Giáo trình Nghiệp vụ công tác hòa giải cơ sở
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG
TẬP BÀI GIẢNG
MÔN HỌC: NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC HÒA GIẢI CƠ SỞ
NGÀNH: DỊCH VỤ PHÁP LÝ
(Áp dụng cho trình độ Trung cấp)
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Năm 2017
1
LỜI NÓI ĐẦU
Công tác hòa giải ở cơ sở là một trong những môn học rèn luyện kỹ năng
quan trọng cho học sinh trong chương trình đào tạo trung cấp pháp lý đã được Bộ
giáo dục – Đào tạo và Trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai phê duyệt.
Nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập môn học này của học sinh,
Trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai tổ chức biên soạn tập bài giảng môn Công
tác hòa giải ở cơ sở trên cơ sở hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành của Nhà
nước và các kinh nghiệm được tổng kết trong thực tế.
Nội dung gồm 3 phần:
Phần I. Lý luận chung
Cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức pháp luật hiện hành về hòa giải ở
cơ sở, như: Khái niệm, đặc điểm; nguyên tắc, phạm vi, phương pháp và các bước
tiến hành hòa giải; quy trình bầu, miễn nhiệm tổ viên, tổ trưởng tổ hòa giải; vai trò
của các cơ quan trong quản lý nhà nước về hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Phần II. Kinh nghiệm hòa giải thông qua một số vụ việc cụ thể
Hy vọng rằng tập bài giảng này sẽ là tài liệu học tập quan trọng cho học sinh
trong quá trình học tập và làm việc trong lĩnh vực hòa giải cơ sở.
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn nhưng không
tránh khỏi hạn chế, khiếm khuyết nhất định, mong nhận được sự góp ý, phê bình
của bạn đọc nhằm làm cho tập bài giảng được hoàn thiện hơn trong những lần tái
bản sau.
Tác giả
Giảng viên: Mai Thị Lan Hương – Khoa Pháp lý
2
TẬP BÀI GIẢNG
MÔN HỌC: NGHIỆP VỤ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
Mục tiêu của môn học:
- Về kiến thức: Sau khi học xong môn học này người học đạt được: các kỹ
năng, nghiệp vụ cơ bản về công tác hoà giải tại cơ sở để có thể tham mưu và trực
tiếp thực hiện trên thực tế.
- Về kỹ năng:
+ Có phương pháp tiếp cận khoa học, kỹ năng phân tích, đánh giá các vấn đề
pháp luật - xã hội - pháp lý.
+ Kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân thông qua công tác
hòa giải cơ sở; xây dựng và triển khai các kế hoạch hòa giải ở cơ sở;
+ Thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở; tham mưu trong việc giải quyết tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo đối ở cơ sở; quản lý và khai thác có hiệu quả tủ sách pháp
luật ở cơ sở
+ Có tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa học, trách nhiệm với công việc
được giao và có tinh thần làm việc hợp tác, phối hợp với người khác và trong tập
thể.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Người học phải có ý thức nghiêm túc
tiếp thu và nghiên cứu kiến thức của các môn học cơ sở, chuyên ngành về luật. Có
nhận thức đúng đắn về vai trò của môn học.
3
PHẦN I. LÝ LUẬN CHUNG
Bài 1: KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TÁC HÒA GIẢI CƠ SỞ
1. 1. Khỏi niệm và đặc điểm
1.1.1 Khái niệm
Tồn tại xã hội có sự chi phối, tác động qua lại của những mối quan hệ. Có
nhiều dạng quan hệ trong đời sống hàng ngày như: Quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế,
quan hệ gia đình...Sự tác động ấy biểu hiện bằng tính xen kẽ đa chiều. Trong quá
trình đó hệ quả và phát triển của quan hệ là những hành vi. Hành vi đó có thể phù
hợp, có thể chưa phù hợp với môi trường xã hội nào đó. Hay, do sự khác biệt về
nhận thức, quan điểm, lợi ích kinh tế, tính cách...nên việc nảy sinh mâu thuẫn tranh
chấp là điều tất yếu. Những mâu thuẫn trên có thể giải quyết bằng một trong các
hình thức sau:
- Thông qua hoà giải ở cơ sở.
- Thông qua việc giải quyết của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như:
Toá án nhân dân, cơ quan hành chính các cấp...
- Thông qua việc giải quyết của các cơ quan như: Trọng tài kinh tế, Trọng tài
lao động.
- Đơn phương tránh xung đột hoặc hành động trực tiếp để bảo vệ hay từ bỏ
các quyền và lợi ích của mình trong các mâu thuẫn, tranh chấp.
- Tự thoả thuận của các bên để chấm dứt mâu thuẫn, tranh chấp.
Như vậy hoà giải ở cơ sở là một trong những hình thức quan trọng để giải
quyết vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư. Hoạt động hoà
giải ở cơ sở đã trở thành một truyền thống tốt đẹp; góp phần củng cố tinh thần đoàn
kết cộng đồng, xây dựng tinh thần tương thân tương ái của dân tộc ta và không
ngừng được hoàn thiện phát triển phù hợp với yêu cầu của đời sống xã hội.
Theo Điều 2 Luật Hòa giải cơ sở thì:
“Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được
thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp
luật theo quy định của pháp luật”, bên cạnh đó cũng giải thích các thuật ngữ như:.
Cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố
và cộng đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố).
Các bên là cá nhân, nhóm cá nhân, gia đình, nhóm gia đình, tổ chức có mâu
thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này.
Hòa giải viên là người được công nhận theo quy định của Luật này để thực
hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở để hoạt
động hòa giải theo quy định của Luật này.
1.1.2. Đặc điểm của hoà giải ở cơ sở
4
a. Về nội dung và phạm vi
Hoà giải ở cơ sở là một hình thức giải quyết những vi phạm pháp luật và
tranh chấp nhỏ trong nhân dân mà pháp luật không bắt buộc phải giải quyết theo
thủ tục qui định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
b. Về chủ thể
Người tiến hành hoà giải là một hoặc một số tổ viên tổ hoà giải hay cá nhân
khác do tổ viên tổ hoà giải mời hoặc thành viên của các tổ chức thích hợp khác của
nhân dân ở thôn, xóm, bản, tổ dân phố và các cụm dân cư.
Hoạt động hoà giải ở cơ sở xuất hiện khi các bên vi phạm pháp luật và tranh
chấp nhỏ không tự giải quyết được các tranh chấp và mâu thuẫn mà cần có cá nhân
hoặc tổ chức làm trung gian đưa ra những ý kiến phân tích có tính thuyết phục để
các bên tự nguyện lựa chọn cách xử sự theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp
với quy phạm đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc.
c. Về phương pháp
Người tiến hành hoà giải có thể vận dụng một hay nhiều phương pháp cùng
lúc như: giải thích, hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên hiểu và tự nguyện
tuân thủ quy định pháp luật nào đó, hay áp dụng phong tục tập quán tốt đẹp của dân
tộc nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là sự đồng thuận giữa các bên về chấm dứt
mâu thuẫn, tự giác thực hiện những cam kết của họ sau khi đã được hoà giải thành.
Cách thức hoà giải trên được thực hiện trên cơ sở sự hợp tác, cởi mở, chân
thành của các bên, chứ không phải là hoạt động " phán xét", hay "xét xử"; áp đặt ý
chí hay " chụp mũ" của người làm công tác hoà giải ở cơ sở.
d. Về trình tự thủ tục
Hoà giải không tiến hành theo một trình tự, thủ tục bắt buộc nào. Người tiến
hành hoà giải có thể lựa chọn những hình thức, biện pháp hoà giải phù hợp với
từng vụ việc. Trong quá trình hoà giải, hoà giải viên có thể trực tiếp gặp gỡ từng
bên hoặc cả hai bên; trực tiếp trao đổi nhằm làm rõ vụ việc và hướng dẫn các bên
tự thoả thuận phương án giải quyết chấm dứt hành vi vi phạm ở bất kỳ thời điểm
thích hợp nào.
e. Về kết quả hòa giải
Kết quả của hoạt động hoà giải ở cơ sở là sự thoả thuận tự nguyện giữa các
bên để giải quyết các bất đồng do vi phạm pháp luật nhỏ hay tranh chấp nhỏ gây ra
như: chấm dứt hành vi vi phạm, giải toả những thắc mắc, bất đồng trong quan niệm
sống, ứng xử...phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức, phong
tục tập quán tốt đẹp của xã hội. Kết quả hoà giải là vụ việc được giải quyết ổn thoả
thông qua hình thức cam kết thoả thuận miệng hoặc có thể được ghi thành biên bản
nếu các bên có mâu thuẫn tranh chấp yêu cầu.
1.2.Ý nghĩa, mô hình của tổ chức hòa giải cơ sở
1.2.1. Ýnghĩa
5
- Hoà giải ở cơ sở có ý nghĩa rất to lớn trong việc tháo gỡ những rắc rối tại
cộng đồng dân cư, phát huy tình cảm tương thân tương ái; tránh những vi phạm
pháp luật đáng tiếc có thể xảy ra.
- Nhằm giải quyết kịp thời, tại chỗ những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ
trong nội bộ nhân dân, không để những mâu thuẫn, tranh chấp đơn giản trở thành
lớn, phức tạp; ngăn ngừa mầm mống phát sinh tội phạm hình sự, tranh chấp phức
tạp về dân sự và các vi phạm pháp luật khác; hạn chế đơn thư khiếu kiện của dân,
tiết kiệm thời gian, công sức tiền bạc của Nhà nước và của nhân dân; củng cố và
nâng cao niềm tin của nhân dân vào chủ trương đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước; giữ gìn kỷ cương xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát
triển sản xuất, nâng cao đời sống, phát huy dân chủ và thực hiện công bằng xã hội
ở cơ sở.
- Góp phần giữ gìn tình làng nghĩa xóm, xây dựng nếp sống văn minh, gia
đình văn hoá ở cơ sở, củng cố khối đoàn kết cộng đồng, phát huy vai trò và khả
năng to lớn của nhân dân trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp
nhỏ nói riêng cũng như trong quản lý Nhà nước, quản lý xã hội nói chung.
- Góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn pháp luật, trợ giúp
pháp lý, từng bước nâng cao ý thức sống và làm theo Hiến pháp và pháp luật của
nhân dân; đồng thời thông qua hoạt động hoà giải phát hiện những mâu thuẫn,
chồng chéo và những điểm không phù hợp với thực tế của các quy phạm pháp luật
để từ đó có những kiến nghị chuyển đến các cơ quan chức năng đề nghị điều chỉnh
cho phù hợp.
1.2. 2. Mô hình của tổ chức hòa giải ở cơ sở
Hoà giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của tổ hoà giải hoặc các
tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm
dân cư khác phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp
của nhân dân.
Hoạt động hoà giải ở cơ sở không phải do cơ quan nhà nước hay tổ chức
chuyên môn nghề nghiệp thực hiện mà do Tổ hoà giải hoặc các tổ chức thích hợp
khác của nhân dân (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến
binh, Hội nông dân Việt Nam), ở thôn, xóm, bản, tổ dân phố, cụm dân cư thực
hiện. Trong đó, tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân, do nhân dân
bầu ra. Công tác hoà giải ở cơ sở chủ yếu là “hướng dẫn, thuyết phục, dàn xếp,
giúp đỡ” chứ không phải bằng “phán xét, quyết định hay quyền lực” của các cơ
quan nhà nước, không do cơ quan nhà nước thực hiện. Bản chất của công tác hoà
giải là một hình thức tự quản của nhân dân.
Tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở thôn,
xóm, bản ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác để thực hiện hoặc tổ chức thực
hiện việc hoà giải những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân
theo quy định của pháp luật.
6
Tổ hoà giải có tổ trưởng và các tổ viên do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã,
phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới
thiệu để nhân dân bầu và do Uỷ ban nhân dân cùng cấp công nhận. Mỗi Tổ hoà giải
có từ ba tổ viên trở lên. Căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể của cụm dân cư và kết
quả cuộc họp thôn, xóm, bản, tổ dân phố, kết quả cuộc họp chủ hộ hoặc kết quả
phiếu lấy ý kiến chủ hộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quyết định
số lượng Tổ hoà giải ở địa phương. Thành viên của Tổ hoà giải là người có phẩm
chất đạo đức tốt, có uy tín trong nhân dân, có khả năng thuyết phục, có tinh thần tự
nguyện và do chính nhân dân bầu lên.
Như vậy, tổ hoà giải là một tổ chức quần chúng của nhân dân, do dân bầu ra
và được thành lập ở cơ sở thôn, xóm, bản, tổ dân phố hoặc cụm dân cư...Về bản
chất tổ hoà giải là tổ chức quần chúng, không phải là tổ chức chính quyền, được
thành lập để hoà giải tại chỗ, thường xuyên, kịp thời các vi phạm pháp luật và tranh
chấp nhỏ trong nhân dân, góp phần tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho
nhân dân ở cơ sở, nhằm chủ động ngăn ngừa vi phạm pháp luật, hạn chế các vụ
việc phải đưa ra Toà án giải quyết.
1.3. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
trong công tác hoà giải ở cơ sở
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện
của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân
tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người
Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận
của hệ thống chính trị nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý
chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên,
góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức có mạng lưới rộng khắp, hoạt động theo
nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động, quy
tụ, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên
truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật…Việc
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân tự giác
chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng là một
trong những mục tiêu đặt ra đối với công tác hoà giải ở cơ sở. Luật Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam năm 2014 đã quy định một trong những nhiệm vụ của Mặt trận Tổ
quốc các cấp trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thi
hành chính sách, pháp luật, đó là: Tham gia hoạt động hoà giải ở cơ sở theo quy
định của pháp luật về hoà giải. Bên cạnh đó, với tính chất là tổ chức gần gũi, có
7
tầm ảnh hưởng sâu rộng và chi phối đến nhiều mặt của đời sống cộng đồng dân cư,
quy tụ một lực lượng đông đảo các thành phần xã hội tham gia, Mặt trận Tổ quốc
có lợi thế rất lớn khi tham gia công tác hoà giải ở cơ sở.
Ngoài ra, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên đối với công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Mặt trận tổ quốc
cũng quy định rất rõ trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
và các tổ chức thành viên của Mặt trận:
1. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về
hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực
hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen
thưởng về hòa giải ở cơ sở.
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ
sở.
2. Các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của
mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp
luật.
Trong việc hoà giải tranh chấp đất đai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng có
vai trò rất quan trọng Luật đất đai năm 20014 quy định: Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất
đai.
Vai trò của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc trước hết thể hiện trong việc phối hợp
với các cơ quan nhà nước hữu quan xây dựng, củng cố Tổ hoà giải và các tổ chức
hoà giải khác của nhân dân tại địa bàn. Lựa chọn, giới thiệu những người tiêu biểu,
đủ tiêu chuẩn là tổ viên Tổ hoà giải để nhân dân bầu. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã,
phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới
thiệu để nhân dân bầu tổ viên Tổ hoà giải. Đây là một thủ tục không thể thiếu để
đảm bảo tính khách quan, chính xác và đúng đắn trong quyết định lựa chọn thành
viên của Tổ hoà giải. Việc lựa chọn, giới thiệu người của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt nam phải được tiến hành trên cơ sở sự đánh giá, nhận xét về năng lực, phẩm
chất, thái độ, tinh thần tham gia… trên thực tế của cá nhân đối với tập thể, cụ thể là
việc tham gia các hoạt động, phong trào và hiệu quả công việc mà cá nhân đảm
nhận tại địa phương; uy tín của cá nhân được lựa chọn; đảm bảo sự thống nhất ý
kiến với các tổ chức thành viên… Sau khi đã có kết quả lựa chọn, Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tiến hành giới thiệu, công bố danh sách các cá nhân tiêu biểu đã
được chọn lựa để nhân dân bầu. Việc lựa chọn, giới thiệu người của Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc có tác dụng quan trọng đến việc tổ chức và thành lập Tổ hoà giải, tổ
viên Tổ hoà giải tạo tiền đề để Tổ hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải hoạt động có chất
lượng và hiệu quả.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên còn giúp đỡ, tạo điều
kiện về nhân lực (con người), về tinh thần (động viên, khuyến khích, thuyết phục)
8
đối với công tác hoà giải ở cơ sở, đồng thời tham gia hoà giải trực tiếp các vụ việc,
các tranh chấp, xích mích trong nhân dân. Thông qua mạng lưới của mình, Mặt trận
Tổ quốc đã cung cấp và bổ sung cho các tổ hoà giải lực lượng hoà giải viên đông
đảo. Thành viên tham gia Mặt trận Tổ quốc trước hết là những người có tâm huyết,
có năng lực và uy tín đối với nhân dân. Bởi vậy, khi tham gia hoạt động hoà giải họ
sẽ phát huy hết khả năng cũng như uy tín của mình để vận dụng trong các tình
huống hoà giải, mang lại hiệu quả hoà giải thành cao. Mặt khác, là tổ chức của
quần chúng nhân dân, ảnh hưởng của Mặt trận Tổ quốc rất tích cực tới bộ máy
chính quyền các cấp, nhất là ở cấp cơ sở. Qua những tác động tích cực của Mặt trận
Tổ quốc sẽ hướng chính quyền cơ sở giành nhiều sự quan tâm cũng như đầu tư cho
công tác hoà giải, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác này. Thực tế đã cho thấy
những địa phương nào thu hút được sự quan tâm của chính quyền sở tại đối với
công tác hoà giải, thì nơi đó hoạt động hoà giải thực sự phát huy hiệu quả thiết
thực, là cầu nối của tình làng, nghĩa xóm, là sợi dây gắn kết con người, mang lại sự
hoà hiếu, hoà thuận trong nhân dân.
Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn phối hợp với các cơ quan hữu
quan tham gia hướng dẫn hoạt động hoà giải về nghiệp vụ, về cơ cấu tổ chức… và
phối hợp tiến hành sơ kết, tổng kết công tác hoà giải ở cơ sở.
Bài 2. ho¹t ®éng hoµ gi¶i ë c¬ së
2.1. Nguyªn t¾c cña hoµ gi¶iở cơ sở
2.1.1. Khái niệm
Nguyên tắc hoà giải là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo mà khi tiến hành
hoạt động hoà giải phải tuân thủ một cách đầy đủ, toàn diện và nghiêm túc
2.1.2. Các nguyên tắc hòa giải
- Hoà giải phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân
Khi giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong nhân dân nếu như người
hoà giải chỉ căn cứ vào các chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc, phong tục
tập quán của địa phương, dòng họ để dàn xếp các mâu thuẫn, tranh chấp thì chưa
đủ và không hiệu quả. Các vụ việc nếu chỉ dừng lại ở các quy phạm đạo đức để hoà
giải thì chưa hẳn đã mang lại kết quả tích cực và thoả đáng. Một vụ việc chỉ được
giải quyết dứt điểm và có hiệu quả cao khi người hoà giải bên cạnh việc căn cứ vào
các chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán còn cần phải nắm vững và vận dụng
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là những quy định
pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân.
Để thực hiện nguyên tắc này, tổ viên Tổ hoà giải phải nắm vững đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Trước hết, cần nắm vững quy định
của pháp luật liên quan trực tiếp đến công tác hoà giải ở cơ sở như pháp luật dân
sự (quan hệ tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế,...), pháp
luật hôn nhân và gia đình (quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, quan hệ cha mẹ, con,
9
nhận nuôi con nuôi, ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng...), pháp luật về đất đai (quyền và
nghĩa vụ của người sử dụng đất...), pháp luật hành chính và pháp luật hình sự...
Bên cạnh việc hoà giải theo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, hoà giải viên cần phải kết hợp với các quy phạm đạo đức, phong tục, tập
quán tốt đẹp của nhân dân. Pháp luật được thể hiện ở hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Phong tục, tập quán
thường được thể hiện hoặc bằng ngôn ngữ như luật tục của đồng bào các dân tộc
thiểu số, các hương ước, quy ước làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, tổ dân phố, hoặc
bằng các thói quen ứng xử dưới dạng các hành động cụ thể. Phong tục, tập quán
được áp dụng phải là phong tục tập quán tốt đẹp, không trái với pháp luật và quy
tắc xây dựng nếp sống mới. Nếu phong tục, tập quán đã được quy định trong các
hương ước, quy ước làng thì phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê
duyệt thực hiện. Đối với các hủ tục, tập quán lỗi thời thì tuyệt đối không được vận
dụng để hoà giải.
- Hoà giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt
các bên tranh chấp phải tiến hành hoà giải
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoà giải ở cơ sở. Vì bản chất
của hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt
được thoả thuận trên cơ sở tự nguyện. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm quyền tự định
đoạt của các bên có tranh chấp trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh
chấp nhỏ.
Người làm công tác hoà giải phải hiểu được tâm lý của những người đang có
mâu thuẫn, tranh chấp, vì giữa những người đó thường có những lý lẽ cho rằng
mình đúng và không chấp nhận lý lẽ của bên kia. Do đó, khi hoà giải, tổ viên tổ hoà
giải phải giúp họ bình tĩnh, tỉnh táo để nhìn nhận ra sự thật, thấy rõ cái đúng, cái sai
của cả hai bên. Chỉ khi nào họ hiểu đúng đắn và thông cảm với nhau thì họ mới tự
nguyện cùng nhau giải quyết mọi mâu thuẫn.
Tuy nhiên có những trường hợp, nếu tiến hành hoà giải các bên có thể chưa
chấp nhận ngay thì tổ viên tổ hoà giải phải dùng phương pháp thuyết phục để hai
bên đi đến thoả thuận mà không được tìm cách áp đặt.
Một trong những phương pháp để hai bên đi đến thoả thuận trong trường hợp
họ không chấp nhận thì tổ viên tổ hoà giải phải nhờ đến sự trợ giúp của người đại
diện chính quyền như công an hay đại diện của tổ chức xã hội để tạo nên một tâm
lý nhất định đối với một hoặc các bên tranh chấp, để họ đồng ý chấp nhận việc hoà
giải. Đương nhiên sự tác động tâm lý này không được mang tính ép buộc mà chỉ là
sự hỗ trợ cho hoà giải viên thực hiện thành công việc hoà giải.
- Hoà giải phải khách quan, công minh, có lý, có tình, giữ bí mật thông tin đời
tư của các bên tranh chấp, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác,
không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng
Thông thường khi mâu thuẫn xảy ra, mỗi bên tranh chấp đều đưa ra lý lẽ để tự
bảo vệ mình cho mình là đúng, không nhìn nhận được cái sai của mình đã gây ra
10
cho người khác. Do đó người hoà giải phải thực sự khách quan, vô tư, công minh,
đề cao lẽ phải, tìm cách thuyết phục để mỗi bên hiểu rõ sai trái, không xuề xòa “dĩ
hoà vi quý” cho xong việc. Hơn nữa sự công minh, khách quan, vô tư của người
hoà giải sẽ là yếu tố để hai bên đặt lòng tin và cùng nhau giải quyết vụ việc.
Nguyên tắc có lý có tình là một trong những nguyên tắc đặc trưng nhất đối với
hoạt động hoà giải ở cơ sở so với loại hình hoà giải khác. Trong hoà giải ở cơ sở
cần tuân theo các quy phạm đạo đức, đề cao yếu tố tình cảm, khuyên nhủ các bên
ứng xử theo các chuẩn mực đạo đức. Tuy nhiên không chỉ áp dụng theo các quy
phạm đạo đức nói chung, trong từng trường hợp cụ thể hoà giải viên cần phải hiểu
và nắm vững các quy định của pháp luật để giải quyết sự việc và hướng dẫn các
bên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật.
Việc tuân thủ nguyên tắc này chính là sự bảo đảm đạt được mục đích của công
tác hoà giải là giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình
cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình, cộng đồng dân cư, phòng ngừa,
hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.
Trong quá trình thực hiện hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải phải giữ bí mật thông
tin về đời tư của các bên tranh chấp. Khi đã được các bên tranh chấp tin tưởng và
thổ lộ thông tin thầm kín về đời tư của mình cho hoà giải viên, thì hoà giải viên
không được phép tiết lộ thông tin đó cho người khác. Song cũng cần phân biệt giữa
bí mật thông tin đời tư cá nhân và thông tin bí mật của các bên tranh chấp về hành
vi bất hợp pháp mà họ đã thực hiện.
Bên cạnh đó, hoà giải phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
Nguyên tắc này mang tính pháp lý cao và thường được áp dụng cho mọi loại hình
hoà giải các tranh chấp kể cả việc hoà giải được thực hiện bởi Toà án và tổ chức
trọng tài. Đối với hoà giải ở cơ sở, các tranh chấp, xích mích trong đời sống sinh
hoạt hàng ngày liên quan đến sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt,
vệ sinh môi trường… thường liên quan đến nhiều người khác ngoài các bên tranh
chấp, do đó Tổ hoà giải không thể vì mục đích đạt được hoà giải thành mà làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Việc hoà giải phải tuân thủ
nguyên tắc không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
- Hoà giải phải kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp
luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kết quả hoà giải
Trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày có thể xảy ra những va chạm, xích
mích, tranh chấp nhỏ giữa các thành viên trong gia đình, họ tộc, xóm giềng, bạn
bè… với nhau mà nếu không được giải quyết kịp thời, có lý, có tình thì có thể từ
những va chạm, xích mích, mâu thuẫn nhỏ sẽ dễ trở thành những mâu thuẫn lớn.
Từ những tranh chấp, mâu thuẫn trong quan hệ dân sự, kinh tế, hôn nhân gia đình
có thể chuyển thành vụ án hình sự, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến trật tự chung.
Vì vậy, các hoà giải viên cần chủ động, kịp thời ngăn chặn hậu quả xấu, phòng
11
ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm hình sự có thể xảy ra để giữ gìn được tình làng,
nghĩa xóm, tình đoàn kết tương thân, tương ái trong cộng đồng, tập thể.
Để tạo cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc kịp thời, chủ
động trong hoạt động hoà giải ở cơ sở, Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải
ở cơ sở đã quy định: Tổ viên tổ hoà giải có thể chủ động hoà giải hoặc tổ chức việc
hoà giải theo sáng kiến của mình.
Khác với các loại hình hoà giải khác, pháp luật không quy định thời hạn tiến
hành việc hoà giải một tranh chấp do tổ hoà giải thực hiện. Việc hoà giải được kết
thúc khi các bên đã đạt được thoả thuận và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó. Quy
định này thể hiện một trong các đặc điểm của thực tiễn hoạt động công tác hoà giải
ở cơ sở là có nhiều việc tranh chấp trong cộng đồng dân cư đòi hỏi tổ viên tổ hoà
giải phải kiên trì việc hoà giải. Người hoà giải đến gặp gỡ từng bên để lắng nghe,
thuyết phục rồi sau đó tổ chức cho các bên trực tiếp gặp nhau ở một nơi thuận tiện,
giúp họ thông cảm với nhau. Cuộc gặp gỡ phải tránh biến thành cuộc đối chất giữa
hai bên trong bầu không khí căng thẳng. Sau khi tìm hiểu đầy đủ sự việc, lắng nghe
ý kiến của các bên, người hoà giải phải bằng tất cả sự cảm thông, khéo léo phân
tích, thuyết phục cho các bên đạt tới thoả thuận phù hợp với pháp luật, đạo đức, tập
quán tốt đẹp của nhân dân và cùng nhau thực hiện những thoả thuận đó.
2.2. Ph¹m vi hoµ gi¶i
2.2.1. Những vụ việc được hoà giải
a) Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính
tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử
dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh
chung hoặc các lý do khác);
b) Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu,
nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;
c) Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát
sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông bà
nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia
đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn;
d) Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó
chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính;
đ) Vi phạm pháp luật hình sự trong các trường hợp sau đây:
Không bị khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình
sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo
quy định của pháp luật;
12
Pháp luật quy định chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, nhưng
người bị hại không yêu cầu khởi tố theo quy định tại Khoản 1 Điều 105 của Bộ luật
tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính theo quy định của pháp luật;
Vụ án đã được khởi tố, nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố
tụng về đình chỉ điều tra theo quy định tại Khoản 2 Điều 164 của Bộ luật tố tụng
hình sự hoặc đình chỉ vụ án theo quy định tạiKhoản 1 Điều 169 của Bộ luật tố tụng
hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
theo quy định của pháp luật;
e) Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã,
phường, thị trấn hoặc có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm
hành chính theo quy định tại Chương II Phần thứ năm của Luật xử lý vi phạm hành
chính;
g) Những vụ, việc khác mà pháp luật không cấm.
2.2.2 Không hòa giải các trường hợp sau đây:
a) Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;
b) Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà theo quy định của pháp luật
phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, giao dịch dân sự vi phạm
điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội;
c) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự,
trừ các trường hợp mà pháp luật cho phép có thể hòa giải được;
d) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị xử lý vi phạm hành chính, trừ
các trường hợp quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP
ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hòa giải cơ sở;
đ) Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở quy định tại Điểm
d Khoản 1 Điều 3 của Luật hòa giải ở cơ sở, bao gồm:
Hòa giải tranh chấp về thương mại được thực hiện theo quy định của Luật
thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành;
Hòa giải tranh chấp về lao động được thực hiện theo quy định của Bộ luật lao
động và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2.3. Phương pháp và các bước tiến hành hòa giải
13
2.3.1. Quyền tiến hành hoà giải
a) Tổ hoà giải
Việc hoà giải do các tổ viên Tổ hoà giải tiến hành hoặc tổ chức tiến hành
trong các trường hợp sau:
+ Tổ viên Tổ hoà giải chủ động tiến hành hoà giải hoặc mời người ngoài Tổ
hoà giải thực hiện việc hoà giải theo sáng kiến của mình trong trường hợp trực tiếp
chứng kiến hoặc biết về việc tranh chấp.
Khi tổ viên Tổ hoà giải chứng kiến hoặc biết việc tranh chấp trong cộng đồng
dân cư thì có thể tự mình chủ động gặp gỡ ngay các bên tranh chấp để thực hiện
việc hoà giải. Việc chủ động có mặt của tổ viên Tổ hoà giải trong nhiều trường hợp
là rất cần thiết, có thể giải quyết các việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ một
cách kịp thời, tránh để chuyện bé xé ra to, việc đơn giản thành việc phức tạp.
Tổ viên Tổ hoà giải có thể đứng ra tổ chức việc hoà giải theo sáng kiến của
mình, có thể mời người ngoài Tổ hoà giải thực hiện việc hoà giải để cùng thuyết
phục các bên tranh chấp.
Trong trường hợp tổ viên Tổ hoà giải mời người ngoài Tổ hoà giải cùng tham
gia việc hoà giải thì tổ viên Tổ hoà giải vẫn đóng vai trò người thực hiện việc hoà
giải và người được mời có vai trò giúp đỡ tổ viên thực hiện việc hoà giải. Người
được mời có thể là người có trình độ pháp luật, có kiến thức xã hội, có uy tín, đóng
vai trò “tư vấn pháp luật” cho tổ viên Tổ hoà giải. trong trường hợp cần thiết,
“người được mời” tham gia thuyết phục các bên, phân tích về góc độ pháp lý đối
với tranh chấp cho các bên hiểu và cùng thống nhất đi tới kết quả hoà giải.
+ Thực hiện việc hoà giải theo sự phân công của tổ trưởng Tổ hoà giải, theo
đề nghị của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
Bên cạnh việc chủ động tiến hành hoặc tổ chức tiến hành hoà giải, tổ viên Tổ
hoà giải còn thực hiện việc hoà giải theo sự phân công của Tổ trưởng hay theo đề
nghị của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân. Trong trường hợp này, tổ viên Tổ hoà
giải phải tìm hiểu rõ các bên tranh chấp, nguyên nhân tranh chấp, dự kiến cách thức
hoà giải cũng như việc có cần mời người ngoài Tổ hoà giải tham gia giải quyết
tranh chấp hay không để việc hoà giải đạt được hiệu quả.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết tổ viên Tổ hoà giải có thể từ
chối việc hoà giải hoặc đề nghị mời tổ viên khác vì thấy mình có liên quan đến vụ
việc hoà giải hoặc liên quan đến một trong hai bên tranh chấp nhằm đảm bảo việc
hoà giải được khách quan, công bằng.
+ Thực hiện việc hoà giải theo yêu cầu của một bên hoặc các bên tranh chấp
Khi các bên tranh chấp tìm đến để yêu cầu thực hiện hoà giải, tổ viên Tổ hoà
giải cần cân nhắc xem việc tranh chấp được yêu cầu hoà giải có thuộc phạm vi giải
quyết bằng hoà giải ở cơ sở hay không. Vì trong thực tiễn, phần lớn các bên tranh
chấp tìm đến Tổ hoà giải là vì Tổ hoà giải là nơi thuận tiện nhất, giải quyết kịp thời
các tranh chấp, xích mích vừa phát sinh... nên tạo được uy tín trong cộng đồng dân
14
cư, song cũng không ít trường hợp, các bên tranh chấp tìm đến Tổ hoà giải không
phải để được giải quyết bằng con đường hoà giải đối với các tranh chấp, xích mích
mà nhằm mục đích trốn tránh việc xử lý thoả đáng của pháp luật đối với hành vi vi
phạm pháp luật mà họ gây ra. Ví dụ người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự,
phạm tội cố ý gây thương tích cho người khác nhưng lại tìm đến việc hoà giải để
trốn tránh hình phạt của pháp luật.
b) Thông qua hoạt động của các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở
thôn, xóm, bản, tổ dân phố và các cụm dân cư khác phù hợp với pháp luật,
đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân: hoà giải của các
thành viên trong gia đình, họ tộc, hoà giải của các tổ chức tự quản của nhân dân,
các đoàn thể xã hội...
2.3.2. Thời gian, địa điểm tiến hành việc hoà giải
Thời gian tiến hành việc hòa giải tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các bên đương
sự và tổ viên Tổ hoà giải. Việc hoà giải có thể được tiến hành theo sáng kiến của tổ
viên Tổ hoà giải ngay tại thời điểm xảy ra tranh chấp nếu tổ viên Tổ hoà giải là
người chứng kiến và xét thấy cần thiết phải hoà giải ngay. Thực tế cho thấy thời
gian tốt nhất là vào lúc đã xong công việc, không còn bận rộn vào việc khác như
buổi tối, ngày nghỉ, giờ nghỉ là những lúc thư thái, tĩnh tâm dễ cảm thông với nhau.
Việc chọn thời gian do kinh nghiệm và điều kiện cụ thể của tổ viên cũng như
hoàn cảnh của các bên, nhưng càng gần thời gian phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp
càng tốt (có thể ngay sau khi có tranh chấp).
Địa điểm hoà giải do tổ viên Tổ hoà giải lựa chọn sao cho thuận lợi nhất cho
việc hoà giải, phù hợp với nguyện vọng của các bên. Việc chọn địa điểm tuỳ thuộc
kinh nghiệm của tổ viên Tổ hoà giải và điều kiện cụ thể nơi có vi phạm, tranh chấp.
2.3.3. Người tiến hành việc hoà giải
Việc hoà giải có thể do một hoặc một số tổ viên Tổ hoà giải tiến hành (kể cả tổ
trưởng Tổ hoà giải). Đây là một quy định rất đặc thù đối với hoạt động hoà giải ở
cơ sở. Trong hoạt động hoà giải tại Toà án phải tuân theo thủ tục tố tụng, pháp luật
quy định cụ thể số thẩm phán trong hội đồng xét xử đối với từng cấp xét xử và từng
loại vụ việc. Hoà giải của tổ chức trọng tài, số trọng tài viên tham gia giải quyết vụ
việc là một hoặc ba là do các bên tranh chấp yêu cầu. Nhưng đối với hoà giải ở cơ
sở, pháp luật không quy định cụ thể số lượng tổ viên Tổ hoà giải tham gia hoà giải
trong các trường hợp. Do vậy, các tổ viên Tổ hoà giải có thể tự quyết định số tổ
viên tham gia hoà giải đối với từng vụ, việc cụ thể. Đối với những việc tranh chấp
tương đối phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên gay gắt, sự có mặt của một số tổ viên
Tổ hoà giải sẽ tác động nhiều hơn đến khía cạnh tâm lý của các bên tranh chấp
hoặc mỗi tổ viên Tổ hoà giải sẽ đứng ra thuyết phục mỗi bên.
Trong trường hợp cần thiết, tổ viên tổ hoà giải có thể mời người ngoài Tổ thực
hiện việc hoà giải hoặc cùng tham gia hoà giải. Tổ viên Tổ hoà giải không tiến
hành việc hoà giải nếu họ là người có liên quan đến vụ việc cần được hoà giải hoặc
vì những lý do cá nhân khác mà không thể bảo đảm hoà giải được khách quan hoặc
15
không đem lại kết quả. Trong trường hợp này, Tổ trưởng Tổ hoà giải sẽ không
phân công tổ viên đó thực hiện việc hoà giải.
2.3.4. Hoà giải các tranh chấp mà các đương sự ở các cụm dân cư khác
nhau
Trong trường hợp các bên tranh chấp ở các cụm dân cư có các tổ hoà giải khác
nhau, thì các Tổ hoà giải phải có sự phối hợp để cùng giải quyết vụ việc. Việc phối
hợp hoà giải phải do Tổ trưởng hoặc người được Tổ trưởng phân công hoà giải
thực hiện. Các tổ viên là người thực hiện việc hoà giải cũng có thể chủ động phối
hợp với nhau nhưng phải báo cáo ngay với Tổ trưởng về việc phối hợp thực hiện
việc hoà giải.
Thực tiễn công tác hoà giải thời gian qua cho thấy không ít những trường hợp
các bên tranh chấp ở các cụm dân cư khác nhau (làng này với làng khác, thôn này
với thôn khác, xã này với xã khác...) đã xảy ra thường khá phức tạp, gay gắt. Bởi
vậy, những người thực hiện hoà giải ở các địa bàn khác nhau phải có sự phối hợp
với nhau để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên. Trong trường hợp mâu
thuẫn, tranh chấp giữa các bên gay gắt, có thể gây hậu quả ảnh hưởng đến trật tự,
an ninh trên địa bàn dân cư thì các tổ hoà giải kiến nghị cơ quan có thẩm quyền có
biện pháp giải quyết kịp thời.
2.3.5. Phương thức và các bước tiến hành hoà giải
a) Phương thức tiến hành hoà giải
Việc hoà giải được tiến hành chủ yếu bằng lời nói: tổ viên Tổ hoà giải trực
tiếp gặp gỡ các bên, dùng tình cảm, lý lẽ để thuyết phục các bên đạt được sự thoả
thuận tự giải quyết các tranh chấp, vi phạm.
Trong trường hợp các bên tranh chấp yêu cầu tổ viên Tổ hoà giải lập biên bản
hoà giải thì Tổ hoà giải lập biên bản. Tuy nhiên, biên bản hoà giải không phải là
một chứng cứ pháp lý và cũng không làm phát sinh hậu quả pháp lý. Đó chỉ là sự
thoả thuận giữa các bên mang ý nghĩa đạo lý, danh dự và tạo nên một sự ràng buộc
về mặt đạo lý và tâm lý giữa các bên. Trong trường hợp đã có biên bản hoà giải
thành nhưng sau đó các bên lại không muốn thực hiện thoả thuận đó thì không ai có
quyền cưỡng chế các bên thi hành kết quả hoà giải thành đã được ghi nhận trong
biên bản. Tổ hoà giải cũng chỉ có thể dựa vào biên bản hoà giải để thuyết phục các
bên thực hiện kết quả hoà giải.
Trong trường hợp được các bên đồng ý, việc hoà giải cũng có thể lập thành
biên bản. Tổ viên Tổ hoà giải có thể dựa vào biên bản hoà giải để làm cơ sở cho
việc thuyết phục các bên tranh chấp đạt tới thoả thuận và thực hiện thoả thuận. Đối
với việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nếu hoà giải không thành thì tổ viên
Tổ hoà giải nên lập biên bản hoà giải không thành làm cơ sở pháp lý để Toà án thụ
lý vụ việc.
Tuy nhiên, từ quy định của Pháp lệnh, thì hoà giải do tổ hoà giải thực hiện
không nhất thiết phải tuân theo một thủ tục chặt chẽ mà có thể tiến hành hoà giải ở
mọi lúc, mọi nơi mà tổ viên Tổ hoà giải thấy thuận tiện cho việc hoà giải và việc
16
hoà giải đạt kết quả, không cần trụ sở, biên bản, bàn giấy…tổ viên Tổ hoà giải chỉ
dùng lời lẽ thuyết phục các bên, giúp họ đạt được thoả thuận.
b) Các bước tiến hành hoà giải
Từ thực tiễn hoạt động hoà giải có thể khái quát các bước tiến hành hoà giải
được thực hiện như sau:
Bước 1: Trước khi hoà giải
- Khi xảy ra vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên, người hoà giải cần có
mặt kịp thời gặp gỡ các bên tranh chấp để can ngăn, dàn xếp, làm dịu tình hình
căng thẳng giữa các bên; khuyên nhủ hai bên có thái độ đúng mực, tôn trọng trật tự
trị an, phải, trái, đúng, sai sẽ được giải quyết rõ rang. Đồng thời nhắc nhở quần
chúng xung quanh có trách nhiệm ổn định tình hình, không nên có thái độ châm
chọc, kích động “lửa cháy đổ thêm dầu”, không nên kéo bè, lập cánh tổ chức thành
cuộc ẩu đả lớn dẫn đến hành vi phạm tội… Đối với những vụ việc như đánh nhau,
gây mất trật tự, an ninh trên địa bàn dân cư, tổ viên Tổ hoà giải cần có biện pháp
ngăn chặn kịp thời và hạn chế các thiệt hại về người, về vật chất có thể xảy ra;
- Tìm hiểu nhanh nguyên nhân gây ra vụ việc, kịp thời thuyết phục, không để
“việc bé xé ra to”, “việc đơn giản thành việc phức tạp”;
- Có thể hội ý nhanh trong tổ hoà giải để bàn biện pháp hoà giải, phân công
các hoà giải viên nắm chắc vụ việc, tiếp xúc với các đương sự để tiến hành hoà giải
kịp thời. Nếu gặp vụ việc tranh chấp phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên gay gắt, có
thể gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trong địa bàn dân cư thì Tổ hoà giải kịp
thời báo cáo, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp giải quyết.
Đây là bước quan trọng, nếu làm tốt bước này sẽ hạn chế, ngăn ngừa mâu
thuẫn phát triển, tạo điều kiện cho việc hoà giải tiếp theo.
Bước 2: Tiến hành hoà giải
Đây là bước quan trọng có tính chất quyết định thành công hay thất bại của
việc hoà giải. Để thực hiện bước này, tổ viên Tổ hoà giải cần làm những việc sau:
- Trực tiếp trao đổi với từng bên, tìm hiểu thêm các nguyên nhân mâu thuẫn,
tranh chấp phát sinh;
- Lựa chọn thời gian thích hợp để các bên gặp gỡ, trao đổi phân tích vụ việc,
làm rõ đúng sai, dựa vào quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức, phong tục
tập quán để phân tích cho các bên thấy rõ lỗi của mình;
- Nắm chắc đặc điểm, tâm lý của từng bên cũng như tính chất vụ việc để áp
dụng “nghệ thuật” hoà giải, tránh vội vàng, nôn nóng, “chụp mũ” hoặc làm tổn hại
đến danh dự, tự ái cá nhân của các bên;
- Khi hoà giải tại gia đình (hoặc nơi do các bên tranh chấp yêu cầu), chủ yếu
dùng tình cảm, uy tín, lẽ phải để thuyết phục các bên, không nên hình thức, phức
tạp hoá trong khâu tổ chức thực hiện;
- Tuỳ từng trường hợp cụ thể, người tiến hành hoà giải chủ trì buổi gặp gỡ trao
đổi, có thể mời thêm một số người làm chứng hoặc đại diện của một số tổ chức
17
đoàn thể, người cao tuổi, người có uy tín, bạn bè thân thích... tham gia. Việc gặp gỡ
trong buổi hoà giải phải tạo ra được thái độ thân mật, cởi mở và chân thành trên cơ
sở “tình làng, nghĩa xóm”, không lấy biểu quyết hoặc dùng áp lực, áp đặt thoả
thuận của các bên.
Bước 3. Sau khi hoà giải
Trong bước này, người tiến hành hoà giải có thể thực hiện các công việc sau:
- Nếu vụ việc hoà giải thành, tổ viên Tổ hoà giải cần động viên, thăm hỏi các
bên và nhắc nhở các bên thực hiện cam kết của mình, tạo điều kiện để họ thực hiện
tốt cam kết. Có thể biểu dương, động viên kịp thời việc thực hiện các cam kết của
các bên trong các cuộc họp dân cư;
- Nếu vụ việc hoà giải không thành thì tổ hoà giải cần dàn xếp ổn định và
hướng dẫn các bên đề nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.
Dù hoà giải thành hay không thành, người làm công tác hoà giải cũng cần ghi
chép vào sổ công tác về hoà giải để phục vụ cho việc thống kê báo cáo và tổ chức
hội ý rút kinh nghiệm trong tổ hoặc đề đạt xin ý kiến của Ban Tư pháp xã.
Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành hoà giải
- Thường xuyên nắm tình hình để kịp thời phát hiện và có các biện pháp thích
hợp để ngăn chặn các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư;
- Cần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến
vụ việc hoà giải đặc biệt là những người có vai trò quan trọng và uy tín cao trong
gia đình, họ tộc và trong cộng đồng dân cư. Đối với vùng sâu, vùng xa, đồng bào
dân tộc cần chú ý và phát huy vai trò của Già làng, Trưởng buôn, Trưởng bản...;
- Khi vận dụng các phong tục tập quán của từng địa phương vào việc hoà giải
cần xem xét phong tục, tập quán đó có trái với chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước hay không. Chỉ được vận dụng các phong tục
tập quán tốt đẹp, không trái với những quy định của pháp luật.
Bài 3: tæ hoµ gi¶i, tæ viªn tæ hoµ gi¶i.
1. Tæ hoµ gi¶i
Tæ hoµ gi¶i ë c¬ së lµ tæ chøc tù qu¶n cña nh©n d©n
® îc thµnh lËp ë th«n, xãm, b¶n, tæ d©n phè vµ c¸c côm
d©n c ®Ó thùc hiÖn hoÆc tæ chøc thùc hiÖn viÖc hoµ
gi¶i nh÷ng vi ph¹m ph¸p luËt vµ tranh chÊp nhá trong
nh©n d©n theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
Tæ hoµ gi¶i cã tæ tr ëng vµ c¸c tæ viªn (gäi lµ hoµ
gi¶i viªn). Mçi tæ hoµ gi¶i cã Ýt nhÊt tõ 3 tæ viªn trë
lªn. C¨n cø ®Æc ®iÓm t×nh h×nh cña th«n, b¶n, côm d©n
c
vµ kÕt qu¶ cuéc häp th«n, xãm, tæ d©n phè hoÆc kÕt
qu¶ cuéc häp chñ hé hoÆc kÕt qu¶ phiÕu lÊy ý kiÕn chñ
hé, Chñ tÞch UBND x·, ph êng, thÞ trÊn quyÕt ®Þnh sè
18
l îng tæ hoµ gi¶i ë mçi th«n, b¶n, tæ d©n phè, côm d©n
c trªn ®Þa bµn m×nh phô tr¸ch.
2. Tæ viªn, tổ trưởng tæ hoµ gi¶i
2.1. Tiªu chuÈn cña tæ viªn tæ hoµ gi¶i
Tæ viªn tæ hoµ gi¶i do UBMT Tæ quèc x·, ph êng, thÞ
trÊn phèi hîp víi c¸c tæ chøc thµnh viªn cña MÆt trËn
lùa chän, giíi thiÖu ®Ó nh©n d©n bÇu vµ ® îc Chñ tÞch
UBND x·, ph êng, thÞ trÊn ra quyÕt ®Þnh c«ng nhËn. Tæ
viªn tæ hoµ gi¶i lµ c«ng d©n ViÖt Nam tõ 18 tuæi trë
lªn, cã n¨ng lùc hµnh vi d©n sù ®Çy ®ñ vµ cã ®ñ c¸c
tiªu chuÈn sau:
- Cã phÈm chÊt ®¹o ®øc tèt, nghiªm chØnh chÊp hµnh
chñ tr ¬ng, chÝnh s¸ch cña §¶ng, ph¸p luËt cña Nhµ n íc
vµ cã uy tÝn trong nh©n d©n;
- Cã kh¶ n¨ng thuyÕt phôc, vËn ®éng nh©n d©n thùc
hiÖn chÝnh s¸ch ph¸p luËt, quy ®Þnh cña ®Þa ph ¬ng;
- Tù nguyÖn tham gia tæ chøc hoµ gi¶i, cã tinh thÇn
tr¸ch nhiÖm, nhiÖt t×nh trong c«ng t¸c hoµ gi¶i.
2.2. NhiÖm vô, quyÒn h¹n cña tæ viªn tæ hoµ gi¶i:
- Thùc hiÖn viÖc hoµ gi¶i c¸c vô viÖc theo quy ®Þnh
cña ph¸p luËt;
- Th«ng qua ho¹t ®éng hoµ gi¶i tuyªn truyÒn, vËn
®éng nh©n d©n nghiªm chØnh chÊp hµnh ph¸p luËt;
- §èi víi nh÷ng tranh chÊp kh«ng thuéc ph¹m vi hoµ
gi¶i nh ng xÐt thÊy cã thÓ ¶nh h ëng ®Õn an ninh trËt
tù ë ®Þa ph ¬ng th× tæ viªn tæ hoµ gi¶i ph¶i b¸o c¸o
UBND x·, ph êng, thÞ trÊn kÞp thêi xem xÐt, cã biÖn
ph¸p gi¶i quyÕt ng¨n chÆn vi ph¹m ph¸p luËt vµ h¹n chÕ
thÊp nhÊt nh÷ng thiÖt h¹i cã thÓ x¶y ra.
2.3. Tæ tr ëng tæ hoµ gi¶i
2.3.1. Vai trò: Là ng êi ® îc bÇu trong sè c¸c hoµ gi¶i
viªn vµ ® îc Chñ tÞch UBND x·, ph êng, thÞ trÊn ra
quyÕt ®Þnh c«ng nhËn ®Ó phô tr¸ch tæ hoµ gi¶i. §ång
thêi, tham gia ho¹t ®éng hoµ gi¶i víi t c¸ch lµ hoµ
gi¶i viªn.
2.3.2. NhiÖm vô quyÒn h¹n của Tổ trưởng tổ hòa giải
- Ph©n c«ng, ®iÒu hoµ phèi hîp ho¹t ®éng cña tæ viªn
tæ hoµ gi¶i, phèi hîp víi c¸c tæ hoµ gi¶i trong viÖc
n©ng cao nghiÖp vô vµ trong ho¹t ®éng hoµ gi¶i tranh
19
chÊp liªn quan ®Õn ®Þa bµn ho¹t ®éng cña c¸c tæ hoµ
gi¶i ®ã;
- Tæ chøc c¸c cuéc häp ®Þnh kú vµ ®ét xuÊt ®Ó rót
kinh nghiÖm vÒ c«ng t¸c hoµ gi¶i vµ ®Ò xuÊt víi UBND
x·, ph êng, thÞ trÊn vÒ c¸c biÖn ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶
cña c«ng t¸c hoµ gi¶i; cung cÊp tµi liÖu vµ c¸c th«ng
tin n©ng cao nghiÖp vô hoµ gi¶i cho c¸c hoµ gi¶i viªn
trong tæ;
- Thùc hiÖn b¸o c¸o ®Þnh kú vµ ®ét xuÊt vÒ kÕt qu¶
ho¹t ®éng cña tæ hoµ gi¶i, cña hoµ gi¶i viªn ®èi víi
UBND vµ UBMT Tæ quèc x·, ph êng, thÞ trÊn;
- §¹i diÖn cho tæ hoµ gi¶i trong quan hÖ víi tr ëng
th«n, xãm, b¶n, tæ tr ëng tæ d©n phè (nÕu tæ tr ëng tæ
hoµ gi¶i kh«ng ®ång thêi lµ tr ëng th«n, b¶n...), víi
c¬ quan Nhµ n íc, tæ chøc chÝnh trÞ - x· héi ë c¬ së.
3. Thñ tôc bÇu, miÔn nhiÖm tæ viªn, tæ tr ëng tæ hoµ
gi¶i
3.1. Thñ tôc bÇu tæ viªn, tæ tr ëng tæ hoµ gi¶i
Hoµ gi¶i viªn cña tæ hoµ gi¶i ë th«n, b¶n, tæ d©n
phè nµo do nh©n d©n cña th«n b¶n, tæ d©n phè ®ã bÇu ra.
Tr íc khi tæ chøc bÇu hoµ gi¶i viªn,
Ban T ph¸p x·
chñ ®éng phèi hîp víi UBMT Tæ quèc cïng cÊp vµ tr ëng
th«n, b¶n... lËp danh s¸ch nh÷ng c¸ nh©n ®ñ ®iÒu kiÖn
lµm c«ng t¸c hoµ gi¶i ë c¬ së theo quy ®Þnh cña ph¸p
luËt. Danh s¸ch nµy giao cho tr ëng th«n (b¶n, tæ d©n
phè, côm d©n c ) tr íc khi tæ chøc häp nh©n d©n ®Ó bÇu
ra tæ viªn tæ hoµ gi¶i theo mét trong nh÷ng h×nh thøc
sau:
a. Häp d©n bµn, biÓu quyÕt c«ng khai hoÆc bá phiÕu
kÝn.
b. Häp chñ hé trong th«n, xãm, b¶n, tæ d©n phè vµ
côm d©n c biÓu quyÕt c«ng khai hoÆc bá phiÕu kÝn.
c. Tr êng hîp kh«ng tæ chøc häp ® îc th× ph¸t phiÕu
lÊy ý kiÕn chñ hé gia ®×nh vÒ viÖc bÇu hoµ gi¶i viªn.
- Tr êng hîp tæ chøc häp toµn thÓ nh©n d©n
(nh÷ng ng êi trong ®é tuæi lao ®éng), häp chñ hé ®Ó bÇu
hoµ gi¶i viªn cÇn tu©n theo tr×nh tù, thñ tôc sau ®©y:
+ B íc chuÈn bÞ: Tuú t×nh h×nh thùc tÕ cña
®Þa ph ¬ng mµ Tr ëng th«n (b¶n, tæ d©n phè, côm d©n c )
xem xÐt quyÕt ®Þnh triÖu tËp häp toµn thÓ nh©n d©n hay
häp chñ hé gia ®×nh ®Ó bÇu hoµ gi¶i viªn; quyÕt ®Þnh
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Nghiệp vụ công tác hòa giải cơ sở", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_nghiep_vu_cong_tac_hoa_giai_co_so.pdf

