Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc quản lý lao động nước ngoài

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ...  
TUÂN THỦ NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI  
KHÚC THỊ TRANG NHUNG* - PHẠM THỊ HưƠNG GiANG**  
Pháp luật quản lý lao động nước ngoài đòi hỏi phải tuân theo những nguyên tắc nhất định  
nhằm điều chỉnh các vấn đề liên quan đến lao động nước ngoài. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá  
thực trạng pháp luật lao động Việt Nam hiện nay về việc quản lý lao động nước ngoài và đưa ra  
các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.  
Từ khóa: Lao động nước ngoài, quản lý lao động nước ngoài, Bộ luật lao động.  
Ngày nhận bài: 06/11/2020; Biên tập xong: 30/11/2020; Duyệt đăng: 30/11/2020  
Law on foreign worker management requires to follow certain rules to regulate maꢀers  
related to foreign worker. This article evaluates current situation of Vietnam’s labor law on  
foreign workers management and gives solutions to improve the law on foreign workers  
management in Vietnam.  
Key word: Foreign workers, foreign worker management, the Labor Code.  
1. Nguyêntắcquảnlýlaođộngnướcngoài Quyền con người hiện nay được xem là  
trung tâm của đời sống chính trị hiện đại.  
Điều đó có nghĩa là quyền và lợi ích hợp  
pháp của người LĐNN phải được tôn  
trọng như quyền và lợi ích hợp pháp của  
lao động trong nước. Nhà nước thực hiện  
việc quản lý lao động trong nền kinh tế thị  
trường trước hết là để bảo vệ các bên tham  
gia quan hệ lao động, bảo đảm quyền tự  
do của các bên tham gia quan hệ lao động,  
phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm  
pháp luật các bên tham gia quan hệ lao  
động. Nhà nước phải thực hiện bổn phận  
đảm bảo gìn giữ, bảo vệ, sử dụng hợp lý  
và có hiệu quả nguồn nhân lực. Tuy nhiên,  
Quản lý lao động nước ngoài (LĐNN)  
bị ảnh hưởng khá nhiều và cơ bản bởi các  
điều ước quốc tế cũng như các chính sách  
về lao động của quốc gia. Sự ảnh hưởng  
này dẫn tới việc hình thành một hệ thống  
các nguyên tắc cốt lõi của pháp luật quản  
lý lao động nước ngoài bao gồm:  
Nguyên tắc thứ nhất: Tôn trọng các quyền  
và lợi ích hợp pháp của người lao động nước  
ngoài. Trước tiên là tôn trọng quyền con  
người. Công ước quốc tế về bảo vệ quyền  
của tất cả những người lao động di trú và  
các thành viên gia đình họ (International  
Convention on the Protection of the Rights  
of All Migrant Workers and Members of  
Their Families – ICRMW) năm 1990 đã  
nhận định sự bình đẳng trong việc đối  
xử giữa LĐNN và lao động trong nước1.  
* Thạc sĩ, Khoa Pháp luật dân sự và Kiểm sát dân sự,  
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  
** Thạc sĩ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam  
người, các quốc gia thành viên Công ước này cam kết  
1ꢀ Điều 1: “Công ước này được áp dụng, trừ khi được tôn trọng và bảo đảm cho người lao động di trú và  
quy định khác sau đó, đối với mọi người lao động di các thành viên gia đình họ trong lãnh thổ hoặc thuộc  
trú và các thành viên gia đình họ, không có bất kỳ sự quyền tài phán của mình được hưởng các quyền theo  
phân biệt nào như giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn Công ước mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về  
ngữ, tôn giáo hoặc tín ngưỡng, quan điểm chính trị giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc  
hoặc quan điểm khác, nguồn gốc xã hội hoặc dân tộc, tín ngưỡng, quan điểm chính trị hoặc quan điểm  
quốc tịch, độ tuổi, địa vị kinh tế, tài sản, tình trạng khác, nguồn gốc xã hội hoặc dân tộc, quốc tịch, độ  
hôn nhân, thành phần xuất thân và các địa vị khác”  
Điều 7: “Theo các văn kiện quốc tế về quyền con  
tuổi, thành phần kinh tế, tài sản, tình trạng hôn nhân,  
thành phần xuất thân và địa vị khác”  
Số 06 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 43  
HOÀN THiỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG ViỆT NAM TRÊN CƠ SỞ...  
nhà nước thực hiện quyền quản lý lao LĐNN bù đắp cho những thiếu hụt về  
động, trong đó có LĐNN phải đảm bảo lao động do dân số già hoặc do lao động  
các tiêu chuẩn lao động trong hoạt động trong nước không đủ cho một lĩnh vực  
cụ thể nào đó. Tuy nhiên, áp lực của các  
vấn đề xã hội cũng cần phải được giải  
quyết nên không thể bỏ qua nguyên tắc  
này trong quản lý lao động nước ngoài.  
Nó giúp cho người quản lý luôn chủ  
động trong việc bảo đảm hiệu quả kinh  
tế, đồng thời bảo vệ việc làm cho người  
lao động bản xứ.  
Nguyên tắc thứ tư: Đảm bảo thống nhất  
quản lý, phối hợp giữa các cơ quan quản lý  
nhà nước trong công tác quản lý lao động là  
người nước ngoài. Trong lĩnh vực lao động  
cũng như các lĩnh vực khác, để hoạt động  
quản lý của nhà nước đạt hiệu quả thì bắt  
buộc phải có cơ chế phối, kết hợp giữa  
các cơ quan hữu quan. Theo đó, sự phối  
kết hợp phải đảm bảo:  
Một là, về yêu cầu trong phối hợp. Trong  
lĩnh vực lao động, nguyên tắc thống nhất,  
phối hợp quản lý giữa các cơ quan phải  
đáp ứng các yêu cầu như sau: Nội dung  
phối hợp phải liên quan đến chức năng,  
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan phối  
hợp và dựa trên các quy định của pháp  
luật hiện hành nhằm đảm bảo sự thống  
nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho các  
doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất,  
kinh doanh; Bảo đảm tiến độ, nội dung  
phối hợp, tính khách quan trong quá  
trình phối hợp; Bảo đảm kỷ luật, kỷ  
cương trong hoạt động phối hợp; Đề cao  
trách nhiệm cá nhân của Thủ trưởng cơ  
quan chủ trì, cơ quan phối hợp và cán bộ,  
công chức tham gia phối hợp.  
quản lý. Vì vậy, đây được xem là nguyên  
tắc quan trọng nhất của quản lý LĐNN.  
Nguyên tắc thứ hai: Bảo đảm an ninh  
chính trị và trật tự, an toàn xã hội. LĐNN  
bên cạnh những ảnh hưởng hữu ích cho  
sự phát triển kinh tế, xã hội, đôi khi gây  
rắc rối cho các vấn đề an ninh chính trị  
và trật tự, an toàn xã hội. Lực lượng lớn  
người lao động đến từ quốc gia thù địch  
thường có tác động tiêu cực cho quốc gia  
sở tại. Sự khác biệt về văn hóa, lối sống,  
tâm lý, ngôn ngữ... cũng như sự thiếu  
thốn về cơ sở vật chất khiến người LĐNN  
hành xử có thể không phù hợp với các  
quy tắc về trật tự, an toàn xã hội của nước  
sở tại. Có nhiều trường hợp người nước  
ngoài không thực hiện đúng các quy định  
pháp luật về xuất nhập cảnh, pháp luật  
về cư trú; đã sinh sống tại các công viên,  
nơi công cộng, tụ tập buôn bán trái phép  
trên vỉa hè, lòng đường…, gây mất an  
ninh trật tự và văn minh đô thị trên địa  
phương. Nghiêm trọng hơn, có trường  
hợp người nước ngoài thực hiện hành  
vi vi phạm pháp luật hình sự. Do đó,  
bảo đảm an ninh chính trị là một vấn đề  
không thể bỏ qua trong hoạt động quản  
lý LĐNN.  
Nguyên tắc thứ ba: Bảo đảm hiệu quả kinh  
tế và bảo vệ việc làm cho người lao động trong  
nước. Số lượng LĐNN gia tăng khiến việc  
làm cho lao động trong nước có thể sụt  
giảm, đất nước có thể phải đối mặt với  
những vấn đề xã hội. Không ai có thể  
phủ nhận được rằng sự gia tăng số lượng  
LĐNN làm cho người sử dụng lao động  
có cơ hội lựa chọn người lao động phù  
hợp và thúc đẩy cạnh tranh. Nhu cầu sử  
Hai là, về nội dung phối hợp quản lý giữa  
các cơ quan trong việc quản lý LĐNN. Theo  
đó, thực hiện lồng ghép hướng dẫn,  
tuyên truyền các nội dung cơ bản của  
dụng lao động có trình độ chuyên môn pháp luật lao động về quản lý LĐNN  
cao có thể được đáp ứng và hiệu quả kinh đến những người LĐNN cư trú và làm  
tế có thể được cải thiện. Ở một số nước, việc trên các địa bàn quản lý thuộc phạm  
44 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
KHÚC THỊ TRANG NHUNG - PHẠM THỊ HƯƠNG GIANG  
vi chức năng, nhiệm vụ được phân công trực thuộc Tổng liên đoàn Lao động Việt  
phụ trách; Phối hợp hướng dẫn các đơn Nam và các tổ chức đại diện khác được  
vị có sử dụng lao động là người nước  
ngoài thực hiện thống kê, phân tích  
tình hình người nước ngoài nhập cảnh  
với mục đích lao động đúng quy định  
pháp luật hiện hành; Thanh tra, kiểm  
tra việc thực hiện các quy định của pháp  
luật về tuyển dụng, quản lý người LĐNN  
làm việc tại doanh nghiệp và phối hợp  
đề xuất xử lý đối với các trường hợp vi  
phạm quy định pháp luật trong phạm vi  
chức năng, nhiệm vụ được phân công  
phụ trách; Cung cấp thông tin theo yêu  
cầu giữa các cơ quan tham gia thực hiện  
việc quản lý LĐNN; Định kỳ tiến hành  
sơ kết, tổng kết công tác quản lý LĐNN  
làm việc trong các doanh nghiệp có sử  
dụng LĐNN trong phạm vi quản lý.  
ghi nhận trong BLLĐ năm 2019 bình đẳng  
với nhau, tuy nhiên tổ chức đại diện độc  
lập này phải được đăng ký. Trong khi đó,  
hiện vẫn chưa có hướng dẫn về phương  
thức, trình tự thủ tục và nội dung hồ  
sơ đăng ký cụ thể (đoàn viên tối thiểu,  
người tiếp nhận, rà soát trình tự…) cũng  
như quyền liên kết của tổ chức được ghi  
nhận mơ hồ trong BLLĐ năm 2019. Tất cả  
đều dẫn chiếu theo Chính phủ quy định.  
Điều đó dẫn đến thực trạng mặc dù có  
quy định pháp luật nhưng thực tế người  
LĐNN vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận với  
quyền được tham gia tổ chức đại diện  
cho chính mình.  
Về bảo hiểm xã hội cho người LĐNN,  
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Nghị  
định số 143/2018/NĐ-CP ngày 15/10/2018  
của Chính phủ quy định chi tiết Luật bảo  
hiểm xã hội và Luật An toàn, vệ sinh lao  
động về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với  
người lao động là công dân nước ngoài  
làm việc tại Việt Nam bắt đầu có hiệu  
lực quy định người lao động là công dân  
nước ngoài làm việc tại Việt Nam khi có  
giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề  
hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan  
có thẩm quyền của Việt Nam cấp và có  
hợp đồng lao động không xác định thời  
hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn  
từ đủ 1 năm trở lên thì thuộc đối tượng  
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ  
01/12/2018.  
2. Thực trạng tuân thủ nguyên tắc  
quản lý lao động nước ngoài trong pháp  
luật lao động Việt Nam  
Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 của Việt  
Nam dành toàn bộ Chương 2 để tuyên bố  
quyền con người và quyền, nghĩa vụ cơ  
bản của công dân. Tôn trọng quyền con  
người luôn được đặt lên vị trí tối ưu của  
bất kỳ nguyên tắc nào. Theo đó, quyền  
được hưởng an sinh xã hội và quyền  
thành lập, gia nhập và hoạt động công  
đoàn là quyền lợi hợp pháp của LĐNN.  
Bộ luật lao động (BLLĐ) năm 2012, sửa  
đổi năm 2019 (có hiệu lực từ 01/01/2021)  
đã có điểm tiến bộ khi bổ sung quy định  
về tổ chức đại diện người lao động. Theo  
đó, tổ chức đại diện người lao động tại  
cơ sở không chỉ là Công đoàn cơ sở mà  
có thể là tổ chức của người lao động tại  
doanh nghiệp, được thành lập theo quy  
định của BLLĐ năm 2019 (Điều 170-178).  
Đây chính là Công đoàn độc lập, nơi  
người LĐNN có thể tham gia để được  
Thứ hai, BLLĐ năm 2012 quy định  
người sử dụng người LĐNN là nhà thầu  
và cá nhân, tổ chức (không phải nhà thầu).  
Tuy nhiên, điều kiện tuyển dụng LĐNN  
cho hai chủ thể sử dụng người LĐNN lại  
không có sự khác biệt, đều tuân theo Điều  
169 BLLĐ năm 2012 và Điều 3 Nghị định  
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của 11/2016/NĐ-CP, trong khi LĐNN được  
mình. Về nguyên tắc, Công đoàn cơ sở tuyển dụng cho hai chủ thể này sẽ khác  
Số 06 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 45  
HOÀN THiỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG ViỆT NAM TRÊN CƠ SỞ...  
nhau về điều kiện trình độ chuyên môn, hỏi phải tuân theo những quy định riêng  
về điều kiện tuyển dụng và sử dụng  
người LĐNN.  
kinh nghiệm… Vì thế, việc xác định và  
phân loại đối tượng người nước ngoài  
được tuyển dụng vào làm việc tại Việt  
Nam gặp nhiều khó khăn. Thực tế, bên  
cạnh lượng lớn lao động nước ngoài người  
Trung Quốc được tuyển dụng làm việc tại  
các vị trí quản lý, kĩ thuật viên trình độ cao  
thì hiện tượng các nhà thầu Trung Quốc  
đưa người lao động sang làm công nhân  
tại Việt Nam diễn ra ngày càng phổ biến,  
đặc biệt tại các khu công nghiệp ở Bình  
Thứ ba, Nghị định 11/2016/NĐ-CP  
mới chỉ quy định mức góp vốn từ 1-10  
triệu đồng thì người nước ngoài có thể  
được xếp vào diện không cần xin cấp  
giấy phép lao động khi vào làm việc tại  
Việt Nam đối với hình thức làm việc là  
thành viên góp vốn. Mức góp vốn thấp  
này dẫn đến nhiều người nước ngoài lợi  
dụng quy định này để không phải xin  
Dương, Đà Nẵng hay Đắk Lắk. Tính đến giấy phép lao động mà vẫn nhập cảnh  
vào Việt Nam làm việc. Hơn nữa, BLLĐ  
năm 2012 đã có điểm tiến bộ so với Bộ  
luật trước về việc quy định người nước  
ngoài là học sinh, sinh viên nước ngoài  
đang học tập tại Việt Nam không cần  
giấy phép lao động mà vẫn được làm  
việc tại Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật  
lao động lại chưa quy định về số giờ  
làm việc tối đa mà đối tượng học sinh,  
sinh viên nước ngoài được làm việc tại  
Việt Nam, trong khi những người nước  
ngoài này lại làm chủ yếu các công việc  
phổ thông mà người lao động Việt Nam  
có thể làm được. Ở các quốc gia trên thế  
giới đều giới hạn số giờ làm thêm cho  
học sinh, sinh viên nước ngoài như Úc  
không quá 20 giờ, Anh chia đối tượng  
theo trình độ học vấn (bậc cử nhân, thạc  
sĩ, tiến sĩ) để điều chỉnh số giờ làm thêm  
nhưng không quá 20 giờ3. Điều này ảnh  
hưởng không nhỏ tới tình hình phát  
triển kinh tế của Việt Nam cũng như tác  
động, làm mất cân bằng thị trường lao  
động trong nước.  
năm 2018, số lao động Trung Quốc là trên  
25,1 nghìn người, chiếm khoảng 1/3 tổng  
lao động nước ngoài đang làm việc ở Việt  
Nam2. Những nhà thầu Trung Quốc đã  
cố tình lợi dụng kẽ hở trong các quy định  
pháp luật về tuyển dụng LĐNN để đưa  
công dân nước mình sang làm lao động  
phổ thông. Những lao động này gây khó  
khăn cho công tác quản lý, gặp nhiều vấn  
đề phức tạp về an ninh trật tự, xung đột  
văn hóa.  
BLLĐ năm 2019 đã có bổ sung quy  
định về điều kiện tuyển dụng, sử dụng  
người LĐNN làm việc tại Việt Nam:  
“Nhà thầu trước khi tuyển và sử dụng  
lao động nước ngoài làm việc tại Việt  
Nam phải kê khai cụ thể các vị trí công  
việc, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh  
nghiệm làm việc, thời gian làm việc cần  
sử dụng lao động nước ngoài để thực  
hiện gói thầu và được sự chấp thuận  
bằng văn bản của cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền” (Khoản 3 Điều 152). Quy  
định này đã giải quyết được vấn đề nêu  
trên, có sự phân tách giữa người sử dụng  
lao động là nhà thầu nói chung thì đòi  
3ꢀ  
hotcourses.vn/study-in-australia/once-you-  
arrive/nhung-dieu-can-luu-y-khi-lam-them-tai-  
uc/#:~:text=Gi%E1%BB%91ng%20nh%C6%B0%20  
V%C6%B0%C6%A1ng%20qu%E1%BB%91c%20  
Anh,t%E1%BA%ADp%20trung%20v%C3%A0o%-  
20vi%E1%BB%87c%20h%E1%BB%8Dc, truy cập  
ngày 01/10/2019.  
2ꢀ 25 ngàn lao động Trung Quốc đã vào Việt Nam làm  
ăn, nguồn: hꢁps://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/  
thi-truong/gan-trieu-lao-dong-viet-di-xuat-khau-  
35-nghin-lao-dong-trung-quoc-o-viet-nam-484641.  
html, truy cập ngày 26/10/2018.  
46 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
KHÚC THỊ TRANG NHUNG - PHẠM THỊ HƯƠNG GIANG  
Thứ tư, việc phối hợp giữa các cơ quan quan quản lý LĐNN được quy định tại  
chức năng trong việc quản lý LĐNN làm  
việc tại Việt Nam là công việc hết sức  
thiết yếu, giúp đảm bảo an ninh trật tự xã  
hội, tiết kiệm chi phí trong công tác quản  
lý. Tuy nhiên, hiện nay đang có sự mâu  
thuẫn giữa một số cơ quan quản lý là Bộ  
Công an và Bộ Lao động – Thương binh  
và Xã hội trong việc định nghĩa “người  
lao động nước ngoài”. Bộ Công an dựa  
vào tiêu chí giấy bảo lãnh của đơn vị,  
doanh nghiệp để xác định là người nước  
ngoài đến làm việc tại Việt Nam (khoản  
c Điều 10 Luật Nhập cảnh, Xuất cảnh,  
Quá cảnh, Cư trú của người nước ngoài  
tại Việt Nam năm 2014). Trong khi đó,  
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội  
xác nhận người nước ngoài làm việc ở  
Việt Nam được xem hợp pháp khi đã  
có hợp đồng lao động giữa người lao  
động và đơn vị, doanh nghiệp sử dụng  
lao động. Trên cơ sở này, Sở Lao động  
- Thương binh và Xã hội mới cấp giấy  
phép lao động và chỉ khi có giấy phép  
này, LĐNN mới chính thức được phép  
làm việc trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.  
Lợi dụng quy định này, nhiều nhà thầu  
và LĐNN không tự giác chấp hành pháp  
luật, nhiều LĐNN vào Việt Nam mới  
thực hiện việc cấp giấy phép lao động.  
Nhiều trường hợp mời, bảo lãnh cho  
LĐNN vào Việt Nam làm việc và được  
Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp thị thực  
ký hiệu là doanh nghiệp có thời hạn 12  
tháng. Theo quy định, trước khi mời,  
bảo lãnh thì doanh nghiệp phải làm thủ  
tục và được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp  
thuận, các cơ quan quản lý nhà nước cấp  
giấy phép hoặc xác nhận không thuộc  
diện cấp giấy phép. Tuy nhiên, dựa vào  
sơ hở này, nhiều LĐNN vẫn được Cục  
Quản lý xuất nhập cảnh duyệt cho nhập  
cảnh vào Việt Nam để làm việc và cấp thị  
thực doanh nghiệp. Hơn nữa, việc phân  
Nghị định 11/2016/NĐ-CP nhưng chưa  
có Quy chế chung về sự phối hợp giữa  
các cơ quan có thẩm quyền với nhau.  
3. Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện  
pháp luật lao động Việt Nam trên cơ sở  
tuân thủ nguyên tắc quản lý lao động  
nước ngoài  
Thứ nhất, bổ sung điều kiện người LĐNN  
vào làm việc tại Việt Nam cho người sử dụng  
lao động là nhà thầu  
Pháp luật lao động nước ta đã bổ sung  
quy định riêng biệt về điều kiện tuyển  
dụng đối với LĐNN làm việc cho người  
sử dụng lao động là nhà thầu nhằm giúp  
cơ quan có thẩm quyền dễ xác định và  
phân loại LĐNN trong công tác quản lý.  
Tuy nhiên, quy định này vẫn khá chung  
chung, chưa cụ thể các tiêu chí đối với  
người LĐNN được tuyển dụng và sử  
dụng cho nhà thầu. Vì vậy, pháp luật lao  
động cần ban hành danh mục nghề mà  
nhà thầu được phép tuyển dụng LĐNN  
để tránh việc nhà thầu cố tình muốn đưa  
LĐNN vào làm các công việc phổ thông  
mà lao động Việt Nam có thể làm được.  
Danh mục này có thể được ban hành theo  
năm hoặc theo lộ trình giai đoạn.  
Thứ hai, làm rõ các hình thức làm việc của  
người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam  
Đối với hình thức làm việc là thành  
viên góp vốn, pháp luật lao động cần thiết  
nâng mức trần góp vốn đối với những  
đối tượng LĐNN vào Việt Nam làm việc.  
Thay vì mức góp vốn từ 1-10 triệu đồng,  
có thể tăng từ 5-10 lần để tránh trường  
hợp các LĐNN lợi dụng quy định này  
mà bỏ ra một số tiền nhỏ để trở thành cổ  
đông của công ty và “hợp pháp hóa” mục  
đích vào Việt Nam làm việc. Quy định  
về cho phép người nước ngoài là học  
sinh, sinh viên được phép làm việc tại  
công chức năng, thẩm quyền cho các cơ Việt Nam trong quá trình học tập là toàn  
Số 06 - 2020 Khoa học Kiểm sát 47  
HOÀN THiỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG ViỆT NAM TRÊN CƠ SỞ...  
toàn phù hợp, giúp những đối tượng này phướng thực hiện đúng các quy định  
tăng thêm thu nhập trong cuộc sống. Tuy pháp luật về quản lý LĐNN làm việc  
nhiên, nhằm ổn định thị trường lao động, tại Việt Nam. Việc quản lý có thể dựa  
pháp luật cần quy định thời giờ làm việc theo hình thức cung cấp mã định danh  
tối đa cho đối tượng lao động này. Việc cá nhân khi mỗi người nước ngoài nhập  
quy định đó hoàn toàn phù hợp với cách cảnh vào Việt Nam. Hình thức này cũng  
nhìn quốc tế, vừa đảm bảo phát triển kinh giống với cách quản lý của Bộ Công an  
tế quốc gia vừa bảo đảm việc làm cho lao đang được triển khai, áp dụng trên toàn  
động trong nước.  
quốc đối với công dân Việt Nam./.  
Thứ ba, nâng cao trách nhiệm và sự phối  
hợp của các cơ quan chức năng trong công tác  
quản lý LĐNN làm việc tại Việt Nam  
TÀi LiỆU THAM KHẢO  
1. Bộ luật lao động năm 2019.  
2. Bộ luật lao động năm 2012.  
Quản lý LĐNN làm việc tại Việt  
Nam là nhiệm vụ của nhiều cơ quan,  
ban ngành chứ không chỉ của một đơn  
vị nào. Hơn nữa, đây còn là lĩnh vực  
nhạy cảm, liên quan tới ngoại giao với  
các nước khác nên càng cần sự phối hợp  
giữa các cơ quan quản lý LĐNN với  
nhau. Hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn  
của từng cơ quan quản lý mới chỉ được  
quy định riêng biệt trong Nghị định  
11/2016/NĐ-CP và Thông tư số 40/2018/  
TT-BLĐTBXH chứ chưa có quy chế phối  
hợp giữa các cơ quan chức năng. Việc  
ban hành Quy chế phối hợp giữa các cơ  
quan chức năng trong công tác quản lý  
LĐNN có ý nghĩa quan trọng trong việc  
đảm bảo an ninh chính trị, phát triển  
kinh tế quốc gia cũng như ổn định thị  
trường lao động trong nước. Việc phối  
hợp giữa các cơ quan, bộ ngành không  
chỉ ở cấp trung ương mà phải được chỉ  
rõ ở cấp địa phương với việc phân công  
nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan và sự  
phối hợp giữa các cơ quan trong từng  
công việc, giai đoạn khi người LĐNN  
vào làm việc tại Việt Nam. Đặc biệt,  
trong công tác báo cáo về tình hình  
tuyển dụng và sử dụng LĐNN tại địa  
phương mà một số tỉnh, thành phố vẫn  
chưa thực hiện nghiêm túc theo định  
kỳ. Cơ quan cấp trên cần tăng cường  
việc kiểm tra, hướng dẫn cơ quan địa  
3. Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư  
trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014.  
4. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.  
5. Hiến pháp năm 2013.  
6.Chính phủ (2016), Nghị định số 11/2016/  
NĐ-CP ngày 3/2/2016 quy định chi tiết thi hành  
một số điều của Bộ luật Lao động về lao động  
nước ngoài làm việc tại Việt Nam.  
7. Chính phủ (2018), Nghị định số 143/2018/  
NĐ-CP ngày 15/10/2018 của Chính phủ quy định chi  
tiết Luật bảo hiểm xã hội và Luật An toàn, vệ sinh lao  
động về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao  
động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam.  
8.Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất  
cả những người lao động di trú và các thành viên  
gia đình họ (ICRMW), 1990.  
9.25 ngàn lao động Trung Quốc đã vào Việt  
Nam làm ăn, nguồn: hꢁps://vietnamnet.vn/vn/  
kinh-doanh/thi-truong/gan-trieu-lao-dong-viet-  
di-xuat-khau-35-nghin-lao-dong-trung-quoc-o-  
viet-nam-484641.html, truy cập ngày 26/10/2018.  
10.Làm thêm tại Úc, nguồn: hꢁps://www.  
hotcourses.vn/study-in-australia/once-you-  
arrive/nhung-dieu-can-luu-y-khi-lam-them-tai-  
uc/#:~:text=Gi%E1%BB%91ng%20nh%C6%B0%20  
V%C6%B0%C6%A1ng%20qu%E1%BB%91c%20  
Anh,t%E1%BA%ADp%20trung%20v%C3%A0o%-  
20vi%E1%BB%87c%20h%E1%BB%8Dc, truy cập ngày  
01/10/2019.  
48 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
pdf 6 trang Thùy Anh 11040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc quản lý lao động nước ngoài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_phap_luat_lao_dong_viet_nam_tren_co_so_tuan_thu_n.pdf