Quyền của chủ tịch nước trong ân giảm án tử hình và đặc xá
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC
TRONG ÂN GIẢM ÁN TỬ HÌNH VÀ ĐẶC XÁ
Lê Duy Tường
ThS. Vụ Pháp luật, Văn phòng Chủ tịch nước.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Chủ tịch nước, ân giảm
án tử hình, đặc xá.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày làm rõ vai trò, thẩm quyền
của Chủ tịch nước trong ân giảm án tử hình và đặc xá theo quy định của
Hiến pháp năm 2013 và pháp luật hiện hành nhằm góp phần tạo nhận
thức thống nhất về ân giảm án tử hình và đặc xá.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 20/01/2021
: 18/02/2021
: 23/02/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: President, death
penalty remission, amnesty.
This article provides clarification of the role and authority of the Presi-
dent in the death penalty parole and special amnesty in accordance with
the Constitution of 2013 and the current law, on that basis, the unified
understanding of the death penalty remission pictures and amnesty.
History:
Received
Edited
: 20 Jan. 2021
: 18 Feb. 2021
: 23 Feb. 2021
Approved
1. Quyền của Chủ tịch nước trong ân giảm
án tử hình và đặc xá
phạt tử hình như sau: 1. Sau khi bản án tử
hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải
được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân
dân (TAND) tối cao và bản án phải được
gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân (VKSND) tối cao. Trong thời hạn
hai tháng, kể từ ngày nhận được bản án và
hồ sơ vụ án, Chánh án TAND tối cao, Viện
trưởng VKSND tối cao phải quyết định
kháng nghị hoặc quyết định không kháng
nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong
thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án có hiệu
lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn
xin ân giảm lên Chủ tịch nước; 2. Bản án tử
hình được thi hành, nếu Chánh án TAND tối
cao và Viện trưởng VKSND tối cao không
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm. Trong trường hợp bản án tử hình
bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm,
Hội đồng tái thẩm TAND tối cao quyết định
Ân giảm án tử hình là thẩm quyền của
Chủ tịch nước giảm hình phạt tử hình theo
bản án đã có hiệu lực pháp luật xuống tù
chung thân theo quy định của pháp luật,
thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước
ta đối với những người phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng, mở ra cho những người này
khả năng ăn năn hối cải, cải tạo, giáo dục
trở thành người có ích cho xã hội. Theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS)
năm 2015, trong thời hạn 7 ngày kể từ khi
bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết
án tử hình được gửi đơn xin ân giảm án tử
hình lên Chủ tịch nước. Nếu được ân giảm
thì hình phạt tử hình được giảm xuống tù
chung thân. Nếu đơn xin ân giảm bị bác thì
bản án tử hình được thi hành.
Điều 258 Bộ luật TTHS năm 2015 quy
định trường hợp được ân giảm đối với hình
12
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên
bản án tử hình, thì TAND tối cao phải thông
báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm
đơn xin ân giảm án tử hình. Trong trường
hợp người bị kết án xin ân giảm hình phạt
tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau
khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm.
được giảm xuống tù có thời hạn, đồng thời
khuyến khích họ ăn năn hối cải, tích cực
học tập, lao động cải tạo để được hưởng sự
khoan hồng của Nhà nước, trở thành người
có ích cho xã hội. Xét về bản chất, đặc xá là
biện pháp khoan hồng của Nhà nước miễn
toàn bộ hoặc một phần hình phạt
Khoản 3 Điều 88 Hiến pháp năm 2013
quy định rõ, Chủ tịch nước quyết định đặc
xá… Việc Chủ tịch nước quyết định đặc xá
có tác động xã hội to lớn, là động lực để
người bị kết án phạt tù nỗ lực học tập, rèn
luyện, lao động, phấn đấu cải tạo tốt hơn;
đồng thời, tạo sự đồng thuận, ủng hộ từ gia
đình người bị kết án cũng như mọi tầng lớp
nhân dân.
Trong trường hợp người bị kết án tử hình
được ân giảm, theo quy định của Điều 35 Bộ
luật Hình sự (BLHS) năm 2015 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều năm 2017 (BLHS
năm 2015), hình phạt tử hình chuyển thành tù
chung thân. Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 bổ
sung trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên:
“Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm
hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp
quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều
40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành
hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm
và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải
bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt
là 30 năm” (khoản 6 Điều 63). Như vậy, có
thể thấy rằng, mặc dù BLHS năm 2015 cho
phép người bị kết án tử hình được ân giảm
tiếp tục được xét giảm, nhưng điều kiện để xét
giảm án của những người này chặt chẽ hơn
so với người bị kết án tù chung thân khác, đó
là: thời gian đã chấp hành hình phạt để được
xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm
nhiều lần thì vẫn phải bảo đảm thời hạn thực
tế chấp hành hình phạt là 30 năm.
2. Thực trạng ân giảm án tử hình và đặc xá
Việc đặc xá, tha tù trước thời hạn được
xem xét thận trọng, khách quan, dân chủ,
đúng quy định. Kết quả thực hiện các đợt
đặc xá trong thời gian qua được nhân dân
trong nước đồng tình, dư luận thế giới hoan
nghênh và đánh giá cao về tính nhân đạo,
chính sách khoan hồng, tính công khai và
minh bạch trong chủ trương cũng như trong
quá trình thực hiện. Nhìn chung, công tác
đặc xá đã có tác dụng giáo dục, góp phần bảo
đảm trật tự an toàn xã hội. Thực hiện chính
sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà
nước ta, trong giai đoạn 2016 -2021, căn cứ
Luật Đặc xá, nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh
02/9/2016, Chủ tịch nước quyết định đặc xá
tha tù trước thời hạn cho 4.384 phạm nhân,
trong đó: 4.180 phạm nhân đang chấp hành
án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam1.
Quy định trên đây thể hiện sâu sắc tính nhân
đạo, dân chủ, ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta;
chú ý đến những đặc điểm, sinh lý của người
chưa thành niên và phụ nữ có thai, phụ nữ đang
nuôi con nhỏ, ảnh hưởng của những đặc điểm
đó đến khả năng nhận thức và điều khiển hành
vi của họ thời điểm phạm tội.
Công tác xét đơn xin ân giảm án tử hình
là vấn đề liên quan đến sinh mệnh của con
người và tính nghiêm minh của pháp luật; vì
vậy, việc xét đơn xin ân giảm án tử hình được
thực hiện hết sức thận trọng. Đối với những
vụ án phức tạp, dư luận xã hội quan tâm
Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của
Nhà nước đối với người phạm tội bị kết
án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã
1 Báo cáo số 01/BC-CTN, ngày 12/3/2021 của Chủ tịch nước về tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016 - 2021 của
Chủ tịch nước, tr. 7.
Số 06(430) - T3/2021
13
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
thì ngoài việc xem xét, cân nhắc ý kiến của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ
tịch nước còn yêu cầu Văn phòng Chủ tịch
nước cử tổ công tác về địa phương nơi xảy ra
vụ án hoặc nơi đăng ký thường trú của người
phạm tội, phối hợp nắm thêm dư luận xã hội
và ý kiến của cấp ủy Đảng, chính quyền,
đoàn thể tại địa phương để báo cáo Chủ tịch
nước xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi
quyết định. Nhiệm kỳ vừa qua, việc thực
hiện thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi
thi hành, xét đơn xin ân giảm án tử hình và
thi hành án tử hình theo quy định của pháp
luật còn gặp khó khăn do số lượng người bị
kết án tử hình tăng nhanh. Trong nhiệm kỳ
2016 - 2021, Chủ tịch nước đã quyết định
bác đơn xin ân giảm của 295 bị án; quyết
định ân giảm án tử hình xuống tù chung thân
cho 94 bị án, gửi trả 23 hồ sơ về Tòa án nhân
dân tối cao để xem xét, giải quyết theo thẩm
quyền vì người phạm tội không viết đơn xin
ân giảm án tử hình mà chỉ viết đơn kêu oan,
đơn xin thi hành án2.
bản án kết án tử hình có hiệu lực pháp luật,
TAND tối cao và VKSND tối cao phải xem
xét có kháng nghị hay không. Thời hạn xem
xét quyết định việc kháng nghị là 2 tháng.
Đồng thời, cũng trong thời hạn 7 ngày
kể từ ngày bản án kết án tử hình có hiệu lực
pháp luật, người bị kết án có quyền gửi đơn
xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nước.
Như vậy, thủ tục xem xét để kháng nghị
giám đốc thẩm đối với bản án tử hình và thủ
tục xét ân giảm bản án tử hình là hai thủ tục
độc lập, cùng được xác định trong thời hạn
tính từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp
luật, không phải là hai thủ tục tiếp nối nhau.
Mặt khác, việc xem xét, quyết định kháng
nghị của chủ thể có thẩm quyền là một hoạt
động tố tụng, với đối tượng xem xét là bản
án đã có hiệu lực pháp luật, dựa trên những
căn cứ pháp lý được quy định cụ thể trong
Bộ luật TTHS. Trong khi đó, việc xem xét
cho ân giảm án tử hình của Chủ tịch nước là
thủ tục hành chính, trên tinh thần nhân đạo,
khoan hồng, với đối tượng xem xét là người
đã bị kết án (tử hình). Hai thủ tục này khác
nhau hoàn toàn về tính chất và đối tượng,
do đó không có tính loại trừ nhau. Vì vậy,
thủ tục xét ân giảm án tử hình không phải
là thủ tục cuối cùng trước khi đưa người
bị kết án ra thi hành nên không thể loại trừ
hoàn toàn các hoạt động tố tụng, ví như việc
kháng nghị giám đốc thẩm.
3. Một số vấn đề đặt ra
Mặc dù ân giảm án tử hình và đặc xá thể
hiện rất rõ vai trò, thẩm quyền của Chủ tịch
nước, nhưng trong thực tiễn tố tụng trong
thời gian vừa qua, còn có sự nhận thức chưa
thống nhất về các thủ tục này, đặc biệt là ân
giảm án tử hình, cụ thể:
Theo quy định của Bộ luật THHS và
Luật Thi hành án hình sự, thủ tục xét ân
giảm đối với người bị kết án tử hình là một
thủ tục nằm trong giai đoạn thi hành án. Tuy
nhiên, không phải trong giai đoạn thi hành
án thì mọi hoạt động tố tụng đối với vụ án
đó sẽ bị triệt tiêu, bởi lẽ:
Thứ hai, về cơ sở lý luận, trong giai đoạn
thi hành án, cụ thể là thi hành bản án tử hình,
một số hoạt động tố tụng vẫn có thể được
thực hiện. Ví dụ, Hội đồng thi hành án tử
hình có thể ra quyết định tạm hoãn thi hành
án nếu ngay trước khi thi hành án, người bị
kết án tử hình khai báo những tình tiết mới
về tội phạm, hoặc người bị kết án tử hình
thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều
40 BLHS năm 2015. Trong các trường hợp
Thứ nhất, về căn cứ pháp lý, theo Điều
367 Bộ luật TTHS về thủ tục xem xét bản
án tử hình trước khi thi hành thì sau khi
2 Báo cáo số 01/BC-CTN, ngày 12/3/2021 của Chủ tịch nước về tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016 - 2021 của
Chủ tịch nước, tr. 7.
14
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đó, một số quyết định tố tụng mới sẽ được
ban hành như quyết định kháng nghị giám
đốc thẩm, tái thẩm, quyết định chuyển bản
án tử hình thành hình phạt tù chung thân…
Như vậy, có thể thấy rằng, quyết định bác
đơn xin ân giảm hình phạt tử hình của Chủ
tịch nước không triệt tiêu các hoạt động tố
tụng khác của chủ thể tiến hành tố tụng, nếu
căn cứ của các hoạt động đó mới xuất hiện
hoặc vẫn tồn tại trong vụ án.
kiện nào là sự kiện trọng đại của đất nước.
Tác giả cho rằng, để xác định sự kiện trọng
đại của đất nước, cần quy định cụ thể tiêu
chí xác định sự kiện trọng đại làm cơ sở
cho Chủ tịch nước quyết định đặc xá. Điều
này góp phần bảo đảm tính công khai, minh
bạch và thống nhất khi áp dụng chế định
đặc xá đối với người bị kết án phạt tù có
thời hạn, tù chung thân, đồng thời tạo thuận
lợi cho các cơ quan chuyên môn trong quá
trình triển khai áp dụng.
Thứ ba, về căn cứ thực tế, trong vụ án
Hồ Duy Hải, mặc dù Chủ tịch nước đã từng
bác đơn xin ân giảm đối với người bị kết án
nhưng tại nhiều thời điểm sau đó, Chủ tịch
nước cũng có ý kiến tạm dừng việc thi hành
tử hình hoặc yêu cầu Chánh án TAND tối
cao, Viện trưởng VKSND tối cao xem xét,
làm rõ và quyết định theo thẩm quyền nhằm
đảm bảo việc kết án tử hình là đúng quy
định của pháp luật. Như vậy, thực tế giải
quyết vụ án cho thấy, Chủ tịch nước cũng
đã có ý kiến để Viện trưởng VKSND tối cao
xem xét lại vụ án theo thẩm quyền.
Hai là, theo quy định của Điều 66 BLHS
năm 2015, người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ
trong thời gian thử thách. Nếu trong thời
gian thử thách họ vi phạm nghĩa vụ từ 2 lần
trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính
2 lần trở lên thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối
với người đó và buộc họ phải chấp hành
phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành;
trường hợp phạm tội mới trong thời gian
thử thách, Tòa án buộc người đó chấp hành
hình phạt của bản án mới và tổng hợp với
phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản
án trước. Quy định này vừa thể hiện tính
nghiêm minh của luật pháp, vừa có tính răn
đe đối với người bị phạm tội. Tuy nhiên,
người được đặc xá lại không phải chịu thời
gian thử thách như người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện. Chính điều này đã
làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật
và phần nào tạo nên sự không đồng thuận
của một bộ phận quần chúng nhân dân. Vì
vậy, tác giả cho rằng, cần sửa đổi BLHS
năm 2015 theo hướng bổ sung quy định về
thời gian thử thách đối với người được đặc
xá và các nghĩa vụ của người được đặc xá
trong thời gian thử thách, chế tài xử lý trong
trường hợp họ vi phạm nghĩa vụ tương ứng
như quy định đối với người được tha tù
Về đặc xá, Luật Đặc xá năm 2018 bao
gồm 6 chương, 39 điều với nhiều điểm mới
sửa đổi, bổ sung so với Luật Đặc xá năm
2007 về nguyên tắc, thời điểm, trình tự, thủ
tục, thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện đặc
xá; điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người
được đề nghị đặc xá; quyền và nghĩa vụ của
người được đặc xá. Tuy nhiên, để góp phần
nâng cao hiệu quả thực hiện quyền đại xá
của Chủ tịch nước, tác giả cho rằng, cần
tiếp tục hoàn thiện một số quy định về các
vấn đề sau đây:
Một là, quy định về “những sự kiện
trọng đại của đất nước” để áp dụng đặc xá
chưa rõ. Theo quy định của Luật Đặc xá,
Chủ tịch nước sẽ xem xét quyết định việc
đặc xá nhân sự kiện trọng đại, nhân ngày lễ
lớn của đất nước và trong trường hợp đặc
biệt. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản
nào hướng dẫn về việc xác định những sự
trước thời hạn có điều kiện
Số 06(430) - T3/2021
15
Bạn đang xem tài liệu "Quyền của chủ tịch nước trong ân giảm án tử hình và đặc xá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quyen_cua_chu_tich_nuoc_trong_an_giam_an_tu_hinh_va_dac_xa.pdf

