Luận bàn về một số nguyên tắc tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân theo luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014

LUẬN BÀN VỀ MỘT SỐ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG...  
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO LUẬT TỔ CHỨC  
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN NĂM 2014  
dưƠNG ĐÌNH CÔNG*- NGÔ VĂN MiNH**  
Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2014 quy định  
VKSND có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Để thực hiện chức  
năng đó, Viện kiểm sát phải được tổ chức và hoạt động dựa trên các nguyên tắc đặc thù. Bài  
viết phân tích một số vấn đề lý luận, pháp luật về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của VKSND,  
những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.  
Từ khóa: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động, Ủy ban kiểm sát, Kiểm sát viên.  
Ngày nhận bài: 23/6/2020; Biên tập xong: 04/8/2020; Duyệt đăng: 02/12/2020  
According to the 2013 Constitution and the 2014 Law on organization of the People’s  
Procuracy, functions of the People’s Procuracy are exercising prosecution rights and  
supervising judicial activities. To perform these functions, the Procuracy must be organized  
and operated on specific principles. The article analyzes a number of theoretical and legal  
issues on the principles of organization and operation of the People’s Procuracy, practical  
obtacles and gives some recommendations.  
Keywords: Principles of organization and operation, Procuracy Commiꢀee, Prosecutor.  
1. Minh định nguyên tắc tổ chức và VKSND tối cao, không chịu sự chi phối  
của cơ quan nhà nước khác1. Ghi nhận  
nguyên tắc này xuất phát từ các cơ sở lý  
luận như học thuyết về tổ chức quyền lực  
nhà nước, đặc trưng của chế độ chính trị,  
sứ mệnh của cơ quan Viện kiểm sát là bảo  
đảm pháp luật được chấp hành nghiêm  
chỉnh và chính thống2.  
hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân  
Nguyên tắc tổ chức, hoạt động là  
những tư tưởng chính trị pháp lý có tính  
chất chỉ đạo, xuyên suốt, bao trùm tổ  
chức và hoạt động của VKSND. Từ khi  
VKSND được thành lập theo Hiến pháp  
năm 1959 và Luật tổ chức VKSND năm  
1960 đến nay, quy định và nhận thức về  
nguyêntắctổchức, hoạtđộngcủaVKSND  
cũng có sự thay đổi gắn liền với sự thay  
đổi chức năng của Viện kiểm sát. Trước  
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi 2001), khi  
bàn về nguyên tắc tổ chức và hoạt động  
của Viện kiểm sát, các nhà nghiên cứu lý  
luận và hoạt động thực tiễn đều đề cập  
đến nguyên tắc tập trung, thống nhất  
lãnh đạo trong ngành và độc lập của  
Viện kiểm sát với các cơ quan nhà nước  
khác. Nghĩa là mọi sự chỉ đạo, lãnh đạo  
công tác trong ngành kiểm sát đều tập  
trung vào Viện trưởng VKSND các cấp  
và tập trung thống nhất vào Viện trưởng  
Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp  
năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm  
2014, chức năng của Viện kiểm sát là thực  
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động  
tư pháp nên nguyên tắc tổ chức và hoạt  
động của Viện kiểm sát cũng có sự thay  
đổi. Dưới góc độ quy định pháp luật (cơ  
* Thạc sĩ, Phó trưởng khoa Pháp luật quốc tế, Trường  
Đại học Kiểm sát Hà Nội  
** Sinh viên lớp K5M, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  
1ꢀ Xem, Đỗ Văn Đương, Đảm báo tính độc lập của  
Viện kiểm sát và vai trò của Viện kiểm sát trong  
kiểm sát các hoạt động tư pháp kinh nghiệm từ  
thực tiễn Việt Nam, tham khảo tại website hꢁps://  
vksndtc.gov.vn, truy cập ngày 1/6/2020  
2ꢀ Xem, Đỗ Văn Đương, Tlđd  
Số 06 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 63  
LUẬN bÀN VỀ MỘT SỐ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG...  
sở pháp lý), 02 nguyên tắc tổ chức và hoạt của một thiết chế cụ thể; từ đó đưa ra các  
động của Viện kiểm sát được quy định kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định  
pháp luật.  
tại Điều 7 Luật tổ chức VKSND năm 2014  
bao gồm nguyên tắc tập trung thống nhất  
lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc kết  
hợp vai trò lãnh đạo của Viện trưởng với  
vai trò thảo luận, quyết định một số vấn  
đề quan trọng về tổ chức và hoạt động  
của Ủy ban kiểm sát. Nếu nguyên tắc thứ  
nhất chính là sự kế thừa cả nội dung và  
tinh thần của các quy định trước đây thì  
nguyên tắc thứ hai về vai trò của Ủy ban  
kiểm sát có sự thay đổi nhất định3.  
Thứ hai, trên thực tiễn, Kiểm sát viên  
có vị trí, vai trò quan trọng trong toàn  
bộ quá trình thực thi nhiệm vụ của Viện  
kiểm sát. Kiểm sát viên là một chức danh  
tư pháp giữ vị trí trung tâm trong tổ  
chức, hoạt động của VKSND5. Thực tế  
cho thấy, hàng năm ngành Kiểm sát đều  
đạt và vượt nhiều chỉ tiêu, kế hoạch theo  
Nghị quyết của Quốc hội cũng xuất phát  
từ chính sự nỗ lực, phấn đấu và kết quả  
thực thi nhiệm vụ của đội ngũ Kiểm sát  
viên6. Do đó, cần thiết phải thiết kế và ghi  
nhận nội dung này là một trong những  
nguyên tắc hoạt động của VKSND.  
Theo chúng tôi, ngoài 02 nguyên tắc  
được quy định tại Điều 7 Luật Tổ chức  
VKSND năm 2014, còn phải đề cập đến  
nguyên tắc khi thực hành quyền công tố,  
kiểm sát hoạt động tư pháp; Kiểm sát viên  
tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo  
của Viện trưởng VKSND được ghi nhận  
tại khoản 2 Điều 109 Hiến pháp năm 2013  
và khoản 1 Điều 83 Luật tổ chức VKSND  
năm 20144. Sở dĩ cần phải coi đây là một  
trong những nguyên tắc tổ chức và hoạt  
động của VKSND là do:  
Thứ ba, về quan hệ thứ bậc, trong hệ  
thống pháp luật Việt Nam, Hiến pháp  
giữ vị trí trung tâm và có giá trị pháp  
lý cao nhất. Quy định của Luật tổ chức  
VKSND phải cụ thể hóa các quy định của  
đạo luật cơ bản này. Do đó, những vấn  
đề về tổ chức và hoạt động của VKSND  
được quy định ở Hiến pháp phải được  
chuyển tải một cách đầy đủ vào Luật tổ  
chức VKSND.  
Thứ nhất, trên phương diện lý luận,  
nguyên tắc tổ chức và hoạt động là những  
tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt mang tính  
nguyên lý cho sự vận hành của một thiết  
chế cụ thể. Tổ chức, hoạt động của một  
thiết chế chỉ được vận hành trơn tru, hiệu  
quả khi tuân thủ đúng nguyên tắc luật  
định. Tuy nhiên, dưới góc độ học thuật,  
nguyên tắc tổ chức và hoạt động với tính  
cách là một đối tượng nghiên cứu sẽ luôn  
có nội hàm rộng hơn. Hay nói cách khác,  
ngoài việc nghiên cứu những điều luật  
quy định cụ thể thì còn phải nghiên cứu  
những nội dung hàm chứa hoặc có mối  
quan hệ rõ ràng với tổ chức, hoạt động  
2. Những khó khăn, vướng mắc về  
quy định pháp luật và thực tiễn thực  
hiện một số nguyên tắc tổ chức và hoạt  
động của Viện kiểm sát nhân dân  
2.1. Nguyên tắc kết hợp vai trò lãnh  
đạo của Viện trưởng với vai trò thảo luận,  
quyết định một số vấn đề quan trọng về  
tổ chức và hoạt động của Ủy ban kiểm sát  
Ủy ban kiểm sát là một trong những  
5ꢀ Xem, Dương Đình Công, Khái niệm, tiêu chuẩn Kiểm  
sát viên Viện kiểm sát nhân dân – Từ quy định pháp luật  
đến thực tiễn áp dụng, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, Số  
02 -2019, trang 62.  
3ꢀ Xem Điều 7, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014.  
4ꢀ Xem, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2019), Giáo  
trình Lý luận về Viện kiểm sát và công tác kiểm sát,  
NXB Tư pháp, Hà Nội, trang 48  
6ꢀ Theo báo cáo tại Hội nghị triển khai công tác kiểm  
sát năm 2020 của ngành Kiểm sát nhân dân tham  
khảo tại website hꢁps://kiemsat.vn/, truy cập ngày  
3/6/2020.  
64 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
DƯƠNG ĐÌNH CÔNG- NGÔ VĂN MINH  
cơ quan nằm trong hệ thống tổ chức bộ trong Luật tổ chức VKSND năm 2014. Sự  
máy của Viện kiểm sát nhân dân và được thay đổi này một mặt phản ánh sự thay  
tổ chức ở 03 cấp VKSND và 02 cấp Viện đổi trong tư duy lập pháp, kĩ thuật làm  
kiểm sát quân sự. Như vậy, so với quy luật, đồng thời đề cao sự lãnh đạo và chỉ  
định tại Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì đạo của Viện trưởng VKSND.  
trong hệ thống tổ chức của Ủy ban kiểm  
Mặc dù Ủy ban kiểm sát không còn  
sát được tổ chức thêm ở một cấp mới là Ủy  
được quy định trong Hiến pháp năm  
ban kiểm sát của VKSND cấp cao.  
2013 nhưng vị trí, vai trò của thiết chế này  
Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ tiếp tục được khẳng định trong Luật tổ  
và quyền hạn của Ủy ban kiểm sát các chức VKSND năm 2014. Cụ thể, tại các  
cấp hiện nay được quy định cụ thể tại các khoản 2, khoản 3 Điều 43, 45, 47 thì Ủy  
điều 43, 45, 47 của Luật tổ chức VKSND ban kiểm sát có quyền thảo luận và quyết  
năm 2014. Việc thành lập cơ quan này định những vấn đề bằng cách bỏ phiếu  
phát huy hiệu quả cao nhất cơ chế làm tán thành và thông qua quyết định với  
việc tập thể được thiết lập trong cơ cấu quá nửa số phiếu tán thành mà không cần  
tổ chức của VKSND cũng như thực hiện phụ thuộc vào ý chí từ phía Viện trưởng.  
nhiệm vụ xem xét, thảo luận những vấn  
Từ những phân tích trên, có thể thấy  
đề quan trọng liên quan đến tổ chức, hoạt  
quyền quyết định những vấn đề thuộc  
động của VKSND quyết định hoặc đưa  
phạm vi thẩm quyền của Ủy ban kiểm  
ra ý kiến cho Viện trưởng để quyết định.  
sát có vai trò lớn hơn cả vai trò chỉ đạo  
Đây có thể coi là sự kết hợp hài hòa và  
và lãnh đạo trong ngành của Viện trưởng  
đảm bảo sự cân bằng giữa nguyên tắc  
đối với các vấn đề được quy định tại  
chung “tập trung dân chủ trong tổ chức  
khoản 2, khoản 3 Điều 43, 45, 47 Luật tổ  
và hoạt động của cơ quan nhà nước” với  
chức VKSND năm 2014. Nói cách khác,  
nguyên tắc đặc thù của ngành “tập trung  
quyết định của tập thể Ủy ban kiểm sát có  
thống nhất lãnh đạo trong ngành”.  
thể có hiệu lực cao hơn cả quyết định của  
Từ thực tiễn hoạt động của Ủy ban cá nhân Viện trưởng. Điều này đặt ra câu  
kiểm sát ở nước ta trong những năm gần hỏi: Phải chăng nguyên tắc “tập trung,  
đây cho thấy, vai trò của Ủy ban kiểm thống nhất lãnh đạo trong ngành” - nguyên  
sát là quan trọng, vừa phát huy dân chủ, tắc đặc thù của ngành Kiểm sát đã bị đặt  
trí tuệ của tập thể vừa đảm bảo những sau nguyên tắc “tập trung dân chủ trong tổ  
quyết định của VKSND được đưa ra một chức và hoạt động của cơ quan nhà nước”?  
cách chính xác, khách quan. Tuy nhiên,  
Thứ hai, hạn chế trong quy định của  
xuất phát từ những quy định của pháp  
Luật tổ chức VKSND năm 2014 về trách  
luật về Ủy ban kiểm sát còn tồn tại một số  
nhiệm của Ủy ban kiểm sát khi quyết  
khó khăn, vướng mắc cần sớm được khắc  
định vấn đề thuộc thẩm quyền. Theo quy  
phục, cụ thể như sau:  
định tại khoản 3 Điều 45, 47 của Luật tổ  
Thứ nhất, hạn chế trong quy định của chức VKSND năm 2014 thì khi tiến hành  
Luật Tổ chức VKSND năm 2014 về quyền bỏ phiếu quyết định những vấn đề thuộc  
hạn của Ủy ban kiểm sát khi quyết định phạm vi thẩm quyền của mình, Ủy ban  
vấn đề thuộc thẩm quyền. Tuy nhiên, so kiểm sát thực hiện quyền hạn này bằng  
với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm cách bỏ phiếu giữa các thành viên. Và  
2013 hiện hành không còn quy định về một quyết định sẽ thông qua nếu được  
Ủy ban kiểm sát nữa mà được quy định quá nửa số thành viên của Ủy ban kiểm  
Số 06 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 65  
LUẬN bÀN VỀ MỘT SỐ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG...  
sát tán thành. Mặt khác, Viện trưởng khi thì Viện trưởng cần là người đưa ra quyết  
không đồng ý và nằm trong quá nửa số sách hàng đầu, chịu trách nhiệm cao nhất  
thành viên bỏ phiếu tán thành quyết định những vấn đề trong Ngành.  
thì Viện trưởng cấp dưới có quyền báo  
2.2. Nguyên tắc khi thực hành quyền  
cáo lên Viện trưởng cấp trên trực tiếp. Tuy  
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp,  
nhiên, người ký những quyết định trên  
lại chính là Viện trưởng dù Viện trưởng  
không đồng ý với đa số thành viên của  
Ủy ban kiểm sát khi đưa ra biểu quyết tán  
thành nghị quyết.  
Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và  
chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm  
sát nhân dân  
Khoản 1 Điều 83 quy định khi thực  
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động  
tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp  
luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng  
VKSND. Quy định này xuất phát từ yêu  
cầu, đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp  
quyền xã hội chủ nghĩa được quy định  
trong Hiến pháp. Một trong những đòi  
hỏi của nhà nước pháp quyền là mọi hoạt  
động của cá nhân, công dân, cơ quan, tổ  
chức phải dựa trên cơ sở quy định của  
pháp luật và pháp luật phải được thượng  
tôn. Để thực hiện được điều này, đòi hỏi  
Kiểm sát viên phải nắm vững tất cả các  
quy định của pháp luật về nhiệm vụ,  
quyền và trách nhiệm của mình.  
Điều này dẫn đến một bất cập trong  
thực tế áp dụng luật đó là khi một quyết  
định của Ủy ban kiểm sát không đúng và  
không tuân thủ quy định của pháp luật  
dẫn đến sai phạm thì người phải chịu  
trách nhiệm lại chính là người ký quyết  
định – đó là Viện trưởng dù Viện trưởng  
không đồng ý với ý kiến đa số ấy. Như  
vậy, việc báo cáo lên Viện trưởng cấp trên  
trực tiếp mà không quy định những trách  
nhiệm của những thành viên còn lại trong  
Ủy ban kiểm sát tỏ ra bất hợp lý khi Viện  
trưởng VKSND lại phải chịu trách nhiệm  
về quyết định không phải của mình.  
Thứ ba, trước đây tại Luật tổ chức  
VKSND năm 2002 quy định về trách nhiệm  
báo cáo của Viện trưởng VKSND tối cao  
trong trường hợp “Nếu Viện trưởng không  
nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Uỷ ban  
kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa  
số, nhưng có quyền báo cáo Uỷ ban Thường  
vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước7. Việc báo  
cáo này mang ý nghĩa nhằm nêu rõ quan  
điểm của Viện trưởng cũng như truy xét  
trách nhiệm, đảm bảo tính khách quan  
của Viện trưởng VKSND tối cao sau này  
nếu một quyết định nào của Ủy ban kiểm  
sát là không đúng quy định của pháp luật.  
Tuy nhiên, đến quy định của Luật tổ chức  
VKSND năm 2014, cụ thể tại khoản 3 Điều  
43 thì quy định này đã bị loại bỏ nhằm  
phù hợp với “nguyên tắc tập trung lãnh đạo”  
Đồng thời, khi thực hành quyền công  
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát  
viên phải tuân theo sự chỉ đạo trực tiếp  
của Viện trưởng VKSND cấp mình và chỉ  
đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND  
tối cao. Nội dung này không những  
không có mâu thuẫn mà còn có mối quan  
hệ mật thiết với nguyên tắc lãnh đạo tập  
trung thống nhất trong Ngành.  
Kiểm sát viên phải tuân theo pháp luật  
và chịu trách nhiệm trước pháp luật về  
hành vi, quyết định của mình trong việc  
thực hành quyền công tố, tranh tụng tại  
phiên tòa và kiểm sát hoạt động tư pháp.  
Đặc biệt, trong quá trình tranh tụng tại  
phiên tòa, Kiểm sát viên phải chịu trách  
nhiệm đối với các hành vi của mình. Khoản  
5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận  
nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được  
bảo đảm. Đây được coi là khâu đột phá  
7ꢀ Xem Khoản 2 Điều 32 Luật tổ chức Viện kiểm sát  
nhân dân năm 2002  
66 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
DƯƠNG ĐÌNH CÔNG- NGÔ VĂN MINH  
trong hoạt động xét xử, chất lượng tranh trong ngành kiểm sát, bảo đảm sự lãnh  
tụng sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát mỗi  
xử, chống oan sai và bảo vệ các quyền con cấp và sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung  
người cơ bản của người bị buộc tội8.  
thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát  
nhân dân tối cao9 nhưng việc thực hiện  
này không đơn giản, xuất phát từ nhiều  
nguyên nhân khác nhau. Trong đó, quan  
hệ có tính thứ bậc của nền hành chính  
công và tâm lý của đội ngũ cán bộ, công  
chức, viên chức ảnh hưởng trực tiếp đến  
việc sử dụng quyền năng này của Kiểm  
sát viên. Bởi lẽ, dù VKSND được tổ chức  
và hoạt động dựa trên nguyên tắc đặc  
thù với những ưu thế nhất định nhưng  
không thể nằm ngoài quy chuẩn của hệ  
thống định chế được tổ chức theo thứ bậc  
chặt chẽ và thông suốt…, cấp dưới phục  
tùng cấp trên, nhận chỉ thị mệnh lệnh và  
chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp trên10.  
Kiểm sát viên phải chấp hành quyết  
định của Viện trưởng. Khi có căn cứ cho  
rằng quyết định đó là trái luật thì Kiểm  
sát viên có quyền từ chối nhiệm vụ được  
giao và phải kịp thời báo cáo bằng văn bản  
với Viện trưởng; trường hợp Viện trưởng  
vẫn quyết định việc thi hành thì phải có  
văn bản và Kiểm sát viên phải chấp hành  
nhưng không phải chịu trách nhiệm về  
hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo  
cáo lên Viện trưởng VKSND cấp trên có  
thẩm quyền. Viện trưởng đã quyết định  
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về  
quyết định của mình.  
Quy định này cũng tạo cho Kiểm sát  
viên tính độc lập tương đối khi thực hành  
quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư  
pháp. Việc từ chối nhiệm vụ được giao  
khi có căn cứ cho rằng việc thực hiện  
quyết định đó là trái luật không phải chỉ  
là quyền từ chối mà còn là trách nhiệm từ  
chối của Kiểm sát viên.  
3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy  
định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động  
của Viện kiểm sát nhân dân  
Thứ nhất, xác định rõ nguyên tắc tổ  
chức và hoạt động của VKSND bao gồm  
03 nguyên tắc. Theo đó, Điều 7 sẽ bổ sung  
như sau:  
Trong trường hợp Viện trưởng vẫn  
quyết định thì quyết định việc thi hành  
đó phải được lập thành văn bản, đồng  
thời Kiểm sát viên phải báo cáo lên Viện  
trưởng cấp trên. Như vậy để xác định  
rõ trách nhiệm của Viện trưởng và trách  
nhiệm của Kiểm sát viên phải thực hiện  
rất nhiều thủ tục khác nhau.  
“Điều 7. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động  
của Viện kiểm sát nhân dân  
…
3. Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát  
hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo  
pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng  
Viện kiểm sát nhân dân.  
Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và phải  
chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi,  
quyết định của mình trong việc thực hành  
Mặc dù nguyên tắc này góp phần  
tăng tính độc lập cho Kiểm sát viên, ngăn  
ngừa sự can thiệp trái pháp luật của cá  
nhân, tổ chức vào hoạt động nghiệp vụ  
của Kiểm sát viên, đồng thời phù hợp với  
nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo  
9ꢀ Lê Ngọc Duy: “Một số điểm mới về chế định Viện kiểm  
sát nhân dân theo Hiến pháp 2013”, tham khảo tại website  
10ꢀ  
Xem thêm, Nguyễn Minh Phú, “Trách nhiệm của  
8ꢀ Phạm Tiến Đạt, Bàn về nguyên tắc tranh tụng trong Bộ  
luật tố tụng hình sự năm 2015, tham khảo tại website  
hꢁps://tapchitoaan.vn truy cập ngày 5/6/2020.  
người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước”, Tạp chí  
Tổ chức Nhà nước, tham khảo tại website hꢁps://  
tcnn.vn/ truy cập ngày 15/7/2020.  
Số 06 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 67  
LUẬN bÀN VỀ MỘT SỐ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG...  
quyền công tố, tranh tụng tại phiên tòa và thảo luận và đưa ra ý kiến để Viện trưởng quyết  
kiểm sát hoạt động tư pháp”.  
định những vấn đề quan trọng sau đây…”.  
Khi xác định đây là một nguyên tắc  
- Hai là, quy định về thủ tục thông qua  
trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm quyết định của Ủy ban Kiểm sát VKSND  
cấp cao và cấp tỉnh cũng cần sửa đổi theo  
hướng có sự chi phối và mang tính chỉ  
đạo của Viện trưởng trong những vấn  
đề quan trọng. Theo đó, khoản 4 Điều  
45 và Điều 47 Luật tổ chức VKSND năm  
2014 cần thiết nên sửa đổi như sau: “Ủy  
ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực  
hiện thẩm quyền tại khoản 3 Điều này. Nghị  
quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa  
tổng số thành viên biểu quyết tán thành  
nếu trong quá nửa thành viên biểu quyết  
tán thành có sự biểu quyết ý kiến của Viện  
trưởng; trường hợp biểu quyết ngang nhau  
thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện  
trưởng. Nếu Viện trưởng không nhất trí với  
ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát  
thì thực hiện việc báo cáo lên Viện trưởng  
Viện kiểm sát nhân dân tối cao/Viện trưởng  
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao để xin ý  
kiến chỉ đạo trước khi đưa ra quyết định.”  
sát thì những nội dung này ở Khoản 1  
Điều 83 phải được sửa đổi tương ứng.  
Thứ hai, về giải quyết mối quan hệ  
giữa Viện trưởng và Kiểm sát viên  
Dưới góc độ lý luận, có thể thấy quy  
định tại khoản 1 Điều 83 là cần thiết nhưng  
việc thực thi thì không dễ. Do đó, để có thể  
thực hiện được quy định này, có thể cần có  
các giải pháp đồng bộ từ thay đổi tư duy  
đến việc quy định rõ trách nhiệm cũng  
như xây dựng được cơ chế để giải quyết  
mối quan hệ công tác giữa Viện trưởng  
và Kiểm sát viên. Để thực hiện được điều  
này phải phân định rất rõ quan hệ giữa  
Viện trưởng và Kiểm sát viên trong đó xác  
định cụ thể quan hệ nào phát sinh trong tổ  
chức, điều hành và quan hệ nào phát sinh  
trong hoạt động tố tụng11 để làm cơ sở xây  
dựng quy trình, cơ chế thực hiện.  
Thứ ba, về nội dung nguyên tắc kết  
hợp vai trò lãnh đạo của Viện trưởng với  
vai trò thảo luận, quyết định một số vấn  
đề quan trọng về tổ chức và hoạt động  
của Ủy ban kiểm sát  
- Ba là, nhằm thể chế hóa hoạt động  
của Ủy ban kiểm sát VKSND tối cao; đề  
cao trách nhiệm, vai trò của Viện trưởng  
VKSND tối cao cũng như giải quyết vấn đề  
kiểm soát quyền lực thì quy định tại khoản  
3 Điều 43 Luật tổ chức VKSND năm 2014  
nên sửa đổi như sau: “Ủy ban kiểm sát ban  
hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền  
tại khoản 2 Điều này. Nghị quyết của Ủy  
ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành  
viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu  
quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có  
ý kiến của Viện trưởng. Trường hợp Viện  
trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số  
thành viên của Ủy ban kiểm sát thì trước khi  
quyết định thông qua nghị quyết, Viện trưởng  
thực hiện quyền báo cáo Ủy ban Thường vụ  
Quốc hội và không phải chịu trách nhiệm về  
hậu quả của việc thi hành”./.  
- Một là, đối với hạn chế trong quy định  
của pháp luật về quyền hạn của Ủy ban  
kiểm sát, cần sửa đổi và bổ sung theo hướng  
giảm bớt quyền lực nhằm nâng cao vai trò  
của Viện trưởng theo đúng tinh thần của  
Hiến pháp năm 2013 đã quy định. Theo đó,  
quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 43,  
khoản 3 Điều 45 và Điều 47 Luật tổ chức  
VKSND năm 2014 sửa đổi như sau: “Ủy  
ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao/  
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao/Viện kiểm sát  
nhân dân cấp tỉnh họp do Viện trưởng chủ trì để  
11ꢀ Xem, Hoàng Thị Quỳnh Chi, “Nguyên tắc tập trung  
thống nhất lãnh đạo trong ngành Kiểm sát nhân dân”,  
Tạp chí Kiểm sát số 12-2020, trang 15.  
68 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
pdf 6 trang Thùy Anh 12780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Luận bàn về một số nguyên tắc tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân theo luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_ban_ve_mot_so_nguyen_tac_to_chuc_va_hoat_dong_cua_vien.pdf