Chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp dưới góc độ so sánh

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
CHUYỂN GIAO QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ  
THEO HỢP ĐỒNG TRƯỚC ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH  
Huỳnh Thiên Tứ*  
*NCS. ThS. Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Hợp đồng trước đăng  
ký doanh nghiệp, chuyển giao  
quyền và nghĩa vụ, Luật Doanh  
nghiệp.  
Luật Doanh nghiệp năm 2020 sửa đổi quy định về đối tượng ký kết hợp  
đồng trước đăng ký doanh nghiệp, đồng thời bổ sung quy định về chuyển  
giao quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng giữa các bên theo quy định của Bộ  
luật Dân sự. Quy định mới không chỉ thay đổi về cách nhìn nhận đối với  
tư cách chủ thể giao kết mà còn tạo cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng hơn  
cho các bên liên quan đến hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp. Trên  
cơ sở đánh giá lý thuyết về hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp và so  
sánh với hướng tiếp cận của pháp luật Trung Quốc, tác giả phân tích các  
quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo  
hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp, và đưa ra kiến nghị hoàn thiện  
pháp luật về vấn đề này.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 24/12/2020  
: 14/01/2021  
: 17/01/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The Law on Enterprises of 2020 consists of provisions on on the  
legal subject who entered into a pre-incorporation contract, moreover,  
it requires the contractual parties to transfer respective rights and  
responsibilities in accordance with the Civil Code. With this new rule,  
a new regard has been given to the promoter who enters into a pre-  
incorporation contract, at the same time, parties are entitled to liabilities  
in a clearer manner. This article provides an analysis of the Vietnamese  
approach to pre-incorporation contractual rights and responsibilities  
transfer and also provides recommendations for further improvements.  
Keywords:  
Pre-incorporation  
contract, transfer of rights  
and responsibilities, Law on  
Enterprises  
Article History:  
Received  
Edited  
: 24 Dec. 2020  
: 14 Jan. 2021  
: 17 Jan. 2021  
Approved  
1. Hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp  
Hợp đồng trước đăng ký DN có các đặc  
điểm sau đây:  
1.1. Khái quát hợp đồng trước đăng ký  
doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam  
Thứ nhất, một trong các bên giao kết  
hợp đồng là người thành lập DN. Theo  
khoản 25 Điều 4 Luật DN năm 2020,  
người thành lập DN là cá nhân, tổ chức  
thành lập hoặc góp vốn để thành lập DN.  
Như vậy, người ký kết hợp đồng trước  
đăng ký DN theo Luật DN năm 2020 có  
thể vừa là (a) cá nhân, tổ chức thành lập  
Theo quy định của Điều 18 Luật Doanh  
nghiệp (DN) năm 2020, hợp đồng trước đăng  
kýDNlàhợpđồngđượcgiaokếtbởimộtbênlà  
ngườithànhlậpDN,phụcvụchoviệcthànhlập  
và hoạt động của DN trước và trong quá trình  
đăng ký DN.  
Số 08(432) - T4/2021  
35  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
DN, cũng có thể là (b) cá nhân, tổ chức  
góp vốn để thành lập DN.  
Bốn đặc điểm trên đã khái quát hoá định  
nghĩa của hợp đồng trước đăng ký DN theo  
cách nhìn nhận hiện đại của pháp luật Việt  
Nam. Các hợp đồng này có thể là hợp đồng  
được người thành lập DN giao kết với người  
không phải người thành lập DN, hoặc có thể là  
hợp đồng giao kết giữa những người thành lập  
DN với nhau3. Tuy nhiên, vấn đề được quan  
tâm nhất về dạng hợp đồng này là sự xung đột  
giữa chủ thể giao kết và chủ thể thực hiện hợp  
đồng, từ đó gây ra sự khó khăn trong việc xác  
định chủ thể chịu trách nhiệm với bên đối ứng.  
Thứ hai, mục đích của việc giao kết hợp  
đồng là nhằm phục vụ cho việc thành lập  
và hoạt động của DN. DN có tư cách pháp  
nhân, nên DN phải chịu trách nhiệm bằng  
tài sản của chính pháp nhân đối với nghĩa  
vụ và trách nhiệm phát sinh do vi phạm  
hợp đồng1. DN tương lai sẽ phải tiếp nhận  
thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ một hợp  
đồng mà chính pháp nhân DN không ký kết.  
Thứ ba, thời điểm giao kết hợp đồng  
là trước và trong quá trình thành lập DN.  
Như đã phân tích ở trên, thời điểm DN chưa  
thành lập thì chưa có tư cách pháp nhân để  
trở thành một bên chủ thể của hợp đồng. Có  
thể dựa trên các quy định riêng tại từng chế  
định về các loại hình DN để xác định thời  
điểm DN được thành lập. Công ty2 có tư  
cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy  
chứng nhận đăng ký DN, chính vì vậy, từ  
thời điểm ấy trở đi, các công ty mới có thể  
tự mình xác lập, thực hiện và thay đổi hợp  
đồng với chủ thể khác. Trước thời điểm ấy,  
các hợp đồng được giao kết vì lợi ích công  
ty thì do người thành lập công ty giao kết.  
1.2. Hợp đồng trước đăng ký doanh  
nghiệp theo lý thuyết hợp đồng vì lợi ích  
của người thứ ba  
Theo học giả Liang Yuxian (Lương Vũ  
Hiền) của Đài Loan (Trung Quốc), một  
trong các lý thuyết về hợp đồng được áp  
dụng để định vị hợp đồng trước thành lập  
DN là thuyết hợp đồng vì lợi ích của người  
thứ ba. Theo thuyết hợp đồng vì lợi ích của  
bên thứ ba, hợp đồng trước đăng ký DN có  
thể được lý giải như sau:  
Thứ nhất, người thành lập DN nhân danh  
chính mình giao kết hợp đồng với bên dự  
hứa vì lợi ích của DN chưa được thành lập.  
Đây là một dạng thỏa thuận, theo đó một  
bên yêu cầu bên kia thực hiện một nghĩa vụ  
vì lợi ích của một bên thứ ba. Theo Nguyễn  
Thị Quỳnh Yến và Ngô Quốc Chiến, có thể  
chia dạng hợp đồng này thành hai loại: loại  
thứ nhất, người giao kết vẫn được hưởng lợi  
ích từ việc thực hiện nghĩa vụ của bên đối  
Thứ tư, trường hợp DN không được  
thành lập, người mang nghĩa vụ và chịu  
trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng là  
người trực tiếp giao kết hợp đồng, trong  
trường hợp này là người thành lập DN.  
Trường hợp DN được thành lập, DN phải  
tiếp tục thực hiện hợp đồng.  
1 PGS. TS. Nguyễn Ngọc Điện, “Giáo trình Luật Dân sự tập 1,” Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2016, tr.74-85.  
2 Ở Việt Nam, các DN có tư cách pháp nhân bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (khoản  
2 Điều 46 Luật DN năm 2020), công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (khoản 2 Điều 74 Luật DN năm  
2020), công ty cổ phần (khoản 2 Điều 111 Luật DN năm 2020) và hợp danh (khoản 2 Điều 177 Luật DN năm  
2020). Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, nhưng không nằm trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này.  
3 Xem Phạm Hoài Huấn (Chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Lê, Đặng Quốc Chương, Lê Nhật Bảo, “Luật DN Việt  
Nam Tình huống - Dẫn giải - Bình luận”, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, năm 2019, tr. 66-67. Trong sách này,  
các tác giả nhận định thoả thuận cổ đông/thành viên có thể được xem là hợp đồng trước đăng ký DN.  
36  
Số 08(432) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
ứng và loại thứ hai, người giao kết không  
được hưởng lợi ích gì mà chỉ có bên thứ ba  
ngoài hợp đồng hưởng lợi ích mà thôi4.  
đồng bãi ước, với điều kiện người đệ tam  
chưa chấp thuận việc giao kết này. Tiếp cận  
từ lý thuyết này, DN sau thành lập sẽ có  
quyền lực tuyệt đối trong việc quyết định  
bản thân có là một bên của hợp đồng hay  
không. Nếu DN sau thành lập chấp thuận  
việc giao kết, người giao kết hợp đồng  
không được bãi ước, tức sửa đổi hoặc huỷ  
bỏ hợp đồng. Quy định từ lý thuyết này vẫn  
nguyên giá trị và được thể hiện qua Điều  
417 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015.  
Thứ hai, thời điểm DN chưa thành lập,  
DN vẫn có thể là bên thứ ba nhận lợi ích từ  
hợp đồng này. GS. Vũ Văn Mẫu xác nhận  
quan điểm này theo tinh thần của dân luật  
Pháp; theo đó, án lệ ở Pháp cho phép hợp  
đồng được giao kết vì lợi ích của một đệ  
tam nhân, ngay cả trong trường hợp đệ tam  
nhân ấy chưa tồn tại vào thời điểm hợp  
đồng được giao kết5.  
1.3. Hợp đồng trước đăng ký doanh  
nghiệp theo cách tiếp nhận của hệ thống  
thông luật “Common law”  
Tuy nhiên, lý thuyết này không đứng  
vững khi giải quyết vấn đề trách nhiệm chủ  
thể của hợp đồng bởi hai lý do sau:  
Các nước theo hệ thống Common law  
tiếp cận theo hướng quy định trách nhiệm  
của chủ thể thực sự của hợp đồng. Theo đó,  
chủ thể của hợp đồng cần phải có đầy đủ  
tư cách chủ thể. Chủ thể chưa hình thành  
không thể là chủ thể của hợp đồng, vì lý do  
đó, pháp luật về công ty Anh, Mỹ đều quy  
định hợp đồng trước đăng ký DN chỉ bao  
gồm quyền và nghĩa vụ giữa người thành  
lập DN với bên đối ứng mà thôi6.  
Một là, theo cách tiếp cận của lý thuyết  
hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, người  
thứ ba không phải là một chủ thể của kết ước,  
vì thế, không giải trừ các bên kết ước khỏi địa  
vị chủ thể giao kết. Nếu nhìn nhận hợp đồng  
trước đăng ký DN theo lý thuyết này, DN sau  
đăng ký sẽ là bên hưởng lợi ích từ hợp đồng  
chứ không phải một bên chủ thể, cũng không  
đương nhiên trở thành chủ thể. Các chủ thể  
của hợp đồng vẫn phải chịu trách nhiệm phát  
sinh từ việc không thực hiện nghĩa vụ.  
Theo khoản 1 Điều 51 Luật Công ty  
Anh7, người duy nhất chịu trách nhiệm phát  
sinh từ hợp đồng là người khởi xướng, tức  
người thành lập công ty, nếu không có các  
Hai là, cũng theo GS. Vũ Văn Mẫu, Bộ  
Dân luật Pháp cho phép người giao kết hợp  
4 Nguyễn Thị Quỳnh Yến và Ngô Quốc Chiến, “Người thứ ba trong Bộ luật dân sự 2015”, Tạp chí Quản lý và  
tạp-ch%C3%AD-ktđn-số-86/1401-người-thứ-ba-trong-bộ-luật-dân-sự-2015.html.  
5 Vũ Văn Mẫu, “Việt Nam Dân Luật Lược Khảo - Quyển II: Khế ước và nghĩa vụ”, tr. 297.  
6 S. Le Gall, “Pre-Incorporation Contracts: Legislation v. Common Law”, Anglo-Am. Law Rev., kỳ 21, số p.h 4,  
tr.425–429, tháng 10 1992, doi: 10.1177/147377959202100403. Xem thêm: Lipton, P., Herzberg, A., & Welsh,  
M. “Understanding company law”, ompson Reuters Australia, năm 2016.  
7 Khoản 1 Điều 51 Luật Công ty Anh: “A contract that purports to be made by or on behalf of a company at a  
time when the company has not been formed has effect, subject to any agreement to the contrary, as one made  
with the person purporting to act for the company or as agent for it, and he is personally liable on the contract  
accordingly”. Tạm dịch: “Một hợp đồng được giao kết bởi một công ty, hoặc được giao kết nhân danh công ty  
vào thời điểm công ty đó chưa được thành lập thì hợp đồng này có hiệu lực như hợp đồng giao kết với cá nhân  
thay mặt công ty hoặc đại diện cho công ty, theo đó, người này sẽ tự chịu trách nhiệm cá nhân đối với hợp đồng  
Số 08(432) - T4/2021  
37  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
thỏa thuận khác. Không có gì chắc chắn  
rằng công ty sẽ được cấp Giấy chứng nhận  
đăng ký công ty, một khi công ty không  
được thành lập, người khởi xướng cần tự  
mình chịu trách nhiệm đối với hợp đồng đã  
giao kết.  
có quyền, người khởi xướng và công ty đã  
thành lập phải tiến hành ký kết một thỏa  
thuận thay thế nghĩa vụ (novation). Thỏa  
thuận thay thế nghĩa vụ là một thỏa thuận lại  
về nghĩa vụ, có hiệu lực thay thế thoả thuận  
cũ, xác định lại nội dung của các thỏa thuận  
trước đó và có giá trị10. Thỏa thuận này có  
thể được xem như một hợp đồng riêng, tạm  
gọi là hợp đồng chuyển giao. Hợp đồng  
chuyển giao này được giao kết bởi ít nhất  
ba bên trong quan hệ chuyển giao, trong  
đó gồm người khởi xướng, người đại diện  
công ty đã thành lập mà không phải người  
khởi xướng và bên còn lại của hợp đồng11.  
Như vậy, sau thỏa thuận thay thế nghĩa vụ,  
hợp đồng trước đăng ký DN chấm dứt hiệu  
lực, nghĩa vụ từ hợp đồng bị thay thế bởi  
thỏa thuận mới giữa DN và bên đối ứng.  
Có thể lý giải hướng tiếp cận của  
Common law bằng hai lý do sau:  
Thứ nhất, người giao kết hợp đồng  
trước đăng ký công ty không đương nhiên  
là thành viên công ty sau thời điểm thành  
lập công ty. Điều này xuất phát từ thực tiễn,  
trong quá trình chuẩn bị phục vụ công tác  
thành lập công ty, những người khởi xướng  
không có quyền và nghĩa vụ ràng buộc đối  
với công ty chưa thành hình. Trong nhiều  
trường hợp, sợi dây duy nhất ràng buộc  
người thành lập DN với công ty chưa hình  
thành là quan hệ uỷ thác; cụ thể, người khởi  
xướng có nghĩa vụ trung thành và thiện chí  
với các thành viên khác của công ty8.  
Tiếp cận theo hướng thỏa thuận thay thế  
nghĩa vụ của Common law tạo ra cơ chế  
bảo vệ quyền lợi của bên đối ứng, bởi thời  
điểm DN được đăng ký không còn nhiều  
ý nghĩa trong việc xác định chủ thể chịu  
tráhh nhiệm từ hợp đồng. Muốn xác định  
chủ thể chịu trách nhiệm, chỉ cần lưu ý thời  
điểm các bên thực hiện chuyển giao nghĩa  
vụ: trước thời điểm chuyển giao, người  
khởi xướng vẫn phải chịu trách nhiệm đối  
với hợp đồng. Kể từ sau thời điểm chuyển  
giao, một thỏa thuận mới hình thành trên  
nền thỏa thuận cũ giữa DN và bên đối  
ứng, DN thực hiện hợp đồng và chịu trách  
nhiệm trong trường hợp vi phạm theo hợp  
đồng mới, hình thành trên tinh thần của  
hợp đồng đã bị thay thế.  
Thứ hai, việc tiếp nhận hay phê duyệt hợp  
đồng vi phạm điều kiện về ý chí chủ thể hợp  
đồng9. Giả sử khi giao kết, người khởi xướng  
không nêu rõ mình đang hành động vì lợi ích  
của công ty, cũng không có thỏa thuận chuyển  
giao với bên còn lại của hợp đồng. Bên đối  
ứng không thể biết sự tồn tại của công ty  
tương lai với tư cách là một chủ thể của hợp  
đồng. Vì vậy, quyền và nghĩa vụ trong hợp  
đồng này chỉ có hiệu lực ràng buộc với người  
khởi xướng mà không có hiệu lực ràng buộc  
đối với DN hình thành trong tương lai.  
Muốn trở thành một bên bị ràng buộc  
bởi trách nhiệm phát sinh từ hợp đồng, bên  
8 S. McLaughlin, “Unlocking Company Law”, Routledge, năm 2013, tr.126-129.  
9 S. Le Gall, tlđd.  
10 PGS. TS. Nguyễn Ngọc Điện, “Nhận dạng lợi ích gắn với nghĩa vụ trong quan hệ kết ước - kinh nghiệm của  
Anh và Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 01+02 (210+211), năm 2012.  
11 S. McLaughlin, tlđd, tr. 129.  
38  
Số 08(432) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
2. Pháp luật Trung Quốc về chuyển  
giao quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng ký  
kết trước đăng ký doanh nghiệp  
học theo trường phái luật thực định. Về  
mặt kỹ thuật, công ty chỉ bắt đầu tồn tại  
từ lúc được cấp Giấy Chứng nhận đăng ký  
DN. Trên cơ sở này, công ty đang trong  
quá trình thành lập thì không có tư cách  
pháp nhân, không phải là công ty. Nhằm  
giải quyết vấn đề chủ thể chịu trách nhiệm  
của hợp đồng trước đăng ký DN, các nhà  
nghiên cứu thuộc trường phái luật lục địa  
đã đề xuất nhiều lý thuyết về quan hệ giữa  
người ký kết và công ty đang hình thành.  
Một vài lý thuyết điển hình có thể kể đến  
là: thuyết hợp đồng vì lợi ích của người thứ  
ba, thuyết đại diện theo uỷ quyền, thuyết  
kế thừa nghĩa vụ và thuyết người ký kết là  
cơ quan không tách rời của công ty đang  
hình thành15.  
Trong hệ thống pháp luật Trung Quốc,  
cơ chế chịu trách nhiệm từ hợp đồng được  
quy định ở các điều từ Điều 1 đến Điều 4  
Quy định thứ ba của Pháp viện nhân dân tối  
cao Trung Quốc về áp dụng một số quy định  
của Luật Công ty Nước Cộng hoà nhân dân  
Trung Hoa (Quy định III)12.  
2.1. Từ “phát khởi nhân” đến doanh  
nghiệp đang thành lập - người ký kết hợp  
đồng trước đăng ký doanh nghiệp  
Khác với quy định của pháp luật Việt  
Nam, pháp luật Trung Quốc có cách tiếp  
cận “mở” hơn khi gián tiếp thừa nhận sự  
tồn tại của các DN ngay cả trong quá trình  
đang thành lập13. Điều đó phản ánh qua quy  
định cho phép người khởi xướng thành lập  
DN thực hiện việc thành lập DN theo sự  
uỷ quyền của tổ chức chưa có tư cách pháp  
nhân. Theo nghiên cứu của các nhà luật  
học Trung Quốc, hợp đồng trước thành lập  
DN được hiểu là các hợp đồng được ký kết  
bởi người khởi xướng (phát khởi nhân) và  
những người khác không phải người khởi  
xướng, trong phạm vi được uỷ quyền, vì lợi  
ích của công ty14.  
Ở Trung Quốc, khái niệm “phát khởi  
nhân” được hiểu rộng hơn khái niệm  
“người thành lập DN” của Việt Nam, bao  
gồm: (a) những người ký tên vào điều lệ  
công ty; (b) những người thực tế tham  
gia vào quá trình thành lập và thực hiện  
các giao dịch phục vụ cho việc thành lập  
công ty16. Đi xa hơn, học giả Wang Baoshu  
và Cui Qinzhi cho rằng, pháp luật Trung  
Quốc nhìn nhận các phát khởi nhân như  
thành viên của công ty, họ cũng là một bộ  
phận cấu thành công ty đang thành lập. Rõ  
ràng, giới nghiên cứu luật học Trung Quốc  
ủng hộ thuyết người ký kết là cơ quan hữu  
cơ, không tách rời khỏi công ty, bất luận  
Cần lý giải hướng tiếp cận của pháp  
luật Trung Quốc qua lý thuyết về hợp  
đồng trước đăng ký DN của các nhà luật  
12 Tham khảo Điều 1 và Điều 4 của Quy định thứ ba của Pháp viện nhân dân tối cao Trung Quốc về áp dụng  
fb5d7ff4700abb68a982fb6d.html.  
13  
ZHANG Lu, “  
(Trách nhiệm của phát khởi nhân đối với hợp đồng  
trước thành lập công ty)”, Tạp chí Legal System and Society (Trung Quốc), năm 2010.  
14  
TIAN Jinhua, “Study on the Effect of Pre-Incorporation Contract and Its Relative Liability  
(
(
)”, Journal of Social Science of Jiamusi University  
), số p.h 1, năm 2013.  
15 LIANG Yuxian, “Corporation law (  
)”, Tam Dân Thư Cục (  
), năm 2015, tr.269.  
16 ZHANG Lu, tlđd.  
Số 08(432) - T4/2021  
39  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
công ty ấy đã được cấp Giấy Chứng nhận  
đăng ký DN hay chưa17.  
kết hợp đồng với chủ thể không rõ là ai.  
Trên thực tế, sau khi DN được thành lập,  
các bên thường có xu hướng thỏa thuận lại  
hợp đồng, bên đối ứng chỉ thực thi quyền  
lựa chọn người thực hiện hợp đồng một lần  
trong thỏa thuận ấy.  
Xuất phát từ cách nhìn nhận trên, phát  
khởi nhân có thể ký kết hợp đồng nhân danh  
chính mình hoặc nhân danh công ty; từ đó,  
cơ chế chịu trách nhiệm từ hợp đồng, cũng  
như việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ  
theo hợp đồng sẽ có sự khác nhau trong các  
trường hợp cụ thể.  
Từ phân tích trên đây, có thể rút ra nhận  
xét sau:  
Thứ nhất, không có sự chuyển giao nghĩa  
vụ giữa các bên trong hợp đồng, vì thế, hợp  
đồng trước thành lập DN không mất hiệu lực,  
không bị thay thế bởi một thỏa thuận nào khác.  
2.2. Cơ chế chịu trách nhiệm với hợp  
đồng trước đăng ký doanh nghiệp trong  
pháp luật Trung Quốc  
Với trường hợp doanh nghiệp không được  
thành lập, Điều 4 “Quy định III” quy định,  
người thành lập DN tự mình chịu trách nhiệm  
liên đới đối với nghĩa vụ từ hợp đồng. Tuy  
nhiên, khi DN được thành lập, do tính “tuy hai  
mà một”, “Quy định III” quy định, trường hợp  
công ty phải chịu trách nhiệm từ hợp đồng tại  
đoạn 2 Điều 2. Theo đó, điều kiện để DN trở  
thành chủ thể chịu trách nhiệm là:  
Thứ hai, pháp luật không quy định rõ  
thế nào là “hưởng lợi ích theo hợp đồng”.  
Trường hợp xác định được là DN đã hưởng  
lợi ích từ hợp đồng, DN sau thành lập đương  
nhiên trở thành chủ thể mang nghĩa vụ và  
chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.  
Hệ quả từ hai điều trên là người giao kết  
hợp đồng ban đầu không đương nhiên bị giải  
trừ khỏi nghĩa vụ hợp đồng. Bên đối ứng  
có quyền lựa chọn người tiếp tục thực hiện  
hợp đồng là DN hay người giao kết ban đầu.  
Trường hợp đã chọn công ty làm người tiếp  
tục thực hiện hợp đồng, có khả năng người  
giao kết hợp đồng ban đầu vẫn phải chịu  
trách nhiệm liên đới đối với hợp đồng, quy  
định cho phép bên yêu cầu lựa chọn người ký  
kết ban đầu chịu trách nhiệm tại Điều 3 “Quy  
định III” càng củng cố cho lập luận này.  
(a) DN được thành lập;  
(b) DN trực tiếp thừa nhận sự tồn tại của  
hợp đồng, hoặc thực tế đã thực hiện nghĩa  
vụ theo hợp đồng, hoặc hưởng lợi ích thực tế  
từ hợp đồng giao kết bởi người khởi xướng  
và bên đối ứng. Trường hợp sau, dẫu không  
có sự chuyển giao chính thức, DN phải chịu  
trách nhiệm khi bên còn lại có yêu cầu.  
Như vậy, ở Trung Quốc, bên đối ứng  
có quyền yêu cầu hoặc cá nhân, hoặc DN  
thực hiện hợp đồng và chịu trách nhiệm  
theo hợp đồng, giữa người thành lập giao  
kết hợp đồng và DN sau thành lập không  
cần thực hiện chuyển giao quyền và nghĩa  
vụ theo hợp đồng. Điều này nhằm bảo vệ  
quyền lợi của bên đối ứng trước việc giao  
3. Chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo  
hợp đồng ký kết trước đăng ký doanh  
nghiệp ở Việt Nam  
Về nguyên tắc, người giao kết hợp đồng  
bị ràng buộc bởi quyền và nghĩa vụ được ghi  
nhận trong hợp đồng. Đây là nguyên tắc mang  
tính nền tảng của chế định hợp đồng, bởi hợp  
17  
XIAO Zhigang, “Debt before the Establishment of Company (  
)”, Tạp chí  
National Judges College Law Journal (Trung Quốc), vol 197, số 8, năm 2002, tr.43.  
40  
Số 08(432) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
đồng là nguồn gốc căn bản và quan trọng của  
nghĩa vụ18. Nếu không có sự chuyển giao hoặc  
pháp luật không quy định thì người thành lập  
DN đã giao kết hợp đồng trước đăng ký DN  
phải tiếp tục thực hiện và chịu trách nhiệm  
phát sinh từ việc vi phạm hợp đồng đó, bất  
luận hợp đồng có được giao kết vì lợi ích của  
công ty hay không19. Chỉ khi công ty không  
được thành lập thì lúc ấy, người thành lập DN  
mới phải chịu trách nhiệm cá nhân từ việc vi  
phạm nghĩa vụ của hợp đồng đã giao kết.  
Thứ nhất, việc buộc các bên thực hiện  
chuyển giao nếu không có thỏa thuận khác  
tạo ra một ngoại lệ cho nguyên tắc tự do giao  
kết hợp đồng. Đối với công ty được thành lập,  
pháp nhân này buộc phải nhận chuyển giao  
toàn bộ quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng từ  
người thành lập DN, nếu các bên không có  
thỏa thuận khác. Giả sử sau khi thành lập,  
công ty mới không mặn mà với việc nhận  
chuyển giao thì có quyền không tiến hành  
chuyển giao hay không? Luật Doanh nghiệp  
chưa dự liệu chế tài đối với trường hợp này.  
Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người  
thành lập DN và của cả bên có quyền yêu cầu,  
trước đây, pháp luật về DN quy định công ty  
sau thành lập tiếp nhận quyền và nghĩa vụ  
phát sinh theo hợp đồng. Luật DN năm 2014  
đã sửa đổi điều khoản này. Theo đó, DN sau  
thành lập phải tiếp tục thực hiện hợp đồng.  
Tuy nhiên, tiếp tục thực hiện hợp đồng không  
có nghĩa là phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối  
với hợp đồng đã được giao kết; đồng thời,  
việc quy định như thế không giải trừ nghĩa  
vụ của người thành lập DN khỏi hợp đồng ký  
kết trước đăng ký DN. Vô hình chung, cách  
tiếp cận này lại tương đồng với cách tiếp cận  
của pháp luật Trung Quốc. Điểm mới mang  
tính đột phá trong Luật DN năm 2020 là quy  
định các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng  
được người thành lập DN chuyển giao cho  
công ty theo quy định của BLDS.  
Thứ hai, người thành lập DN giao kết  
hợp đồng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và  
chịu trách nhiệm từ việc vi phạm hợp đồng  
nếu bên có quyền không đồng ý việc chuyển  
giao (khoản 1 Điều 370 BLDS năm 2015).  
Mặc dù quy định đã đề cao nguyên tắc thỏa  
thuận, song thực tế vẫn có thể xảy ra trường  
hợp các bên không thỏa thuận do nhiều lý  
do, nếu bên có quyền không đồng ý việc  
chuyển giao thì công ty không thể trở thành  
chủ thể của hợp đồng.  
Thứ ba, quyền và nghĩa vụ hợp đồng  
được chuyển giao toàn bộ hay các bên có  
thể chuyển giao một phần quyền và nghĩa  
vụ trong hợp đồng? Hiện tại, BLDS năm  
2015 chưa dự liệu vấn đề chuyển giao toàn  
bộ quyền và nghĩa vụ theo một hợp đồng,  
mà chỉ dự liệu việc chuyển giao quyền và  
nghĩa vụ chung chung. Điều này có thể dẫn  
đến việc các bên chỉ chuyển giao một phần  
quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, và vì thế,  
không giải phóng hoàn toàn chủ thể giao kết  
hợp đồng ban đầu khỏi nghĩa vụ và trách  
nhiệm phát sinh từ việc vi phạm hợp đồng20.  
Tuy nhiên, thế nào là chuyển giao quyền  
và nghĩa vụ theo hợp đồng theo quy định của  
BLDS thì Luật DN năm 2020 không giải thích  
thêm. Đối chiếu các quy định về chuyển giao  
quyền và nghĩa vụ trong BLDS, có một số vấn  
đề chưa thật sự sáng tỏ sau đây:  
18 PGS. TS. Ngô Huy Cương, “Giáo trình Luật Hợp đồng Phần chung”, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm  
2013, tr. 366.  
19 S. Le Gall, tlđd.  
20 Trần Thị Như Thuỷ, “Chuyển giao hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam”, Trường Đại học Luật TP.  
Hồ Chí Minh, năm 2017.  
Số 08(432) - T4/2021  
41  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Đây là một bất cập cần sớm được  
khắc phục  
hành chuyển giao nghĩa vụ bằng một thỏa  
thuận mới. Thỏa thuận này có hiệu lực như  
một hợp đồng mới, thay thế hiệu lực cho  
hợp đồng đã giao kết trước đó. Quy định  
theo hướng này tránh được tình trạng mập  
mờ về chủ thể mang nghĩa vụ và gánh chịu  
trách nhiệm trong trường hợp vi phạm hợp  
đồng, nhất là đối với trách nhiệm phát sinh  
trong quá trình chưa hoàn thành chuyển  
giao: “ai ký, nấy chịu”.  
Thứ tư, hình thức của việc chuyển giao  
quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng không  
được xác định trong văn bản luật. Các bên  
có thể áp dụng Điều 119 BLDS năm 2015 để  
nhìn nhận tính hợp lệ của việc chuyển giao  
thể hiện qua lời nói, qua văn bản, qua thông  
điệp điện tử hoặc hành vi cụ thể hay không?  
Đi xa hơn, có thể suy luận rằng, quy định  
các bên chuyển giao nghĩa vụ theo hình thức  
công ty tiếp nhận nghĩa vụ (novation); trong  
đó, các bên có cần đạt được sự thỏa thuận  
chung trước khi chuyển giao nghĩa vụ hay  
không? Trường hợp việc chuyển giao được  
ghi nhận thành một hợp đồng chuyển giao,  
hợp đồng này có thay thế hợp đồng trước  
đó, và từ đó chấm dứt hiệu lực của hợp đồng  
giao kết trước đăng ký DN hay không? Đây  
là những câu hỏi chưa tìm được câu trả lời từ  
quy định của pháp luật hiện nay.  
Hai là, phân biệt giữa chuyển giao toàn  
bộ quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng đăng ký  
DN và chuyển giao một phần quyền, nghĩa  
vụ theo hợp đồng trước đăng ký DN. Trường  
hợp chuyển giao toàn bộ quyền, nghĩa vụ  
theo hợp đồng đăng ký DN, chủ thể giao kết  
hợp đồng ban đầu cần được giải phóng toàn  
bộ khỏi quyền và nghĩa vụ của hợp đồng,  
pháp nhân DN sau thành lập trở thành chủ  
thể thực hiện toàn bộ quyền và nghĩa vụ  
của hợp đồng. Trường hợp chuyển giao một  
phần quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng, cả hai  
chủ thể là người thành lập DN và pháp nhân  
DN đều có trách nhiệm thực hiện một phần  
hợp đồng. Trong trường hợp này, các bên có  
thể thỏa thuận về phần quyền, nghĩa vụ mà  
mình sẽ thực hiện theo hợp đồng.  
4. Kiến nghị hoàn thiện các quy định  
của pháp luật về chuyển giao quyền và  
nghĩa vụ theo hợp đồng trước đăng ký  
doanh nghiệp  
Để hoàn thiện quy định của pháp luật về  
chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo hợp  
đồng trước đăng ký DN, tác giả đề xuất một  
số kiến nghị sau đây:  
Ba là, bổ sung điều kiện có hiệu lực của  
việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ, theo đó  
bên đối ứng có quyền phản đối việc chuyển  
giao, nếu ngay từ đầu bên đối ứng không  
biết việc giao kết hợp đồng là vì lợi ích của  
công ty chưa thành lập. Trong trường hợp  
này, bên đối ứng và công ty sau thành lập  
có thể thỏa thuận giao kết lại hợp đồng mới.  
Hợp đồng mới này không thay thế hợp đồng  
mà người thành lập DN đã giao kết với bên  
Một là, quy định rõ các chủ thể tham gia  
việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo hợp  
đồng, trong đó, ít nhất ba bên cần tham gia  
là bên chuyển giao, bên nhận chuyển giao,  
bên đối ứng. Trong trường hợp này, có thể  
tham khảo quy định của Luật Công ty Anh  
về việc tiếp nhận nghĩa vụ sau khi công ty  
được thành lập21; theo đó, ba bên phải tiến  
đối ứng trước đó  
21  
Tham khảo thêm tại S. McLaughlin, “Unlocking company law”, Routledge, năm 2013. Xem thêm Ngô  
Quốc Chiến, “Bộ luật Dân sự cần bổ sung quy định về chuyển giao hợp đồng”, https://tks.edu.vn/thong-tin-  
khoa-hoc/chi-tiet/81/574.  
42  
Số 08(432) - T4/2021  
pdf 8 trang Thùy Anh 20340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp dưới góc độ so sánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchuyen_giao_quyen_va_nghia_vu_theo_hop_dong_truoc_dang_ky_do.pdf