Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bằng phương thức hòa giải - Một số tồn tại và giải pháp khắc phục

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN...  
BẰNG PHƯƠNG THỨC HÒA GIẢI - MỘT SỐ TỒN TẠI  
VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC  
KHÚC THỊ PHƯƠNG NHUNG*  
Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về giải quyết  
tranh chấp lao động cá nhân bằng phương thức hòa giải, đồng thời chỉ ra những tồn tại, bất cập trong  
các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bằng phương thức này nhằm  
đưa ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp  
lao động cá nhân bằng phương thức hòa giải.  
Từ khóa: Tranh chấp lao động, hòa giải, Hòa giải viên lao động, Bộ luật lao động.  
Ngày nhận bài: 06/6/2019; Biên tập xong: 10/7/2019; Duyệt đăng: 02/10/2020.  
The paper studies legal regulations on resolving individual labor dispute by mediation,  
points out its obtacles and solutions to improve the law as well as efficiency of individual labor  
disputes by mediation.  
Keywords: Labor disputes, mediation, Labor mediator, the Labor Code.  
1. Quy định về giải quyết tranh chấp lao là Bộ luật lao động (BLLĐ) năm 1994. Các  
động cá nhân bằng phương thức hòa giải  
1.1. Các quy định về chủ thể tiến hành  
hòa giải  
quy định về hòa giải tranh chấp lao động  
được kế thừa, bổ sung trong các lần sửa  
đổi, bổ sung BLLĐ vào các năm 2002, 2006,  
2007 và hiện nay là BLLĐ năm 2012, Nghị  
định số 46/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của  
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số  
điều của BLLĐ về giải quyết tranh chấp lao  
động và Thông tư số 08/2013/TT-BLĐTBXH  
ngày 10/6/2013 hướng dẫn Nghị định số  
46/2013/NĐ-CP. Theo đó, Hòa giải viên lao  
động (HGVLĐ) là người được Chủ tịch Ủy  
ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm theo nhiệm  
kỳ 5 năm để hòa giải tranh chấp lao động  
(TCLĐ) và tranh chấp về hợp đồng đào tạo  
nghề theo quy định của pháp luật2. Quy  
trình bổ nhiệm gồm 02 bước:  
Hòa giải là sự tiếp nối quá trình thương  
lượng, trong đó các bên cố gắng làm điều hòa  
những ý kiến bất đồng. Bên thứ ba đóng vai  
trò trung gian, hoàn toàn độc lập với hai bên và  
hành động một cách vô tư, không thiên vị, tìm  
cách đưa các bên tranh chấp tới những điểm  
mà họ có thể thỏa thuận với nhau. Người hòa  
giải không có quyền áp đặt và không tham  
gia tích cực vào quá trình giải quyết tranh  
chấp nhưng hành động như một người môi  
giới, giúp hai bên ngồi lại với nhau1. Hòa giải  
được quy định trong nhiều văn bản của Tổ  
chức lao động quốc tế (International Labor  
Organization – ILO) như Khuyến nghị số 92  
(29/6/1951) về hòa giải và trọng tài tự nguyện;  
(i) Tự đăng kí hoặc được giới thiệu;  
(ii) Cơ quan có thẩm quyền xem xét và  
Công ước 154 về xúc tiến thương lượng tập bổ nhiệm HGVLĐ.  
thể (19/6/1981); Khuyến nghị số 81 (19/6/1947)  
về thanh tra lao động…  
Sau khi được bổ nhiệm, trong những ngày  
được cử để hòa giải TCLĐ, tranh chấp hợp  
Ở Việt Nam, thủ tục hòa giải tranh chấp  
lao động được quy định ngay từ Pháp lệnh  
Hợp đồng lao động năm 1990 và sau đó  
* Tiến sĩ, Khoa Pháp luật dân sự và Kiểm sát dân sự  
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  
2ꢀ.  
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 46/2013/NĐ-CP  
1
ꢀTổ chức lao động quốc tế (1997), Thuật ngữ quan  
ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết  
thi hành một số điều của Bộ luật lao động về giải  
quyết tranh chấp lao động  
hệ công nghiệp và các khái niệm có liên quan, David  
Macdonal & Caroline Vandenabeele.  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 46  
KHÚC THỊ PHƯƠNG NHUNG  
đồng đào tạo nghề thì HGVLĐ được hưởng nhân tốt. Chính vì vậy, pháp luật giải quyết  
chế độ bồi dưỡng như đối với Hội thẩm theo tranh chấp lao động của hầu hết các quốc gia  
quy định về chế độ bồi dưỡng đối với người đều quy định các điều kiện cơ bản này. Điển  
tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết dân hình như ở Indonesia, HGVLĐ tối thiểu phải  
45 tuổi, tin và phục tùng trước Đức Chúa  
Trời, đấng tối cao; phải có nhân phẩm, trung  
thực, công bằng và danh tiếng tốt.  
sự; được thanh toán công tác phí trong những  
ngày thực hiện công tác hòa giải theo chế độ  
hiện hành và được bảo đảm các điều kiện cần  
thiết về phòng họp, tài liệu, văn phòng phẩm  
phục vụ hòa giải TCLĐ. Kinh phí hoạt động  
của HGVLĐ do ngân sách nhà nước bảo  
đảm theo quy định phân cấp quản lý ngân  
sách hiện hành. Việc lập dự toán, quản lý và  
quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của  
HGVLĐ thực hiện theo quy định của pháp  
luật về ngân sách nhà nước.  
Đây cũng chính là một trong những điểm  
khác biệt về chế định giải quyết tranh chấp  
lao động cá nhân bằng Hòa giải của Việt Nam  
so với một số quốc gia khác. Bởi lẽ ở một số  
các quốc gia khác, HGVLĐ phải là một quan  
chức nhà nước3. Chẳng hạn như ở Indonesia,  
HGVLĐ là một quan chức thuộc Vụ nhân  
lực do Bộ trưởng bổ nhiệm. Còn ở Việt Nam,  
HGVLĐ là công chức nhà nước (thuộc phòng  
Lao động - Thương binh và Xã hội).  
Bên cạnh những tiêu chuẩn về phẩm  
chất, đạo đức, uy tín thì tiêu chuẩn về trình  
độ chuyên môn cũng rất được coi trọng. Bởi  
lẽ, trình độ kiến thức và kinh nghiệm cũng là  
những điều kiện giúp cho một Hòa giải viên  
có thể thực hiện công tác hòa giải một cách  
chuyênnghiệp. Chínhvìvậy, ởrấtnhiềuquốc  
gia, HGVLĐ thường được tuyển chọn từ các  
cơ quan nhà nước liên quan đến lĩnh vực lao  
động hoặc quan hệ lao động. Điển hình như  
ở Mỹ, thông thường Ban trung gian và Hòa  
giải liên bang sẽ bổ nhiệm những viên chức  
hòa giải mới từ công đoàn hoặc từ ban quản  
lý nhân sự. Còn ở Indonesia, theo quy định  
tại điểm g khoản 1 Điều 19 Luật về giải quyết  
tranh chấp lao động năm 2004, HGVLĐ phải  
có ít nhất 05 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực  
quan hệ lao động4…  
Ở Việt Nam, HGVLĐ do cơ quan lao động  
cấp huyện cử để tiến hành hòa giải các tranh  
chấp lao động. Đó là những cá nhân đáp ứng  
đủ những tiêu chuẩn mà pháp luật quy định  
tại Điều 4 Nghị định số 46/2013/NĐ-CP quy  
định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ  
về tranh chấp lao động: (i) Là công dân Việt  
Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có sức  
khỏe và phẩm chất đạo đức tốt; (ii) Không phải là  
người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc  
đang chấp hành án; (iii) Am hiểu pháp luật lao  
động và pháp luật có liên quan; (iv) Có 03 năm  
làm việc trong lĩnh vực có liên quan đến quan  
hệ lao động, có kỹ năng hòa giải tranh chấp lao  
động. Dựa vào những tiêu chuẩn này, có thể  
nói rằng theo quy định của pháp luật hiện  
hành HGVLĐ phải là người có chuyên môn  
Để nâng cao được vị trí cũng như uy tín  
của người hòa giải tranh chấp lao động nói  
chung và tranh chấp lao động cá nhân nói  
riêng, pháp luật lao động của hầu hết các  
quốc gia đều có quy định cụ thể về tiêu chuẩn  
bổ nhiệm HGVLĐ. Các tiêu chuẩn này ở mỗi  
quốc gia có những điểm khác nhau nhất định  
tùy vào tình hình kinh tế, chính trị, tôn giáo  
cụ thể của mỗi nước nhưng nhìn chung, tiêu  
chuẩn của HGVLĐ được quy định dựa vào  
các tiêu chí cơ bản như: phẩm chất, đạo đức,  
danh tiếng cá nhân và năng lực chuyên môn  
nghiệp vụ… Không những vậy, để việc hòa  
giải đạt kết quả, HGVLĐ phải có được sự tín  
nhiệm và tin cậy của cả hai bên tranh chấp.  
Đồng thời, HGVLĐ phải có danh tiếng cá  
3.ꢀ Nguyễn Xuân Thu (2008), “Thẩm quyền giải quyết  
tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật lao 4ꢀ. Vũ Thu Hiền (2014), “Tranh chấp lao động và giải  
động Việt Nam - Nhìn từ góc độ sử dụng cơ chế ba quyết tranh chấp lao động”, Đặc san tuyên truyền  
bên”, Tạp chí Luật học, (2), tr. 45-53.  
pháp luật, tr. 50-54 (2)  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 47  
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN...  
và kinh nghiệm giải quyết các vụ việc tranh danh tại cơ quan quản lý Nhà nước về lao  
chấp lao động, ngoài ra họ còn đóng vai trò động được Bộ trưởng Bộ Lao động trao bằng  
là trung gian kết nối giữa các bên, không chứng nhận hợp pháp… Ở một số nước,  
thuộc thành phần của bên nào nên đảm bảo Hòa giải viên lao động được đích thân người  
được tính trung thực và công bằng.  
đứng đầu Nhà nước hoặc Nội các Chính phủ  
bầu như ở Nauy, Hòa giải viên trung ương  
và cơ sở được chỉ định bởi nhà vua; ở Phần  
Lan, hai viên chức hòa giải quốc gia được bổ  
nhiệm bởi Tổng thống, Hòa giải viên cấp cơ  
sở được chỉ định bởi Hội đồng nhà nước..5.  
Xuất phát từ ý nghĩa đó, pháp luật Việt  
Nam cũng đã có sự thay đổi để phù hợp với  
thông lệ quốc tế. Theo đó, nếu như trước đây,  
quy định của BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, bổ  
sung năm 2002 và 2006) thì HGVLĐ do Chủ  
tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm,  
miễn nhiệm thì hiện nay, để tạo được vị thế  
và góp phần nâng cao hơn uy tín của Hòa  
giải viên lao động với các bên tranh chấp,  
BLLĐ năm 2012 đã có sự sửa đổi quy định  
này theo hướng trao quyền bổ nhiệm, bổ  
nhiệm lại, miễn nhiệm HGVLĐ cho người  
đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước cao hơn  
là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.  
Có thể nói, HGVLĐ là chủ thể có tính độc  
lập tương đối cao trong việc giải quyết các  
tranh chấp lao động nói chung và tranh chấp  
lao động cá nhân nói riêng. Điều này góp  
phần giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng  
phát sinh trong quan hệ lao động và quan  
hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao  
động một cách nhanh chóng, kịp thời, đảm  
bảo tuân thủ các nguyên tắc và các quy định  
của pháp luật; từ đó bảo vệ một cách tốt nhất  
quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động,  
người sử dụng lao động, giúp cho quan hệ  
lao động được hài hòa, ổn định và phát triển  
bền vững kinh tế - xã hội.  
Hơn nữa, pháp luật lao động hiện nay  
cũng đã mở rộng đối tượng được tham gia làm  
HGVLĐ. Theo đó, không chỉ có cán bộ phòng  
Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện,  
cán bộ Công đoàn các khu công nghiệp, khu  
chế xuất mà cả những cá nhân độc lập nếu đáp  
ứng đủ các điều kiện đối với HGVLĐ cũng đều  
có quyền đăng ký tham gia làm HGVLĐ. Như  
vậy, nếu như trước đây quy định về tiêu chuẩn  
để được công nhận là HGVLĐ tại Điều 6 của  
Nghị định số 133/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007  
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn  
thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung  
một số điều của BLLĐ về giải quyết tranh chấp  
lao động còn rất chung chung như HGVLĐ  
phải có “hiểu biết về pháp luật lao động” và  
“kỹ năng hòa giải hoặc kinh nghiệm trong việc  
tổ chức hòa giải”… thì quy định tại Nghị định  
46/NĐ –CP đã có sự thay đổi theo hướng quy  
định chi tiết hơn, cụ thể hơn các tiêu chuẩn của  
HGVLĐ, cũng như mở rộng phạm vi chủ thể  
có thể trở thành HGVLĐ. Từ đó, tạo điều kiện  
thuận lợi cho các quá trình giải quyết các tranh  
chấp lao động nói chung và tranh chấp lao  
động cá nhân nói riêng.  
Cùng với các quy định về tiêu chuẩn để  
được bổ nhiệm HGVLĐ, quy định về thẩm  
quyền bổ nhiệm HGVLĐ cũng có ý nghĩa  
tích cực trong việc nêu bật tầm quan trọng  
của công tác hòa giải cũng như vị thế của  
người làm công tác hòa giải. Bởi lẽ, xuất phát  
từ thực tiễn và tâm lý chung, nếu HGVLĐ  
do các cơ quan cấp cao lựa chọn sẽ dễ tạo  
được vị thế và uy tín với các bên tranh chấp  
hơn. Chính vì lẽ đó mà nhiều quốc gia quy  
định thẩm quyền bổ nhiệm HGVLĐ thuộc  
về những người đứng đầu cơ quan quản lý  
nhà nước về lao động, chẳng hạn như: Ở Đan  
Mạch, HGVLĐ được Bộ trưởng Bộ Lao động  
bổ nhiệm thông qua sự giới thiệu của Tòa  
1.2. Quy định về trình tự, thủ tục giải  
quyết tranh chấp lao động cá nhân bằng  
phương thức hòa giải  
Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao  
động cá nhân của HGVLĐ được quy định  
tại Điều 201 BLLĐ năm 2012; Nghị định số  
án lao động; hay ở Indonesia, HGVLĐ ghi 5. ꢀVũ Thu Hiền (2014), Tlđd, tr. 55(2)  
48 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
KHÚC THỊ PHƯƠNG NHUNG  
46/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính  
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều  
của BLLĐ về tranh chấp lao động; Điều  
7 Thông tư 08/2013/TT-BLĐTBXH ngày  
10/6/2013 hướng dẫn Nghị định 46/2013/  
NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy  
định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ  
về tranh chấp lao động. Theo đó, có thể khái  
quát trình tự, thủ tục này như sau:  
Bước 2: Chuẩn bị phiên họp hòa giải  
Trong thời hạn 01 ngày kể từ khi nhận  
được quyết định cử tham gia giải quyết  
tranh chấp, HGVLĐ phải thông báo chương  
trình, thời gian, địa điểm tổ chức phiên hòa  
giải cho các bên tranh TCLĐ biết trước khi  
tiến hành ít nhất 01 ngày làm việc.  
Bước 3. Tổ chức hòa giải tranh chấp lao động  
Tại phiên họp hòa giải, HGVLĐ phải  
kiểm tra sự có mặt của hai bên tranh chấp  
lao động, những người được mời. Trường  
hợp hai bên tranh chấp lao động ủy quyền  
cho người khác làm đại diện thì phải kiểm  
tra giấy ủy quyền. Nếu một trong hai bên  
tranh chấp vắng mặt hoặc cử người đại diện  
mà không có giấy ủy quyền thì hoãn phiên  
họp hòa giải sang ngày làm việc tiếp theo và  
hướng dẫn cho hai bên thực hiện đúng theo  
quy định của pháp luật.  
Bước 1: Nhận đơn yêu cầu hòa giải tranh  
chấp lao động  
Mỗi bên hoặc cả hai bên TCLĐ khi có  
yêu cầu giải quyết TCLĐ phải làm đơn yêu  
cầu hòa giải và gửi đến Phòng Lao động  
- Thương binh và Xã hội nơi có trụ sở của  
doanh nghiệp. Cơ quan này có trách nhiệm  
nhận đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp lao  
động và thực hiện các thủ tục cần thiết để  
HGVLĐ tiến hành hòa giải tranh chấp.  
Trên cơ sở danh sách HGVLĐ, bên yêu  
cầu hòa giải được quyền lựa chọn HGVLĐ  
để đề nghị Phòng Lao động - Thương binh  
và Xã hội cử HGVLĐ tham gia hòa giải vụ  
tranh chấp của mình. Việc pháp luật lao động  
cho phép bên yêu cầu hòa giải được lựa chọn  
HGVLĐ là một quy định mới của BLLĐ năm  
2012 nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của  
các bên tranh chấp.  
Khi hai bên tranh chấp hoặc đại diện của  
họ có mặt đầy đủ tại phiên họp, HGVLĐ tiến  
hành hòa giải theo trình tự sau:  
+ Tuyên bố lý do của phiên Hòa giải và  
giới thiệu thành phần tham dự phiên họp;  
+ Đọc đơn của nguyên đơn;  
+ Bên nguyên đơn trình bày;  
+ Bên bị đơn trình bày;  
+ Hòa giải viên chất vấn các bên, nêu các  
chứng cứ và yêu cầu nhân chứng (nếu có)  
phát biểu.  
Hòa giải viên căn cứ vào pháp luật lao  
động, các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các  
bên tranh chấp, phân tích đánh giá vụ việc,  
nêu những điểm đúng sai của hai bên để hai  
bên tự hòa giải với nhau hoặc đưa ra phương  
án hòa giải để hai bên xem xét, thương lượng  
và chấp thuận.  
Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ  
khi nhận được báo cáo của Phòng Lao động  
- Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban  
nhân dân cấp huyện quyết định cử HGVLĐ  
tham gia giải quyết TCLĐ. Trường hợp thật  
cần thiết thì Phòng Lao động - Thương binh  
và Xã hội báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân  
cấp huyện đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân  
cấp huyện khác trong tỉnh đề cử HGVLĐ hỗ  
trợ giải quyết TCLĐ.  
Có thể thấy, quy định của pháp luật hiện  
hành cho thấy sự kịp thời của cơ quan, cá  
nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết  
TCLĐ nói chung và TCLĐ cá nhân nói riêng.  
Trường hợp bên nguyên đơn chấp thuận  
rút yêu cầu hoặc hai bên tự hòa giải được  
hoặc chấp thuận phương án hòa giải thì Hòa  
giải viên lập Biên bản hòa giải thành, có chữ  
Điều này góp phần đáng kể vào việc duy trì ký của 2 bên tranh chấp và Hòa giải viên. Hai  
quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tạo điều bên có nghĩa vụ chấp hành các thỏa thuận  
kiện cho việc phát triển kinh tế xã hội.  
ghi trong Biên bản hòa giải thành.  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 49  
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN...  
Trường hợp hai bên không chấp thuận được đòi hỏi giải quyết tranh chấp lao động  
cá nhân một cách nhanh chóng và linh hoạt,  
tôn trọng, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp  
và tạo sự thuận lợi cho các bên tranh chấp.  
2. Một số tồn tại, bất cập khi giải quyết  
tranh chấp lao động cá nhân bằng phương  
thức hòa giải và giải pháp khắc phục  
Bên cạnh những thay đổi tích cực từ cơ  
chế pháp lý cũng như thực tiễn thực thi việc  
giải quyết TCLĐ nói chung và giải quyết  
TCLĐ cá nhân bằng phương thức hòa giải  
nói riêng, vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn  
chế cần phải khắc phục, sửa đổi. Cụ thể là:  
phương án hòa giải thì Hòa giải viên lập  
Biên bản hòa giải không thành trong đó ghi  
rõ ý kiến của hai bên. Biên bản phải có chữ  
ký của 2 bên và Hòa giải viên.  
Trường hợp một bên đã được triệu tập  
đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý  
do chính đáng thì Hòa giải viên lập Biên bản  
hòa giải không thành, trong đó ghi rõ ý kiến  
của bên có mặt. Biên bản phải có chữ ký của  
bên có mặt và Hòa giải viên.  
Biên bản hòa giải phải được sao gửi cho  
các bên TCLĐ trong thời hạn 01 ngày làm  
việc kể từ ngày lập biên bản hòa giải. Trong  
thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận  
được yêu cầu hòa giải, HGVLĐ phải kết thúc  
việc hòa giải.  
Như vậy, để tạo sự linh hoạt, chủ động  
cho HGVLĐ khi tiến hành hòa giải tranh  
chấp lao động cá nhân, pháp luật lao động  
hiện hành không quy định chi tiết, cụ thể về  
trình tự, thủ tục tiến hành một buổi hòa giải  
tranh chấp lao động như Thông tư số 22/2007/  
TT-BLĐTBXH trước đây mà chỉ quy định một  
số vấn đề chung mang tính định hướng cho  
phiên hòa giải. Các vấn đề còn lại như việc  
nhận đơn yêu cầu hòa giải, công tác chuẩn bị  
cho phiên hòa giải, trình tự tiến hành phiên  
hòa giải… hoàn toàn do Hòa giải viên chủ  
2.1. Những tồn tại, bất cập  
Thứ nhất, các văn bản pháp luật về lao  
động và giải quyết tranh chấp lao động cá  
nhân hiện hành chưa thực sự đáp ứng được  
yêu cầu thực tiễn, chưa tạo được cơ sở pháp  
lý khoa học cho việc giải quyết tranh chấp  
lao động mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung.  
Điển hình như:  
- Khoản 1, Điều 201 BLLĐ năm 2012 và  
khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm  
2015 đã liệt kê 05 loại tranh chấp lao động  
không bắt buộc qua hòa giải. Quy định như  
vậy đồng nghĩa với việc không giao thẩm  
quyền giải quyết 05 loại tranh chấp trên cho  
HGVLĐ, trong khi có 2/5 loại tranh chấp đó  
rất cần hòa giải là tranh chấp giữa người  
động sắp xếp, thực hiện. Buổi hòa giải tranh giúp việc gia đình với người sử dụng lao  
chấp lao động cá nhân do Hòa giải viên tiến động; tranh chấp về bồi thường thiệt hại  
giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn  
vị sự nghiệp công lập đưa người lao động đi  
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.  
hành chỉ cần đảm bảo: sự có mặt của các bên  
tranh chấp, các bên tranh chấp tự thương  
lượng giải quyết tranh chấp của mình, Hòa  
giải viên đưa ra phương án giải quyết tranh  
chấp lao động của mình để các bên tranh chấp  
xem xét, lựa chọn. Trong trường hợp hòa giải  
không thành hoặc một trong hai bên không  
thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa  
giải thành hoặc hết thời hạn 05 ngày làm việc  
mà HGVLĐ không tiến hành hòa giải thì mỗi  
bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải  
quyết tranh chấp lao động cá nhân đó.  
- Biên bản hòa giải thành của HGVLĐ lập  
bản chất là sự ghi nhận ý chí công dân, đó  
là “sản phẩm của xã hội”, không giống như  
quyết định công nhận hòa giải thành do Tòa  
án ban hành là “sản phẩm của Nhà nước”.  
Do đó, nó không được cơ quan thi hành án  
cưỡng chế thi hành nếu bên có nghĩa vụ  
không tự nguyện thi hành.  
- Pháp luật mới chỉ quy định về cơ chế  
tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm và đánh  
Nhìn chung, việc quy định thủ tục hòa  
giải TCLĐ cá nhân của HGVLĐ đã đáp ứng giá hoạt động của HGVLĐ mà chưa quy định  
50 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
KHÚC THỊ PHƯƠNG NHUNG  
về cơ chế hỗ trợ, đào tạo, tập huấn HGVLĐ,  
2.2. Nguyên nhân của những tồn tại, bất  
trong khi đây là một trong những nội dung cập trong giải quyết tranh chấp lao động cá  
cơ bản để nâng cao chất lượng HGVLĐ.  
nhân bằng phương thức hòa giải  
- Về thời hiệu yêu cầu HGVLĐ tiến hành  
Thứnhất, nguyênnhânxuấtpháttừnhững  
hòa giải tranh chấp lao động cá nhân: Điều hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật về giải  
quyết tranh chấp lao động cá nhân trong các  
quy định của pháp luật lao động hiện hành.  
Hệ quả là quá trình áp dụng pháp luật còn  
gặp nhiều khó khăn và TCLĐ cá nhân vẫn  
không ngừng gia tăng trong thực tế.  
202 BLLĐ năm 2012 không quy định rõ ngày  
nào là ngày “phát hiện ra hành vi” nên trên  
thực tế, việc hiểu và áp dụng quy định này  
linh hoạt, cảm tính và khó có thể xác định  
được chính xác.  
Thứ hai, yêu cầu đa dạng hóa thành phần  
đội ngũ HGVLĐ vẫn có những hạn chế nhất  
định, dẫn đến tình trạng cùng là HGVLĐ  
nhưng người thì quá tải, người thì không có  
việc. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc đánh  
giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của HGVLĐ.  
Thứ ba, mặc dù hòa giải là nguyên tắc  
xuyên suốt quá trình giải quyết TCLĐ cá  
nhân nhưng hiện nay, ở một số địa phương  
chưa kiện toàn đội ngũ HGVLĐ hoặc đã kiện  
toàn nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực  
tế. Thậm chí, đã có HGVLĐ nhưng đội ngũ  
này hoạt động không hiệu quả, hòa giải vẫn  
mang tính hình thức, kỹ năng, phương pháp  
hòa giải chưa tốt nên để vụ việc kéo dài.  
- Về tính hiệu quả khi giải quyết tranh chấp  
lao động cá nhân thông qua HGVLĐ: Mặc dù  
đã được bổ nhiệm HGVLĐ nhưng thực tế từ  
khi được bổ nhiệm, đội ngũ HGVLĐ hoạt  
động không hiệu quả, chỉ mang tính hình  
thức. Thậm chí, có những nơi mà từ khi được  
bổ nhiệm, HGVLĐ vẫn chưa hòa giải một vụ  
tranh chấp lao động cá nhân nào. Điều đó  
không có nghĩa là trên địa bàn đó không có  
TCLĐ cá nhân xảy ra mà có thể có TCLĐ cá  
nhân nhưng do nhiều nguyên nhân mà không  
được hòa giải thông qua HGVLĐ. Có thể kể  
đến như trường hợp người lao động không  
biết đến việc giải quyết TCLĐ cá nhân thông  
qua hòa giải, không nắm được các thủ tục,  
ngại va chạm dù quyền lợi có bị ảnh hưởng;  
HGVLĐ đã tổ chức phiên hòa giải nhưng các  
bên tranh chấp không tham dự…  
2.3. Các giải pháp khắc phục  
Thứ nhất, hoàn thiện các quy định pháp  
luật liên quan đến giải quyết TCLĐ cá nhân  
bằng phương thức hòa giải để đáp ứng được  
yêu cầu thực tiễn và tạo hành lang pháp lý  
thuận lợi để giải quyết tranh chấp lao động  
khi có phát sinh. Theo đó, cần:  
Thứ hai, số lượng HGVLĐ còn ít, không  
đồng đều giữa các quận, huyện. Đội ngũ  
HGVLĐ chưa được quan tâm đúng mức,  
hầu như chỉ mang tính hình thức.  
- Sửa đổi khoản 1 Điều 201 BLLĐ năm  
2012 và khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân  
sự năm 2015 theo hướng quy định 02 loại  
tranh chấp bắt buộc phải thông qua thủ tục  
hòa giải là tranh chấp giữa người giúp việc  
gia đình với người sử dụng và tranh chấp  
về bồi thường thiệt hại giữa người lao động  
với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập  
đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài  
theo hợp đồng.  
- Pháp luật cần có cơ chế cụ thể để hỗ trợ  
việc thực thi các cam kết đã được các bên  
tranh chấp thỏa thuận trong biên bản hòa  
giải thành. Điều này sẽ giúp cho phương  
Thứ ba, Phòng Lao động - Thương binh  
và Xã hội chủ yếu giải quyết về mặt thương  
binh - xã hội, còn mảng lao động bị bỏ ngỏ,  
ít được quan tâm nên đến khi có yêu cầu hòa  
giải TCLĐ thì họ lại rất lúng túng.  
Thứ tư, việc tuyên truyền, phổ biến và  
giáo dục pháp luật cho các chủ thể liên quan  
đến việc giải quyết TCLĐ không được tiến  
hành thường xuyên và chưa có hiệu quả nên  
các bên tranh chấp ngại hòa giải thông qua  
HGVLĐ là người thuộc phòng Lao động -  
Thương binh và Xã hội vì sợ bị xử lý vi phạm  
hành chính nếu «tự khai» các sai phạm.  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 51  
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN...  
thức hòa giải thực sự có ý nghĩa không chỉ giữa các bên trong tranh chấp.  
đối với các bên tranh chấp mà còn đối với  
nhà nước và nền kinh tế khi tiết kiệm được  
thời gian, chi phí cũng như giúp ổn định  
quan hệ lao động. Bởi lẽ, trong điều kiện kinh  
tế như hiện nay, quan hệ lao động ngày càng  
phát triển, tranh chấp phát sinh là điều khó  
tránh khỏi, đặc biệt là tranh chấp lao động cá  
nhân. Do vậy, nếu không có cơ chế hỗ trợ thi  
hành các cam kết của các bên tranh chấp thì  
phương thức hòa giải trong giải quyết tranh  
chấp sẽ chỉ mang tính hình thức, thủ tục để  
các bên đưa tranh chấp ra Tòa án giải quyết.  
- Để có cách hiểu và áp dụng thống nhất  
về thời hiệu yêu cầu HGVLĐ hòa giải tranh  
chấp lao động cá nhân, cần phải có hướng  
dẫn cụ thể quy định tại khoản 1 Điều 202  
BLLĐ về ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi  
bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp  
pháp của mình bị vi phạm.  
Thứ hai, cần củng cố lại đội ngũ HGVLĐ,  
tăng số lượng HGVLĐ ở các quận huyện, đặc  
biệt là những vùng tập trung nhiều các doanh  
nghiệp; nâng cao trình độ chuyên môn của  
đội ngũ HGVLĐ. Bởi lẽ, với thủ tục hòa giải  
được pháp luật quy định đơn giản, linh hoạt  
thì việc hòa giải thành hay không phụ thuộc  
phần lớn vào năng lực của chủ thể tiến hành  
hòa giải. Do đó, việc nâng cao tiêu chuẩn  
của HGVLĐ cũng như chú trọng phương  
thức hòa giải trong giải quyết tranh chấp lao  
động cá nhân là một điều tất yếu trong hoàn  
thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao  
động cá nhân. Theo đó, HGVLĐ ngoài việc  
phải am hiểu pháp luật còn phải có “nghệ  
thuật thuyết phục” để các bên đồng ý hòa  
giải. Để có “nghệ thuật thuyết phục” này thì  
ngoài khả năng của bản thân, HGVLĐ cũng  
cần phải được tạo điều kiện để cọ sát thực  
tế nhằm đúc kết kinh nghiệm hòa giải. Có  
thể nói, hiệu quả của giải quyết tranh chấp  
lao động cá nhân bằng phương thức hòa  
giải phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, trình  
độ của các HGVLĐ. Một khi phương án mà  
HGVLĐ đưa ra được các bên chấp thuận thì  
tranh chấp đó được giải quyết nhanh gọn,  
Thứ ba, để khắc phục tình trạng nơi thừa,  
nơi thiếu HGVLĐ và góp phần nâng cao  
năng lực của Hòa giải viên, pháp luật cần  
quy định cụ thể những trường hợp cần thiết  
để Phòng Lao động - Thương binh và Xã  
hội báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp  
huyện đề nghị chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp  
huyện khác trong tỉnh để cử HGVLĐ hỗ trợ  
giải quyết tranh chấp lao động. Đồng thời,  
các cơ quan quản lý nhà nước về lao động  
các cấp huyện cần có sự quan tâm đúng mức  
tới hoạt động hòa giải trong giải quyết tranh  
chấp lao động để đảm bảo hiệu quả trong tất  
cả các khâu công tác.  
Thứ tư, để hoạt động hòa giải trong giải  
quyết tranh chấp lao động cá nhân được  
chuyên môn hóa; công tác đào tạo, bồi dưỡng  
đội ngũ HGVLĐ được chuyên sâu, gắn với  
thực tiễn đời sống lao động thì cần phải  
thường xuyên tập huấn, tạo điều kiện cho đội  
ngũ HGVLĐ cọ sát thực tế. Hiện nay, phần  
lớn HGVLĐ hoạt động kiêm nhiệm nên cơ  
quan quản lý đội ngũ HGVLĐ cần có văn bản  
thỏa thuận với các đơn vị nơi HGVLĐ đang  
làm việc nhằm tạo điều kiện cho HGVLĐ đầu  
tư nhiều hơn cho công tác hòa giải.  
Thứ năm, tăng cường và tiến hành  
thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ  
biến và giáo dục pháp luật cho các chủ thể  
liên quan đến việc giải quyết tranh chấp lao  
động. Từ đó, các bên tranh chấp hiểu về vai  
trò, ý nghĩa của phương thức hòa giải trong  
giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, trên  
cơ sở đó nghiêm chỉnh thực thi những cam  
kết đạt được trong quá trình hòa giải, góp  
phần ổn định và phát triển quan hệ lao động.  
Tóm lại, xuất phát từ những ưu thế của  
phương thức hòa giải mà việc nâng cao vai  
trò và tính hiệu quả của phương thức giải  
quyết tranh chấp lao động cá nhân này cần  
được chú trọng và phát triển. Do đó, việc  
triển khai và thực hiện đồng bộ các giải pháp  
pháp lý cũng như những giải pháp về tổ  
tiết kiệm, duy trì được mối quan hệ lao động chức thực hiện là điều cần thiết./.  
52 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
pdf 7 trang Thùy Anh 10140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bằng phương thức hòa giải - Một số tồn tại và giải pháp khắc phục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_quyet_tranh_chap_lao_dong_ca_nhan_bang_phuong_thuc_hoa.pdf