Một số bất cập trong quy định về quyền thừa kế thế vị liên quan đến hoạt động công chứng
NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI
MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN THỪA KẾ THẾ VỊ
LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
Hoàng Thị Hải Yến1
Hồ Thị Bảo Ngọc2
Tóm tắt: Thừa kế thế vị là quyền thừa kế phát sinh khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định của
pháp luật dân sự. Tuy nhiên, pháp luật dân sự hiện hành vẫn còn nhiều bất cập trong việc chứng minh
điều kiện hưởng thừa kế thế vị khi áp dụng vào thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn hoạt động công chứng.
Bài viết dưới đây khái quát quy định chung của pháp luật Việt Nam liên quan đến xác định điều kiện
phát sinh quyền thừa kế thế vị, đưa ra một số bất cập trong việc chứng minh quyền thừa kế thế vị
trong thực tiễn hoạt động công chứng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật.
Từ khóa: Di sản, huyết thống, thừa kế thế vị.
Nhận bài: 20/7/2021; Hoàn thành biên tập: 10/8/2021; Duyệt đăng: 23/8/2021.
Abstract: Inheritance by substitution is inheritance right arising when the conditions prescribed
by civil law are satisfied. However, the current civil law still has many shortcomings in proving
conditions for inheritance by substitution when applied in practice, especially in the practice of
notarization. The following article summarizes the general provisions of Vietnamese law related to
determining conditions for arising the right to inherit by substitution, outlines some shortcomings
in proving the right to inherit by substitution in notarial activities. The article also makes
recommendations to improve legal provisions.
Keywords: Heritage, bloodline, inheritance.
Date of receipt: 20/7/2021; Date of revision: 10/8/2021; Date of Approval: 23/8/2021.
1. Quy định về thừa kế thế vị trong pháp
luật Việt Nam
81/TANDTC ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải
quyết các tranh chấp về thừa kế (TT số
81/TANDTC): “Người con nào (kể cả con nuôi)
chết trước người để thừa kế, thì các con của
người đó (tức là các cháu của người để thừa kế)
sẽ hưởng phần thừa kế của bố hoặc mẹ mình
(thừa kế thế vị)”4. Tuy nhiên, TT số 81/TANDTC
chỉ áp dụng quyền thừa kế thế vị đến đời cháu
(kể cả cháu nuôi) của người để lại di sản, đồng
thời chỉ áp dụng khi con (kể cả con nuôi) của
người để lại di sản chết trước người để lại di sản.
Từ khi ban hành Pháp lệnh thừa kế năm 1990
ngày 10/9/1990 cho đến khi áp dụng Bộ luật dân
sự (BLDS) năm 1995, quyền thừa kế thế vị bắt
đầu được áp dụng đến đời chắt của người để lại
di sản, nhưng vẫn duy trì quy định điều kiện áp
dụng thừa kế thế vị giống như TT số
81/TANDTC5. Tuy nhiên, từ BLDS năm 2005 có
Thừa kế là sự chuyển giao quyền sở hữu tài
sản của người đã chết sang cho người còn sống
dựa trên hai nguyên tắc: thừa kế theo di chúc và
thừa kế theo quy định của pháp luật. Để đủ điều
kiện hưởng di sản do người chết để lại, người
thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm
mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời
điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi
người để lại di sản chết3. Như vậy, người thừa kế
không còn sống vào thời điểm mở thừa kế, họ
đương nhiên không được quyền thừa kế. Tuy
nhiên, pháp luật dân sự đã xây dựng thêm một
điều khoản ngoại lệ nhằm đề cao ý nghĩa của
quan hệ huyết thống trong gia đình, gọi là quyền
thừa kế thế vị. Quyền thừa kế thế vị được quy
định từ thời điểm áp dụng Thông tư số
1 Tiến sỹ, Trưởng Khoa Luật dân sự, Trường Đại học Luật, Đại học Huế.
2 Thạc sỹ, Giảng viên Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Tư pháp.
3 Điều 613 BLDS năm 2015.
4 Khoản 1 Mục A chương III Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981.
5 Điều 26 Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Điều 680 BLDS năm 1995.
10
Soá 08/2021 - Naêm thöù möôøi saùu
hiệu lực cho đến nay, điều kiện hưởng thừa kế tính hợp pháp để chứng minh yêu cầu công
thế vị đã thay đổi. Theo quy định tại Điều 677 chứng của mình. Ở góc độ pháp lý, cá nhân chết
BLDS năm 2005 và Điều 652 BLDS năm 2015, phải được khai tử theo quy định của pháp luật về
quyền thừa kế thế vị phát sinh nếu có sự kiện hộ tịch7. Theo quy định của Luật hộ tịch năm
người con hoặc người cháu “chết trước hoặc 2014, cơ quan đăng ký hộ tịch xác nhận vào sổ
cùng một thời điểm” với người để lại di sản thừa hộ tịch sự kiện khai tử theo trình tự thủ tục quy
kế, cụ thể: “Trường hợp con của người để lại di định8. Sau khi đăng ký khai tử, người đi đăng ký
sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với khai tử được cấp “trích lục khai tử”, có đầy đủ
người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di các thông tin: Họ, chữ đệm, tên, năm sinh của
sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu người chết; số định danh cá nhân của người chết
còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng (nếu có); nơi chết; nguyên nhân chết; giờ, ngày,
thời điểm với người để lại di sản thì chắt được tháng, năm chết theo dương lịch; quốc tịch nếu
hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt người chết là người nước ngoài9… Như vậy,
được hưởng nếu còn sống”. Từ định nghĩa của trong hoạt động công chứng, công chứng viên
BLDS năm 2015, quyền thừa kế thế vị được áp phải căn cứ vào “trích lục khai tử” để đối chiếu,
dụng khi thỏa mãn ba điều kiện sau:
xác định sự kiện chết trước của con hoặc cháu
Thứ nhất, con hoặc cháu của người để lại di của người để lại di sản.
sản phải chết trước hoặc cùng thời điểm với
người để lại di sản.
Thứ hai, con hoặc cháu người để lại di sản
phải “được hưởng phần di sản nếu còn sống”.
Thừa kế thế vị là thay vào vị trí của người
Theo quy định tại Điều 621 BLDS năm 2015,
quyền thừa kế thế vị phát sinh khi thỏa mãn chết trước để hưởng. Do đó, thừa kế thế vị phát
nguyên tắc đầu tiên là sự kiện “chết trước”. Con sinh nếu bản thân người người con hoặc người
của người để lại di sản chết trước người để lại di cháu đã chết trước đủ điều kiện để hưởng di sản
sản thì cháu được quyền thế vị. Nếu cháu người từ người để lại di sản nếu còn sống. Căn cứ theo
để lại di sản cũng chết trước người để lại di sản quy định của BLDS năm 2015, người thừa kế vi
thì chắt được quyền thừa kế thế vị. Trong y học, phạm một trong những trường hợp được quy
chết là sự chấm dứt của mọi hoạt động sống như định tại Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015, họ
hô hấp trao đổi chất sự phân chia các tế bào đều không được quyền thừa kế (tước quyền thừa kế).
được chấm dứt vĩnh viễn. Chết thường được chia Như vậy, con hoặc cháu của người để lại di sản
làm hai loại: chết lâm sàng mà các phương pháp khi còn sống đã vi phạm Khoản 1 Điều 621
khám lâm sàng cho phép xác định là chết BLDS năm 2015 thì cháu, chắt của người để lại
(tim ngừng đập, ngừng thở, mất tri giác...); chết di sản không được quyền thừa kế thế vị. Trong
thật, khi các mô không còn hoạt động được nữa thực tiễn xét xử, vi phạm Điều 621 BLDS năm
và bắt đầu phân hủy6. Khi có sự kiện chết, quyền 2015 dẫn đến mất quyền thừa kế thế vị đã được
thừa kế thế vị thỏa mãn một trong những điều hướng dẫn tại Phiếu chuyển số 64/TANDTC-PC
kiện phát sinh, thì người có quyền thừa kế thế vị ngày 03/4/2019 về việc thông báo kết quả giải
có quyền liên hệ với các tổ chức hành nghề công đáp trực tuyến một số vấn đề vướng mắc về hình
chứng để yêu cầu công chứng các văn bản xác sự, dân sự và tố tụng hành chính: “Trường hợp
lập quyền thừa kế. Tuy nhiên, trong hoạt động một người đã không được quyền hưởng di sản
công chứng, người yêu cầu công chứng phải theo Khoản 1 Điều 621 của Bộ luật dân sự, như
cung cấp được các giấy tờ có tính xác thực và bị kết án về hành vi ngược đãi nghiêm trọng
6 https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%BFt#cite_note-1, truy cập ngày 08/6/2021.
7 Điều 30 BLDS năm 2015.
8 Mục 7 Chương II, Mục 7 Chương III Luật hộ tịch năm 2014.
9 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
hộ tịch (NĐ số 123/2015/NĐ-CP); Điều 34 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều và biện pháp ban hành Luật hộ tịch.
11
HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP
người cha thì họ sẽ không được hưởng di sản của
Theo quy định tại Điều 652 BLDS, thừa kế
người cha. Do vậy, nếu họ còn sống khi cha chết thế vị chỉ phát sinh giữa những người có quan hệ
thì họ cũng không được hưởng di sản thừa kế nên huyết thống gồm: người để lại di sản – con – cháu
không có “phần được hưởng nếu còn sống” để – chắt. Thừa kế thế vị chỉ áp dụng theo chiều cháu
cho người khác hưởng thế vị”.
thế vào vị trí con của người để lại di sản để hưởng
Trong thực tiễn hoạt động công chứng, phần mà người con nếu còn sống được hưởng;
những người thừa kế phải chứng minh có hành nếu cháu cũng chết trước thì chắt được thay cháu
vi vi phạm Khoản 1 Điều 621 của người chết thế vào vị trí của người con nếu còn sống được
trước, dẫn đến không còn phát sinh quyền thừa hưởng, không áp dụng chiều ngược lại. Như vậy,
kế thế vị. Căn cứ điểm a, điểm c Khoản 1 Điều trong hoạt động công chứng, công chứng viên
621 BLDS năm 2015, hành vi vi phạm được xác phải kiểm tra các giấy tờ chứng minh quan hệ
định bằng bản án có hiệu lực của Tòa án. Tuy giữa người để lại di sản với con - cháu – chắt,
nhiên, hành vi vi phạm quy định tại điểm b, thông qua giấy khai sinh được cấp đúng quy định
điểm d Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015, nhà của pháp luật hộ tịch. Về vấn đề này, có quan
làm luật lại chưa có tiêu chí xác định cụ thể. Tuy điểm cho rằng, những người có quyền thừa kế
nhiên, căn cứ vào nội dung hành vi, tác giả cho phải có quan hệ huyết thống trực hệ (chỉ có con đẻ
rằng, chỉ có Tòa án mới đủ thẩm quyền xác định thay thế vị trí của cha, mẹ đẻ). Trong trường hợp
hành vi vi phạm. Bởi lẽ, Tòa án là cơ quan tài A nhận nuôi B, B nhận nuôi C thì thế vị không
phán có thẩm quyền trong việc đánh giá và kết được đặt ra trong mọi trường hợp. Vì con nuôi
luận “hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của một người không đương nhiên trở thành cháu
nuôi dưỡng người để lại di sản” trên cơ sở xem nuôi của người khác10. Tuy nhiên, quan điểm trên
xét các chứng cứ chứng minh. Đối với trường dường như không phù hợp với các quy định khác
hợp lừa dối, cưỡng ép, đe dọa người để lại di có liên quan. Cụ thể, theo Điều 24 Luật nuôi con
chúc…, di chúc sẽ vô hiệu. Tòa án, cơ quan có nuôi năm 2010 “Kể từ ngày giao nhận con nuôi,
thẩm quyền tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các
thông qua bản án, quyết định có hiệu lực. Như quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con
vậy, trong mọi trường hợp quy định tại Khoản 1 nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ
Điều 621 BLDS năm 2015, công chứng viên nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau
phải căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia
của Tòa án để xác định người không được đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của
quyền hưởng di sản. Trong thực tiễn, những pháp luật có liên quan”. Từ đó, BLDS năm 2015
người thừa kế vẫn có hành vi không khách cũng đã quy định cụ thể quyền thừa kế thế vị của
quan, không trung thực, che giấu thông tin về con nuôi đối với cha mẹ nuôi. Bên cạnh đó, theo
bản án đã có hiệu lực. Vì thế, đối với việc xác Điều 654 BDLS năm 2015, con riêng cũng được
định người thừa kế có thuộc trường hợp không quyền thừa kế thế vị từ bố dượng, mẹ kế nếu có
được hưởng di sản hay không, công chứng viên quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng nhau như cha con,
cần kiểm tra thêm mục “nguyên nhân chết” thể mẹ con. Như vậy, những người có quyền thừa kế
hiện trên “trích lục khai tử” của người để lại di thế vị của nhau không bắt buộc phải có quan hệ
sản. Nếu có dấu hiệu nghi ngờ, công chứng viên huyết thống trực hệ.
có quyền yêu cầu làm rõ, xác minh theo đề nghị
của người yêu cầu công chứng.
Thừa kế thế vị là quan hệ mang tính thay thế
vị trí thừa kế nếu các chủ thể thỏa mãn điều kiện
Thứ ba, thừa kế thế vị chỉ được áp dụng cho luật định. Trong thừa kế thế vị, cháu hoặc chắt
quan hệ giữa người để lại di sản – con – cháu – người để lại di sản có quyền thay vào vị trí con
chắt theo chiều dọc, không áp dụng theo chiều của người để lại di sản nếu người con còn sống
ngược lại.
được hưởng. Tuy nhiên, bên cạnh thừa kế thế vị,
10 Nguyễn Văn Cừ - Trần Văn Tuyết (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.1011 - 1012.
12
Soá 08/2021 - Naêm thöù möôøi saùu
pháp luật dân sự còn có quy định về nguyên tắc cũng thống nhất với quan điểm của một tác giả
thừa kế theo hàng. Căn cứ Điều 651 BLDS năm khác khi phân tích ở góc độ thực tiễn xét xử:
2015, con đẻ, con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ “Trong thực tế còn có thể xảy ra trường hợp tất
nhất. Những người ở hàng thừa kế sau được cả những người con của người để lại di sản đều
hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế chết trước (không còn ai thuộc hàng thừa kế thứ
trước do chết, không có quyền hưởng di sản, bị nhất) nhưng con của người con chết trước vẫn
truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Trong trường
sản. Xuất phát từ vấn đề này, trong hoạt động hợp này, con của người con (tức cháu của người
công chứng, có quan điểm cho rằng khi không để lại di sản) được hưởng di sản với tư cách là
còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất, thừa kế thế vị người thừa kế thế vị”12.
không thể phát sinh, cháu người để lại di sản
2. Một số bất cập liên quan đến thừa kế thế
được thừa kế theo hàng hai. Quan điểm này có vị trong thực tiễn hoạt động công chứng và
thể mô phỏng qua ví dụ sau:
kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật
Ông Nguyễn Văn A có em ruột là bà Nguyễn
Quyền thừa kế thế vị đã được ghi nhận từ rất
Thị B, vợ là Trần Thị C, con ruột là Nguyễn Văn sớm trong pháp luật dân sự, được duy trì qua quá
X và Nguyễn Văn Y. Nguyễn Văn X có một người trình xây dựng và hoàn thiện chế định thừa kế.
con là Nguyễn Văn X1. Năm 2006, vợ ông A là Tuy nhiên, thực tiễn đa dạng và phức tạp dẫn đến
bà C qua đời. Năm 2013, con ông A là Nguyễn nhiều nguyên tắc trong quy định về thừa kế thế vị
Văn X qua đời. Năm 2015, Nguyễn Văn Y chết. trở nên khó áp dụng, đặc biệt trong thực tiễn hoạt
Năm 2020, ông Nguyễn Văn A chết. Như vậy, tại động công chứng, điều đó được thể hiện ở các
thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế thứ nhất của vấn đề sau:
ông A là vợ (bà C) và hai con đều không còn ai.
Thứ nhất, bất cập trong quy định của pháp
Căn cứ Khoản 3 Điều 651 BLDS năm 2015, do luật dân sự về việc xác định giấy tờ chứng minh
hàng thừa kế thứ nhất của ông A không còn, cháu sự kiện chết.
của ông A là Nguyễn Văn X1 trở thành người
thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ hai, không áp nói riêng đều phát sinh trên sự kiện người để lại
dụng thừa kế thế vị. thừa kế đã chết. Sau thời điểm mở thừa kế, người
Quan hệ thừa kế nói chung và thừa kế thế vị
Như vậy, theo quan điểm trên, quyền thừa kế thừa kế có quyền liên hệ với tổ chức hành nghề
theo hàng có thứ tự áp dụng ưu tiên so với quyền công chứng để yêu cầu công chứng một số văn
thừa kế thế vị. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, bản liên quan đến quyền thừa kế của mình. Theo
nguyên tắc áp dụng trên là không phù hợp, làm quy định tại Khoản 1 Điều 40 Luật công chứng
mất đi ý nghĩa của thừa kế thế vị. Xét về mặt kết năm 2014, người yêu cầu công chứng phải cung
cấu điều luật, thừa kế theo hàng quy định tại Điều cấp hồ sơ yêu cầu công chứng, trong đó có “Bản
651, độc lập với quyền thừa kế thế vị được quy sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao
định tại Điều 652 BLDS năm 2015. Vì lẽ đó, dịch mà pháp luật quy định phải có”, đảm bảo
trong trường hợp phát sinh quyền thừa kế giữa xác thực và được cấp hợp pháp. Từ quy định của
con nuôi và cha mẹ nuôi, nhà làm luật cũng đã BLDS năm 2015 về thời điểm mở thừa kế, hồ sơ
xác định quyền thừa kế riêng biệt giữa thừa kế yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh
theo hàng và thừa kế thế vị11. Ngoài ra, như đã sự kiện chết của người để lại di sản và người con
phân tích, quyền thừa kế thế vị có nguyên tắc áp hoặc người cháu chết trước người để lại di sản.
dụng riêng, mang ý nghĩa kế thừa giữa những Theo quy định của pháp luật hộ tịch, người chết
người có quan hệ huyết thống, không thể áp dụng phải được cấp “trích lục khai tử” theo biểu mẫu
phụ thuộc vào hàng thừa kế quy định tại Điều đúng quy định tại mỗi thời kỳ. Tuy nhiên, trong
652 BLDS năm 2015. Quan điểm của tác giả thực tiễn, người thừa kế thường xuyên không
11 Điều 653 BLDS năm 2015.
12 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tập
2, tr.300.
13
HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP
cung cấp được giấy khai tử hoặc giấy chứng tử được giấy khai tử, chỉ cung cấp được một số loại
theo đúng quy định của pháp luật hộ tịch tại thời giấy tờ như tờ khai gia đình, lý lịch Đảng, thẻ
điểm chết. Xuất phát từ tình hình chiến tranh, mộ, bằng Tổ quốc ghi công… Khi phát sinh
tình trạng cư trú, người chết vào thời điểm còn những sự kiện trên, người yêu cầu công chứng
nhỏ tuổi…, người thừa kế thường không đăng khá khó khăn trong việc thực hiện đăng ký hoặc
ký khai tử cho người chết. Trong thực tiễn, đăng ký lại khai tử theo quy định của pháp luật
người thừa kế thường xuất trình tại Tổ chức hộ tịch.
hành nghề công chứng một số giấy tờ sau để
Tham chiếu quy định của Luật công chứng
chứng minh có sự kiện chết: Giấy báo tử do Thủ năm 2014, khi yêu cầu công chứng văn bản từ
trưởng cơ sở y tế cấp; Giấy xác nhận việc thi chối nhận di sản, người thừa kế phải cung cấp
hành án tử hình do Chủ tịch Hội đồng thi hành “giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh
án tử hình cấp; Bản án, quyết định có hiệu lực người để lại di sản đã chết”. Tuy nhiên, quy định
của Tòa án tuyên bố một người chết; Bằng liệt trên chưa được quy định trong thủ tục công chứng
sĩ, bằng tổ quốc ghi công đối với liệt sĩ; Thẻ mộ; văn bản khai nhận di sản, văn bản thỏa thuận phân
Sổ hộ khẩu ghi “xóa chết”; Tờ khai gia đình xác chia di sản. Ngoài ra, theo quy định tại Nghị định
nhận có sự kiện chết…
số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 quy định xử
Theo quy định của pháp luật hộ tịch, những phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư
giấy tờ trên là căn cứ để cơ quan hộ tịch cấp giấy pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình;
khai tử. Như vậy, dẫn chiếu lại quy định của thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp; hợp tác
Luật công chứng năm 2014, những giấy tờ trên xã (NĐ số 82/2020/NĐ-CP), việc công chứng văn
dường như không đảm bảo yếu tố hợp pháp bản khai nhận di sản, văn bản thỏa thuận phân
trong việc Nhà nước xác nhận sự kiện chết của chia di sản khi không có giấy chứng tử hoặc giấy
một cá nhân. Trong trường hợp này, công chứng tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết
viên có thể hướng dẫn người yêu cầu công hoặc người thừa kế đã chết (nếu có), việc công
chứng thực hiện đăng ký khai tử. Tuy nhiên, thủ chứng của công chứng viên sẽ bị xử phạt vi phạm
tục đăng ký khai tử sẽ gặp khó khăn, xuất phát hành chính theo quy định15. Có thể thấy, Luật
từ thẩm quyền đăng ký. Theo quy định, Ủy ban công chứng năm 2014 và NĐ số 82/2020/NĐ-CP
nhân dân (UBND) cấp xã nơi cư trú cuối cùng đều có quy định mở theo hướng có thể sử dụng
của người chết có thẩm quyền cấp giấy khai tử. giấy tờ khác chứng minh sự kiện chết ngoài giấy
Trường hợp không xác định được nơi cư trú chứng tử. Vì lẽ đó, để tạo thuận tiện cho người
cuối cùng, UBND cấp xã nơi người đó chết hoặc yêu cầu công chứng trong việc chứng minh sự
nơi phát hiện thi thể của người chết có thẩm kiện chết, tác giả cho rằng pháp luật công chứng
quyền đăng ký khải tử13. Trong trường hợp đăng cần thống nhất quy định người thừa kế có thể
ký lại khai tử, UBND cấp xã nơi đã đăng ký cung cấp “giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng
khai tử trước đây thực hiện đăng ký lại khai tử14. minh người để lại di sản đã chết” khi có yêu cầu
Trong khi đó, đơn vị hành chính thường xuyên công chứng các văn bản về thừa kế, bao gồm cả
có tình trạng thay đổi dẫn đến khó xác định chứng minh điều kiện phát sinh quyền thừa kế thế
UBND cấp xã có thẩm quyền. Ngoài ra, người vị. Để đảm bảo tính xác thực thông tin, giấy tờ
đăng ký khai tử còn thường gặp khó khăn trong khác chứng minh sự kiện chết cần phải thỏa mãn
việc không cung cấp được giấy tờ chứng minh các tiêu chí gồm: phải có đầy đủ thông tin về
sự kiện chết theo quy định của pháp luật hộ tịch người chết, do cơ quan có thẩm quyền xác nhận
để tiến hành đăng ký khai tử. Trên thực tế, công để chứng minh có sự kiện chết.
chứng viên thường xuyên gặp tình huống sự
Thứ hai, bất cập trong việc nhận diện điều
kiện chết đã xảy ra từ rất lâu, chết từ nhỏ, chết kiện thừa kế thế vị của con riêng đối với bố
trong chiến tranh… và gia đình không cung cấp dượng, mẹ kế.
13 Điều 32 Luật hộ tịch năm 2014.
14 Điều 25 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.
15 Điểm d Khoản 3 Điều 13 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.
14
Soá 08/2021 - Naêm thöù möôøi saùu
Quyền thừa kế giữa con riêng và bố dượng, quyền và nghĩa vụ chứng minh thuộc về con
mẹ kế được quy định từ Thông tư số riêng. Khi phát sinh thêm thừa kế thế vị đối với
81/TANDTC ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải con riêng, tỉ lệ phần di sản được hưởng của những
quyết các tranh chấp về thừa kế, sau đó tiếp tục đồng thừa kế khác sẽ bị ảnh hưởng. Để bảo vệ
được ghi nhận tại Pháp lệnh thừa kế năm 1990, nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ thừa kế,
BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và BLDS BLDS năm 2015 đề cao thỏa thuận của những
năm 2015. Theo quy định tại Điều 654 BLDS người thừa kế thông qua việc ghi nhận quyền của
năm 2015, con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có của họ như: giải thích nội dung di chúc17; cử
quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, người quản lý di sản; thỏa thuận phân chia di
mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn sản… Xuất phát từ nguyên tắc của công chứng là
được thừa kế thế vị. Như vậy, tiêu chí “có quan chứng nhận sự tự thỏa thuận của các bên, văn bản
hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ công chứng cũng phải đảm bảo ghi nhận sự tự do,
con” là điều kiện phát sinh quyền thừa kế thế vị tự nguyện, không tranh chấp. Vì thế, công chứng
của con riêng đối với bố dượng, mẹ kế. Tuy viên cũng cần tôn trọng sự tự thỏa thuận của
nhiên, pháp luật dân sự hiện hành chưa có quy những đồng thừa kế trong việc thừa nhận quyền
định hướng dẫn việc chứng minh có quan hệ thừa kế của con riêng từng có quan hệ chăm sóc,
chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thực tiễn, có quan nuôi dưỡng với bố dượng, mẹ kế. Do đó, tác giả
điểm cho rằng, quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng cho rằng, pháp luật công chứng cần cho phép
giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế phải diễn ra công chứng viên áp dụng nguyên tắc trên thông
hai chiều: “Thuật ngữ “chăm sóc, nuôi dưỡng qua thủ tục họp mặt những người thừa kế, ghi
nhau” có thể được hiểu là người mẹ kế (hay cha nhận cụ thể bằng “Biên bản họp mặt những người
dượng) phải “chăm sóc, nuôi dưỡng” con riêng thừa kế”18, qua đó xác định quyền thừa kế thế vị
của chồng (hay vợ), đồng thời con riêng của của con riêng đối với bố dượng, mẹ kế.
Thứ ba, bất cập liên quan đến xác định quyền
thừa kế thế vị trong trường hợp có hành vi vi
phạm Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015.
Theo quy định của pháp luật dân sự, thừa kế
thế vị phát sinh cho cháu hoặc chắt người để lại
di sản nếu người con hoặc cháu còn sống đủ điều
kiện được hưởng. Trong trường hợp người con
hoặc cháu khi còn sống đã vi phạm quy định tại
Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015, cháu hoặc
chắt không được quyền thừa kế thế vị. Tuy nhiên,
người được quyền thừa kế thế vị vi phạm quy
định tại Khoản 1 Điều 621 BLDS thì quyền thừa
kế thế vị có còn phát sinh không, BLDS năm
2015 quy định vẫn còn chưa cụ thể. Minh chứng
cho vấn đề này, tác giả đưa ra ba trường hợp sau:
Ông Nguyễn Văn A (chết năm 2019), có con
là Nguyễn Văn B (chết năm 2016). Nguyễn Văn
B có con là Nguyễn Văn C.
chồng (hay vợ) cũng phải “chăm sóc, nuôi
dưỡng” người mẹ kế (hay cha dượng. Nói cách
khác, với cách hiểu này thì cần có sự “có đi có
lại” giữa hai thế hệ”16. Tuy nhiên, tác giả cho
rằng cách hiểu trên không phù hợp về mặt thực
tiễn. Chăm sóc, nuôi dưỡng một người là vấn đề
xuất phát chính từ yếu tố đạo đức, tình cảm gia
đình. Ở góc độ kinh tế, khả năng chăm sóc, nuôi
dưỡng người khác phụ thuộc rất nhiều vào năng
lực của mỗi cá nhân. Trong trường hợp người
con riêng từng được bố dưỡng, mẹ kế chăm sóc,
nuôi dưỡng nhưng không có hoặc chưa có năng
lực để chăm sóc, nuôi dưỡng lại bố dượng, mẹ
kế (con riêng chưa thành niên, con riêng bị mất
hoặc khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành
vi…), việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”
không phù hợp với giá trị của quyền thừa kế
trong trường hợp được đặt ra.
Trường hợp 1: Năm 2014, ông Nguyễn Văn B
bị kết án về tội cố ý gây thương tích cho ông
Nguyễn Văn A.
Quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa con riêng
với bố dượng, mẹ kế có giá trị chứng minh cao
nhất trong khi có sự thừa nhận từ hai phía. Tuy
nhiên, trong trường hợp bố dượng, mẹ kế đã chết,
Trường hợp 2: Năm 2015, ông Nguyễn Văn C
bị kết án về tội cố ý gây thương tích cho ông
Nguyễn Văn B...
(Xem tiếp trang 47)
16 Đỗ Văn Đại (2016), Luật Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.263.
17 Điều 648 BLDS năm 2015.
18 Điều 656 BLDS năm 2015.
15
Bạn đang xem tài liệu "Một số bất cập trong quy định về quyền thừa kế thế vị liên quan đến hoạt động công chứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_bat_cap_trong_quy_dinh_ve_quyen_thua_ke_the_vi_lien_q.pdf

