt A, kết quả tỷ lệ thương tật của A
là 32%. Như vậy có thể thấy, mặc dù vụ
việc xuất phát từ hành vi trái pháp luật
của A, B do gây tai nạn, nhưng cả hai phía
đã “thống nhất” cách giải quyết bằng vũ
lực, đều có sự chuẩn bị sẵn cho việc gây
thương tích cho người khác, nói cách khác
đã có sự chuẩn bị và hình dung rõ cho các
diễn biến tiếp theo. Do đó, lần gặp lại cả
Mặt khác, diễn biến thực tế cũng cho
thấy, sau khi chém vào bả vai C, A không
tiếp tục tấn công nữa, C đủ thời gian để
quay lại cầu cứu D, sau khi chứng kiến D
vụt mạnh 02 nhát khiến A chảy máu mặt,
ngã xuống, C tiếp tục chạy lại đạp mạnh
vào mặt A. Trong khi về lý luận có thể
nhận thấy, trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh là một trạng thái “tâm lý”, mang
tính bột phát tại một thời điểm do không
kiếm chế được cảm xúc, thông thường sau
khi bị kích động sẽ trở lại tình trạng bình
thường. Chính bởi là một trạng thái tâm lý
nên phân tích nguyên nhân không chỉ dựa
vào các diễn biến khách quan mà các bên
chứng kiến được mà còn ảnh hưởng từ
nhiều yếu tố tâm lý khác. Do đó, quá trình
xác định chính xác trạng thái tâm lý này cần
phải phân tích cả các biểu hiện khác như
đặc điểm nhân thân, tính tình, diễn biến,
tính chất sự việc trước đó, điều kiện sống,
sinh hoạt, thậm chí trong hoạt động điều tra
cần xác minh thêm về thái độ trong và cả
sau khi thực hiện hành vi để đánh giá một
cách chính xác nhất. Vì vậy, với những dữ
kiện hạn chế của sự việc trên cho thấy việc C
chủ động chờ A, B để “đánh nhau”, sau khi
thoát khỏi sự khống chế, đủ thời gian kêu
gọi sự trợ giúp, chứng kiến A đã bị đánh
mạnh vào mặt, chảy máu, ngã xuống nhưng
C vẫn tiếp tục chạy đến đạp vào mặt để “trả
thù” gây nên thương tật nặng hơn rất nhiều
choA. Do đó, theo quan điểm của chúng tôi,
dưới cả góc độ tâm lý, tình huống trên thể
hiện sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm sống,
thậm chí “hiếu thắng” của các bên hơn là
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo
đúng nghĩa. Vì vậy, Tòa án xét xử cả A, B,
C và D với tội danh cố ý gây thương tích là
đúng người, đúng tội./.
Số 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 27
Bạn đang xem tài liệu "Căn cứ xác định phạm tội “trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
can_cu_xac_dinh_pham_toi_trong_trang_thai_tinh_than_bi_kich.pdf

