Quản lý phát triển xã hội của Việt Nam trong bối cảnh xã hội số và xã hội siêu thông minh
VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
Original Article
Management of Vietnam’s Social Development
in the Digital Social Context and Super Smart Society
Nguyen Huu Hoang*, Tran Van Huan
Academy Politics of Region II, 99 Man Thien Street, Hiep Phu Ward, Thu Duc City, Ho Chi Minh City
Received 25 January 2021
Revised 14 April 2021; Accepted 13 July 2021
Abstract: “Social development management”, “digital society” or “super smart society” - new
academic and practical issues in recent years. Through studying domestic and foreign documents,
compared to the specific context of Vietnam, the article was systematized, analyzed and discussed
urgent issues of social life for the social development management in Vietnam from the perspective
of national digital transformation, the orientation of building a digital society and super smart
society. It also proposes ideas and suggests models for reference to help solve these challenges well.
This research shows that the revolution in science and technology, recently the 4th Industrial
Revolution has created a basic foundation of technology and engineering, promoted an objective
transition of state and properties modern society towards digitization and super intelligence. This
has created positive and unprecedented changes, but also raises many new problems for each
individual, community and the process of current social change management.
Keywords: Social development management, social life, social changes, digital society, super smart
society.
Đặng
dfdsfdsfdsfsdfdsfdfdsfdfdsfdsfdfdsfdsf
dsf
________
Corresponding author.
35
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
36
Quản lý phát triển xã hội của Việt Nam
trong bối cảnh xã hội số và xã hội siêu thông minh
Nguyễn Hữu Hoàng, Trần Văn Huấn
Học viện Chính trị khu vực II, 99 Man Thiện, phường Hiệp Phú, thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh
Nhận ngày 25 tháng 01 năm 2021
Chỉnh sửa ngày 14 tháng 4 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 13 tháng 7 năm 2021
Tóm tắt: “Quản lý phát triển xã hội” (QLPTXH), “xã hội số” hay “xã hội siêu thông minh” - những
vấn đề học thuật và thực tiễn mới mẻ vài năm gần đây. Qua nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài
nước, đối sánh với bối cảnh đặc thù của Việt Nam, bài viết đã hệ thống, phân tích, bàn luận về những
vấn đề cấp bách, thách thức của đời sống xã hội đã, đang và tiếp tục đặt ra cho quản lý phát triển xã
hội Việt Nam đặt trong viễn cảnh chuyển đổi số quốc gia, định hướng xây dựng xã hội số, xã hội
siêu thông minh. Bài viết cũng đề xuất những ý tưởng, gợi mở mô hình có tính tham khảo góp phần
hoá giải các thách thức này. Nghiên cứu cho thấy, cách mạng về khoa học và công nghệ, nhất là
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra nền tảng cơ bản về công nghệ và kỹ thuật, thúc
đẩy chuyển đổi một cách khách quan trạng thái, tính chất xã hội đương đại theo hướng số hoá và
siêu thông minh. Điều này tạo ra những thay đổi tích cực, chưa có tiền lệ nhưng cũng đặt ra không
ít vấn đề mới mẻ cho mỗi cá nhân, cộng đồng và đối với quá trình quản lý sự biến đổi xã hội hiện
nay.
Từ khóa: Quản lý phát triển xã hội, đời sống xã hội số, biến đổi xã hội, xã hội số, xã hội siêu thông
minh
1. Mở đầu
Ở Việt Nam, nghiên cứu chính thức ở tầm
quốc gia về “quản lý phát triển xã hội” được khởi
động, thảo luận sôi nổi khoảng 10 năm trở lại
đây1. Tuy nhiên, khái niệm này được Đảng Cộng
sản Việt Nam chính thức đưa vào Văn kiện Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016) và tiếp
tục được khẳng định tại Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XIII (2021) [1].
ở mức độ Web 2.0 (tương đương ở làn sóng thứ
4 của khoa học công nghệ thế giới), tức khoảng
thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI. Giai đoạn này,
thuật ngữ “số hoá” được sử dụng trong cả
phương tiện truyền thông và tài liệu học thuật, và
thuật ngữ “xã hội số” (digital society) cũng được
hình thành trong giai đoạn này [2, tr.11, 3, 4, tr.9-
10].
Về “xã hội siêu thông minh”, hay “xã hội
5.0” (super smart society). Từ nhu cầu giải quyết
các thách thức cản trở sự phát triển bền vững
quốc gia như tỉ lệ sinh giảm, già hoá dân số, thảm
hoạ thiên nhiên, khủng bố, thiếu tài nguyên;
Đối với “xã hội số” (digital society), những
nghiên cứu gần đây như Watling & Rogers
(2012), Deborad Lupton (2015), Think Tank
Vinasa (2019),… cho rằng đây là giai đoạn “số
hoá” nằm trong diễn trình phát triển của Internet
̂
̉
̀ ̀
ng giưa phat triên vê
̃
́
đồng thời hướng đến can bă
̂
̀
kinh tê va giai quyêt cac vân đê xa họi thông qua
̃
́
́
́
̉
̀
́
________
Tác giả liên hệ.
1
Có thể kể đến như Công trình: Hoàng Chí Bảo (2010),
Đoàn Minh Huấn (2011), Trịnh Duy Luân (2018), Phạm
Ngọc Thanh (2019), Phạm Quang Minh (2020), Nguyễn
Tất Giáp, Phạm Minh Anh, Đỗ Văn Quân (2020).
Địa chỉ email: [email protected]
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
37
̂
̂
hẹ thô
́
ng tich hơp
̣
cao giưa khong gian ao va
khá giản lược, được dịch lại và đăng tải qua báo
chí, phương tiện truyền thông. Nếu đặt 3 nội
dung “xã hội số”, “xã hội siêu thông minh” và
quản lý phát triển xã hội” thành một chủ đề/ đề
tài nghiên cứu thống nhất như cách đặt chủ đề
của bài nghiên cứu này - quản lý phát triển xã hội
trong xã hội số hoá và xã hội siêu thông minh thì
càng hiếm hoi.
̉
̃
̀
́
̂
̣
khong gian thưc, ngày 22/01/2016, Nội các Nhật
Bản đã ban hành Kế hoạch cơ bản về khoa học
và công nghệ lần thứ, giai đoạn 2016 - 2021,
trong đó, trọng tâm đặt mục tiêu xây dựng “xã
hội siêu thông minh” [5, tr.21]. Từ đó trở thành
quốc gia đầu tiên trên thế giới đưa ra thuật ngữ
và bắt tay vào công cuộc xây dựng xã hội mới
này, mong muốn giới thiệu với thế giới về thành
tựu công nghệ đầu tiên trong xã hội siêu thông
minh2 tại Thế vận hội Olympic và Paralympic
năm 2020 [5, tr.26].
Ở góc độ quản lý, từ năm 2019, Ban Chấp
hành Trung ương Đảng và Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành nhiều chủ trương và chính sách quốc
gia về phát triển khoa học, công nghệ, về chủ
động thích ứng với Cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ tư cũng như Chương trình chuyển đổi số
quốc gia của Việt Nam đến năm 2025, định
hướng năm 20304. Tuy vậy, do ở góc độ vĩ mô
nên chưa thể đề cập một cách tường tận về mô
hình, giải pháp và kịch bản có tính hệ thống
nhằm thích ứng với những vấn đề cấp bách,
thách thức đặt ra cho quá trình “quản lý phát triển
xã hội” trong bối cảnh “xã hội số”, “xã hội siêu
thông minh” [6].
Điểm lược lại lịch sử của “quản lý phát triển
xã hội”, “xã hội số”, “xã hội siêu thông minh” để
thấy, đây là những vấn đề khá mới mẻ; là hiện
thực khách quan, vừa thời cơ song cũng là thách
thức đa diện đối với các quốc gia và Việt Nam
cũng không ngoại lệ.
Xét ở phương diện khoa học xã hội, khá
hiếm các công trình nghiên cứu tầm cỡ nếu đặt 3
chủ đề này như là hợp phần riêng lẻ (nhất là chủ
đề “xã hội số”, “xã hội siêu thông minh”). Các
công trình nghiên cứu cấp quốc gia, cấp bộ của
Việt Nam về “quản lý phát triển xã hội” do chúng
tôi khảo nghiệm đã được công bố khá lâu (cách
đây khoảng 10 năm), nhưng chỉ mới chính thức
được thừa nhận chính thức trong Văn kiện Đảng
từ năm 2016. Số lượng công trình chưa nhiều,
cập nhật, nhận thức về các chủ đề này chưa thực
sự thống nhất và sáng rõ.
2. Quá trình chuyển đổi xã hội Việt Nam từ
truyền thông sang xã hội số và xã hội siêu
thông minh: Nội hàm và những nhận thức
ban đầu
Quản lý phát triển xã hội được đặt trong
khung cảnh xã hội mới với biến đổi mạnh mꢀ từ
truyền thống sang hiện đại. Ở đó, tính số hoá và
thông minh hoá được thúc đẩy bởi nền tảng về
công nghệ số. Do vậy, để nhận diện thách thức
và cấp bách từ bối cảnh này cần thiết phải nhận
Kế đến, “xã hội số”, “xã hội siêu thông
minh” vẫn còn “khoảng trống” khá lớn trong các
nghiên cứu quốc tế và Việt Nam3. Chủ đề này ở
Việt Nam tồn tại chủ yếu là các bài báo điện tử
________
2
̂
Nam”, “xã hội 5.0 Việt Nam” thì không có kết quả nào được
̂
̂
Theo Ong Noritsugu Uemura, Giam đô
́
c bọ phạn Quan hệ
́
tìm thấy.
̂
̂
Chính phủ va cong chúng - Tạp đoan Mitsubishi đa trả lơi
̀
̀
̃
̀
4
̂
tạp chí Expert (Nga) rằng, hiẹn nay, Nhật Ban mơi chi ở
̉
́
̉
Tham khảo thêm các tài liệu sau:
̂ ̂
nhưng bước đi đầu tien cua qua trinh tiến tơi Xa họi 5.0 va
̉
́ ́ ̃ ̀
̀
(i). Nghị quyết 52-NQ/TW năm 2019 về chủ trương, chính
sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư do Bộ Chinh trị ban hành ngày 27/02/2019 [7].
(ii). Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Nghị quyết số 23-
NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây
dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội [8].
(iii). Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-
TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định
hướng đến năm 2030, Hà Nội [9].
̃
̂
́ vạn
chưa thể trình diễn cac kê
́
t qua cu
̣
thê
̉
. Nhung đê
sꢀ cho thê giơi thấy
́
n Thê
́
̉
̛
hội 2020, do Nhật Bản đăng cai, ho
̣
́
́
̂
được nhưng kết qua ban đầu nhu hẹ thống giao thông tư
̣
̉
̛
̃
̂
hanh dùng cam biển gă
́
n trên xe, ban đô
̀
3D, tín hiẹu đin
m giam đọ sai sot xuông duơi
̣
h
̀
̉
̉
̂
̂
vị từ hệ thống vẹ tinh nhă
̀
́
̉
́
́
̛
5 cm [5]
3
Tra cứu từ khoá “digital society”, hay “society 5.0” trên
Google Scholar, xếp theo mức độ liên quan, chọn giai đoạn
2010 đến nay, lần lượt có 19.400 và 980 kết quả tìm kiếm
chứa thuật ngữ này. Tương tự với từ khoá “xã hội số Việt
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
38
thức một cách có hệ thống dù ở mức cơ bản nội
hàm của ba (03) khái niệm này.
quan điểm của mình về “xã hội số”. Xét theo
nghĩa rộng, là bao trùm lên mọi hoạt động của
con người. Động lực chính của xã hội số là công
nghệ số, dựa trên sự tăng trưởng thông tin, dữ
liệu một cách nhanh chóng, làm thay đổi mọi
khía cạnh của tổ chức xã hội, từ chính phủ, kinh
tế cho tới người dân. Xét theo nghĩa hẹp, gồm
công dân số và văn hóa số. Theo nghĩa này, “xã
hội số”, cùng với chính phủ số và kinh tế số tạo
thành ba trụ cột của một quốc gia số. Công dân
số được hiểu là khả năng truy cập các nguồn
thông tin số, khả năng giao tiếp trong môi trường
số, kỹ năng số cơ bản, mua bán hàng hóa trên
mạng, chuẩn mực đạo đức trong môi trường số,
bảo vệ thể chất và tâm lý trước các ảnh hưởng từ
môi trường số, quyền và trách nhiệm trong môi
trường số, định danh và xác thực, dữ liệu cá nhân
và quyền riêng tư trong môi trường số. Văn hóa
số chính là các quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo
đức của con người trong môi trường số [12].
2.1. Xã hội số
Trong Báo cáo đặc biệt “Xã hội số ở châu
Á”, GSMA - Tổ chức đại diện lợi ích của các nhà
khai thác di động trên toàn thế giới đã đưa ra định
nghĩa rất quan trọng mà báo chí Việt Nam
thường viện dẫn.
Hộp 1: Xã hội số theo nghiên cứu của GSMA
“Xã hội số” đề cập đến một xã hội nơi công
dân tương tác liền mạch với các khía cạnh khác
nhau của cuộc sống, bao gồm công việc, giải trí
và giao tiếp, qua các kênh kỹ thuật số thông qua
mạng lưới các thiết bị được kết nối thông minh
và các dịch vụ tương thích. Trên thực tế, mọi
người trong xã hội kỹ thuật số có thể truy cập và
tương tác với một loạt các dịch vụ công và tư,
bao gồm cả dịch vụ tài chính, tiện ích, giáo dục,
y tế và giao thông, mọi lúc và mọi nơi bằng cách
sử dụng công nghệ kỹ thuật số. Điều này đã dẫn
đến sự gia tăng nhanh chóng của các phân khúc
thị trường và mô hình kinh doanh mới, với ranh
giới giữa các sản phẩm và dịch vụ ngày càng bị
xóa nhòa bởi sự kết nối giữa các quy trình và
ngành dọc khác nhau trước đây” [10, tr.6].
Quyển sách Hỏi đáp về chuyển đổi số xuất
bản năm 2020 của các nhà khoa học Hồ Tú Bảo,
Nguyễn Nhật Quang và Nguyễn Huy Dũng có lꢀ
là công trình hiếm hoi dành một dung lượng nhất
định bàn về khía cạnh của xã hội số. Công trình
nhấn mạnh, xã hội số là xã hội của con người
trong môi trường số, ở đấy nhiều dịch vụ và nền
tảng số giúp cuộc sống con người thuận tiện, dễ
dàng, công ăn việc làm nhiều hơn, năng suất cao
hơn, xã hội an toàn và nhân văn hơn, giúp cân
bằng kinh tế với cuộc sống,…. Đặc biệt, nhóm
tác giả cho rằng, xã hội siêu thông minh/ xã hội
5.0 (được đề cập Mục 2.2 dưới đây) là phiên bản,
biểu hiện tiêu biểu của xã hội số [13, tr.296].
Một số nhà nghiên cứu xã hội quốc tế cho
rằng: “Xã hội số” là sự kết nối vạn vật (mọi thứ)
trong xã hội thông qua phương thức số hoá
chúng [11, tr.10]. Cũng trong công trình này,
Simon Lindgren bàn luận thêm, tiếp cận “xã hội
số” như một phương trình mà “xã hội số” =
truyền thông số (digital media) + xã hội
(societies). Trong đó, xã hội chịu ảnh hướng của
hệ thống công cụ giao tiếp và hạ tầng căn bản
như Internet và truyền thông xã hội được số hoá
và kết nối với nhau [11, tr.10].
Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày
03/6/2020 về phê duyệt Chương trình chuyển đổi
số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm
2030 gồm 03 trụ cột là (1) chính phủ số, (2) kinh
tế số và (3) xã hội số. Trong đó, xác định 3 mục
tiêu và 7 nhiệm vụ, giải pháp xây dựng “xã hội
số”. Tuy nhiên, mô hình tổng thể “xã hội số” vẫn
chưa thực sự sáng rõ [14].
Ở Việt Nam, hầu như chưa có công trình
nghiên cứu nào đề cập chuyên sâu đến chủ đề
“xã hội số” ngoài một số trang báo hoặc tài liệu
dịch tiếp cận theo hướng tổng hợp hoá các khái
niệm của quốc tế trong khoảng 1 - 2 năm trở
lại đây.
Từ đó, chúng tôi cung cấp một cách tiếp cận
tổng thể, hài hoà giữa tri thức khoa học xã hội và
lĩnh vực chuyên biệt về số hoá và công nghệ
Cục Tin học hoá (Bộ Thông tin và Truyền
thông) gần đây công bố một số bài viết trên các
trang báo mạng đã đưa ra một vài cách tiếp cận,
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
39
thông tin để giới thiệu khái quát về khái niệm “xã
hội số” như sau:
vực và đối tượng có nhu cầu được số hoá trong
đời sống xã hội trên môi trường số thông qua hệ
thống hạ tầng công nghệ - kĩ thuật số và truyền
thông số phát triển mạnh, hiện đại, phù hợp với
xu thế công nghệ của thế giới [15, 16 tr.323, 17].
Hộp 2: Xã hội số theo nghiên cứu theo đề
xuất của tác giả
Xã hội số là trạng thái biến đổi và phát triển
mới về chất của xã hội, ở đó, dựa trên nền tảng
căn bản và quan trọng nhất là công nghệ - kỹ
thuật số, truyền thông số như Internet, AI,
Bigdata, Mobile Technology,… giúp kết nối sự
tương tác mọi thành viên trong xã hội với nhau,
với mọi vật (IoT) trên các lĩnh của đời sống xã
hội như kinh tế, chính trị, văn hoá,... trên thế giới
số, tạo ra cuộc sống thay đổi tích cực về chất,
thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, nhân văn và
hiện đại, phù hợp xu hướng công nghệ thế giới.
2.2. Xã hội siêu thông minh
Theo mô tả ban đầu trong bản Kế hoạch cơ
bản về khoa học và công nghệ lần thứ 5, giai
đoạn 2016 - 2021 do Nội các Nhật Bản thông qua
“xã hội siêu thông minh” (hay xã hội 5.0) được
nhận thức ở các chiều cạnh như sau:
Một là, “xã hội siêu thông minh” là mô hình
xã hội, giai đoạn và thời đại trong lịch sử mà
Nhật Bản đã và đang xây, trở thành quốc gia đầu
tiên trên thế giới xây dựng. Theo đó, xã hội siêu
thông minh là xã hội kế tiếp của 4 kiểu xã hội
trước đó, gồm xã hội săn bắt, hái lượm (xã hội
1.0), xã hội nông nghiệp (xã hội 2.0), xã hội công
nghiệp với máy móc, cơ khí, tự động hoá (xã hội
3.0) và xã hội thông tin với máy tính, Internet, thiết
bị điện tử,… (xã hội 4.0) (theo mô tả ở Hình 1).
(Nguồn: Tác giả nghiên cứu, tổng hợp)
Từ các cách tiếp cận và khái niệm trên đây,
bản chất của xã hội số chính là sự thay đổi về
chất cách thức tương tác và kết nối xã hội từ kiểu
truyền thống sang phương thức kết nối số hoá
(“the interconnectedness of things”) ở các lĩnh
Hình 1. “Xã hội 5.0” trong lịch sử.
Nguồn: [18, 19]
Hai là, xã hội siêu thông minh là xã hội siêu
đến xã hội tiện nghi, đầy đủ, chất lượng sống cao
và nhân văn, lấy con người là trung tâm, hoàn
thành các mục tiêu Phát triển bền vững của Liên
hợp quốc (SDGs).
kết nối dựa trên nền tảng công nghệ và kỹ thuật
số hiện đại, trong môi trường số, xã hội số và
cuộc sống số. Đây là giải pháp thúc đẩy giải
quyết các thách thức to lớn của thời đại, hướng
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
40
Trong kiểu xã hội này, vạn vật (kể cả con
(dữ liệu quốc gia về dân cư, về y tế, về tài nguyên
môi trường, về tài chính,…) thành một hệ thống
chung nhất nhằm phục vụ quản lý, phân tích, dự
báo đời sống kinh tế - xã hội chuẩn xác hơn; tạo
ra thể AI chăm sóc người già, làm việc môi
trường nguy hiểm; quản lý thông qua hồ sơ bệnh
án điện tử, hình thức khám bệnh từ xa, giúp phân
tích, cảnh báo thảm hoạ, thiên tai từ xa và từ
sớm; tạo ra nền tảng làm việc trực tuyến, hội họp
từ xa, thúc đẩy và trao cơ hội tiếp cận tri thức
mới, văn hoá mới toàn cầu, xuyên biên giới qua
khả năng tự học nhờ thiết bị điện tử hiện đại và
kho dữ liệu số hoá khổng lồ, được chia sẻ rộng
rãi, kết nối toàn cầu
người) trong thế giới thực (vật lí) được kết nối
và số hoá thông qua các cảm biến; từ đó hình
thành kho big data. Hệ thống dữ liệu này sꢀ được
AI và các công nghệ, kỹ thuật số hiện đại (robot,
máy tính, điện thoại thông minh, xe tự hành, đèn
giao thông tự hành,…) phân tích, xử lí và phục
vụ giải quyết nhu cầu, thách thức đa dạng, phức
tạp của xã hội hiện đại (xem Hình 2). Chẳng hạn,
hình thành nền kinh tế số dựa trên nền tảng giao
dịch trực tuyến và thương mại điện tử, tạo nhiều
việc làm mới, kinh tế chia sẻ; xây dựng chính
phủ số kết nối - chia sẻ - minh bạch và công khai
hoá cơ sở dữ liệu các ngành, lĩnh vực khác nhau
Hình 2. “Xã hội 5.0” tạo ra xã hội siêu kết nối, giải quyết thách thức xã hội.
Nguồn: [19]
Ba là, cách thức hoạt động của xã hội siêu
Internet để tự lấy thông tin, dữ liệu và thực hiện
phân tích theo nhu cầu. Tuy nhiên, trong xã hội
siêu thông minh, kho dữ liệu khổng lồ trên không
gian số, ảo vượt quá khả năng con người để có
thể phân tích để phục vụ nhu cầu của mình nếu
thiếu sự hỗ trợ của các thiết bị công nghệ tiên
tiến nhất như AI, máy tính hiện đại,… Trong
không gian số, AI tiến hành phân tích dữ liệu lớn
này và kết quả phân tích được phản hồi lại cho
con người trong không gian vật lý theo nhiều
cách khác nhau với vô vàng nhu cầu không giống
nhau, mang lại giá trị mới cho ngành và xã hội
mà trước đây không thể có được. Chẳng hạn dữ
thông minh dựa trên kết nối vạn vật (IoT) hình
thành dữ liệu lớn (Bigdata) và vai trò của phân
tích lượng dữ liệu, tạo ra thông tin và tri thức
khổng lồ đáp ứng nhu cầu con người trên mọi
lĩnh vực của đời sống. Kiểu xã hội này được hiện
thực hóa bởi một hệ thống tích hợp giữa không
gian mạng (không gian ảo/ số) và không gian vật
lý (không gian thực).
Trong xã hội thông tin (xã hội 4.0), con
người chủ yếu truy cập các dịch vụ đám mây (cơ
sở dữ liệu) trên không gian mạng thông qua
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
41
liệu lớn giúp xe tự lái có thể tự hoạt động trong
môi trường thực, thế hệ AI ngày càng hoàn thiện
và có khả năng đặc biệt; tra cứu (truy cập)
Internet bằng giọng nói, hệ thống từ điển trực
tuyến hoặc dịch thuật đa ngôn ngữ trên môi
trường mạng; dữ liệu lớn được phân tích để tiên
lượng thiên tai, tình hình phát triển kinh tế - xã
hội, bệnh lý, mô hình quản trị công,… (xem Hình
3).
Hình 3. Cơ chế vận hành của “Xã hội 5.0”
Nguồn: [18, 19]
Qua các phân tích trên, “xã hội siêu thông
Một là, tiếp cận theo kiểu phân loại, “quản lý
phát triển xã hội” trước hết là một dạng hoạt
động quản lý nói chung nhưng nhấn mạnh tính
“xã hội”; là phương thức hoạt động căn bản,
quan trọng, đặc biệt của xã hội loài người, do con
người tiến hành với tư cách là chủ thể và xã hội
thụ hưởng với tư cách là người tiếp nhận (khách
thể mà quá trình quản lý ấy mang lại).
minh” hay gần đây có các thuật ngữ và mô hình
“đô thị thông minh”, “thành phố thông minh”,…
về bản chất là xã hội số, là phiên bản cụ thể, trực
quan và mô hình sống động của mô hình xã
hội số.
2.3. Quản lý phát triển xã hội trong xã hội số và
xã hội siêu thông minh
Hai là, “quản lý phát triển xã hội” nhấn
mạnh nhiều và sâu hơn về “phát triển”, “phát
triển bền vững” như là mục tiêu quan trọng bậc
nhất của quản lý phát triển xã hội. Đề cập đến
“phát triển” trong “quản lý phát triển xã hội”, tức
nhấn mạnh, cũng chính là sự tuyên bố chấp nhận
đổi mới mạnh mꢀ cả trong tư duy và hành động
của cả hệ thống quản lý quốc gia. Đó là chuyển
từ hình thức quản lý nặng “cai trị” sang “quản
trị”, quản trị kiểu “cái kìm” (kìm và kẹp) sang
quản trị kiểu “bảo mẫu” (dung dưỡng và dẫn
dắt), từ “hiệu lực, hiệu quả” sang nhấn mạnh yếu
tố “hiệu quả, hiệu lực”; từ việc chỉ coi người dân
và xã hội là “thần dân”, đối tượng sang xem
Quản lý phát triển xã hội ra đời ở Việt Nam
còn khá mới mẻ so với quan niệm, nhận thức về
quản lý, quản lý công, quản lý xã hội hay quản
lý nhà nước về (lĩnh vực) xã hội, ngay cả trong
các văn kiện chính thức của Đảng và nhiều tài
liệu, công trình nghiên cứu. Những năm trở lại
đây, “quản lý phát triển xã hội” bước đầu được
sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu lý luận. Tuy nhiên, quan niệm về vấn
đề này vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Trong
bài viết này, chúng tôi khu biệt nhận thức về nội
hàm của quản lý phát triển xã hội trong vài khía
cạnh sau đây:
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
42
người dân, doanh nghiệp là chủ thể quan trọng
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thúc
đẩy chuyển đổi nhanh từ thời kỳ quá độ sớm đi
lên xã hội xã hội chủ nghĩa; quản lý phát triển xã
hội Việt Nam phấn đấu đến năm 2045 trở thành
nước công nghiệp phát triển hiện đại, thu nhập
cao, đổi mới phương thức quản lý nhà nước sang
“kiến tạo, hành động, phát triển”, “nhà nước khởi
tạo” hay xây dựng hệ thống chính sách “già hoá
chủ động”, “già hoá tích cực”, nhìn dân số trong
mối liên hệ với quá trình phát triển trong ứng phó
vấn đề này hơn chỉ tư duy dân số già là một lực
cản; tiếp cận nền tảng công nghệ 4.0 để xây dựng
đô thị thông minh (smart rural), thành phố thông
minh (smart city), xã hội số, xã hội 5.0, chính
phủ số, chính quyền số, cuộc sống số,… trong
tương lai. Tất cả minh chứng ấy cho thấy sự khác
nhau về sắc thái biểu đạt, sự sâu sắc về nội hàm
và ý nghĩa phương pháp luận trong quan điểm,
cách lập luận và nhận thức giữa “quản lý xã hội”
và “quản lý phát triển xã hội” [20].
của quá trình quản lý công việc quốc gia (cung
cấp lực lượng, nguồn lực), là “khách hàng”, là
đối tác; từ việc nặng tính “ổn định”, “bảo thủ”
đến thúc đẩy đổi mới, cải cách và kiến tạo không
gian và phát huy vai trò dẫn dắt sự phát triển xã
hội; từ việc nhà nước bao biện làm thay tất cả
công việc quản lý quốc gia đến việc tăng cường
hợp tác công tư (PPP), “nhà nước chỉ cầm chèo”
thay vì “cầm lái”, nhà nước chỉ làm những việc
mà tư nhân không làm, làm được làm hoặc không
thể làm tốt,…
Ba là, “quản lý phát triển xã hội” nhấn mạnh
đến tính “động” và sự “vận hành” với độ co giãn
và biến đổi mạnh mꢀ của xã hội (social changes)
ở từng cấp độ (lĩnh vực xã hội được khu biệt hay
toàn xã hội nói chung) so với “quản lý xã hội”.
Trường hợp này có thể hiểu “phát triển xã hội”
là đối tượng của quá trình quản lý ấy. Ở góc độ
xã hội học, “phát triển xã hội” có thể hiểu là biến
đổi xã hội, chuyển đổi trạng thái xã hội cả về quy
mô, số lượng và chất lượng của các yếu tố cấu
thành xã hội, tạo nên cấu trúc xã hội ấy. Từ đây,
quản lý phát triển xã hội trong trường hợp này
phải nhận thức rằng quá trình ấy diễn ra trong
một môi trường đầy biến động, vận động không
ngừng; luôn chú trọng đến quá trình phát triển,
vận động của các sự vật, hiện tượng. Từ đó, quản
lý xã hội buộc phải tiến lên nấc thang mới: biết
(phải) nhận diện biến đổi xã hội, tất yếu phải
đương đầu và giải quyết hàng loạt vấn đề xã hội
(social problems/ societal problems) được ví như
hệ quả của quá trình “phát triển xã hội” trong
từng nấc thang phát triển khác nhau; thúc đẩy
hình thành, thay đổi, đổi mới thái độ, tư duy, kỹ
năng của bản thân các chủ thể quản lý với kiểu
thích ứng biến đổi. Tính “động” trong “quản lý
phát triển xã hội” giúp các nhà lãnh đạo, quản lý
trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa
học nhìn nhận các đối tượng và khách thể quản
lý theo quan điểm phát triển không ngừng, phát
triển biện chứng.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
XII của Đảng (2016), lần đầu tiên và được xem
là điểm mới khi Đảng đề cập đến thuật ngữ
“quản lý sự phát triển xã hội”, “quản lý phát triển
xã hội” với những nhận thức bước đầu và được
luận giải “là sự tác động có định hướng, có tổ
chức của chủ thể quản lý đến khách thể (con
người, cộng đồng, các quan hệ xã hội, hoạt động
xã hội,…) nhằm mục tiêu phát triển xã hội bền
vững [21, tr.260]. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII
(2021) nhấn mạnh, “quản lý phát triển xã hội” là
1 trong 12 định hướng phát triển đất nước giai
đoạn 2021 - 2030, “quản lý phát triển xã hội hiệu
quả, nghiêm minh…”, “quản lý phát triển xã hội
bền vững, đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội”
[1, tr.114, 116, 147]. So với kỳ Đại hội trước,
quan điểm của Đảng về “quản lý phát triển xã
hội” có bước tiến mới, thay vì chỉ là sự diễn
nghĩa phản ánh nội hàm thuật ngữ, lần này tập
trung vào việc định ra các yêu cầu, nhiệm vụ,
định hướng cụ thể của nó.
Từ các phân tích như trên, có thể chỉ ra một
số đặc trưng của quản lý phát triển xã hội ở nước
ta hiện nay (tại Bảng 1).
Chẳng hạn, hình thành tầm nhìn, tư duy
“quản lý phát triển xã hội” để thúc đẩy, xây dựng
xã hội Việt Nam hướng đến mục tiêu “dân giàu,
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
43
Bảng 1. Đặc trưng cơ bản của quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong xã hội số và siêu thông minh
Tiêu chí
1. Triết lí
Diễn đạt đặc trưng của “quản lý phát triển xã hội”
Con người và xã hội là trung tâm sự phát triển, của hệ thống chính sách, “con
người là mục tiêu và động lực của sự phát triển”
Giải quyết các vấn đề xã hội của quá trình phát triển xã hội, cản trở của xã hội, từ
đó, nhằm thúc đẩy phát triển xã hội theo hướng bền vững, hài hoà vì mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, chú trọng phúc lợi xã hội,
hạnh phúc nhân dân và đảm bảo hệ thống an sinh xã hội bền vững.
Thiết chế xã hội chính thức, phi chính thức, người dân, xã hội đều có thể đảm
nhận vai trò là chủ thể quản lý trong từng lĩnh vực xã hội cụ thể, phù hợp. Trong
đó, các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến chính quyền địa phương giữ
vai trò chủ đạo. Tuy vậy, vai trò, vị thế và đóng góp trong quản lý phát triển xã
hội của các chủ thể còn lại ngày càng được phát huy, coi trọng, tăng cường và
khơi dậy.
2. Mục tiêu
3. Chủ thể quản lý
Quá trình phát triển xã hội (bao hàm (i). Cả quá trình biến đổi tổng thể trạng thái
cả xã hội; (ii). Biến đổi xã hội khu biệt ở từng thành tố cấu thành cấu trúc xã hội
tăng trưởng xã hội cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng,… cùng với hệ quả kéo theo
của các quá trình đó (social/ societal problems) như: quan hệ xã hội, phân tầng xã
hội, xung đột xã hội, phân hoá giàu - nghèo, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, trật
tự và an toàn xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người,…
4. Đối tượng quản lý
5. Khách thể quản lý
6. Nguồn lực
Con người, cộng đồng, các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội,…
- Nguồn lực quốc gia, quốc tế và nguồn lực xã hội được huy động, chẳng hạn như
hình thức: hợp tác công - tư, xã hội hoá, hỗ trợ từ các thể chế kinh tế - văn hoá -
xã hội khu vực, quốc tế.
- Nguyên tắc: Nhà nước dùng nguồn lực công để làm/ phục vụ xã hội đối với
những gì tư nhân không làm, không được làm hoặc làm không hiệu quả.
Đa dạng, mềm dẻo, linh hoạt giữa quyền lực nhà nước, quyền lực thị trường và
quyền lực xã hội
- Quy định, chế tài được thể chế hoá thành văn kiện, văn bản quy phạm pháp luật
và một số thiết chế liên quan: bộ máy và nguồn lực của hệ thống chính trị,…
- Hệ giá trị xã hội.
- Chuẩn mực xã hội.
- Dư luận xã hội.
- Truyền thông xã hội.
7. Phương thức
8. Công cụ
- Nền tảng công nghệ và kĩ thuật số hiện đại (IoT, Bigdata, AI,…)
- Bộ máy, nhân lực và ưu thế có được của thiết chế xã hội khác: tôn giáo, gia
đình, thiết chế ngoài hệ thống chính trị (ví dụ: tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội,…).
9. Khả năng điều chỉnh
trong quá trình quản lý
10. Tính động và tính
phát triển
Mềm dẻo, linh hoạt; đòi hỏi các chủ thể liên quan có tư duy kiến tạo, đổi mới,
phát triển, thích ứng với quá trình thay đổi, biến đổi của xã hội.
Được nhấn mạnh, chú trọng bởi tính “phát triển bền vững”, tư duy “phát triển
biện chứng” trong quá trình lãnh đạo, quản lý xã hội biến đổi đa chiều, phức tạp.
11. Mô hình và phạm vi
lan toả của quá trình
quản lý
Đa dạng, đa diện, đa tầng bởi xuất phát từ tính phức tạp và phong phú của quá
trình phát triển xã hội trong thế giới “mở” hiện nay
Nguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu, đề xuất và xây dựng
Như vậy, quản lý phát triển xã hội trong bối
cảnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng xã hội số
và xã hội siêu thông minh cần nhận thức thế nào?
Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã
tạo ra động lực căn bản thúc đẩy chuyển đổi về
chất ở phạm vi toàn xã hội, tức từ xã hội trước
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
44
đó sang xã hội số, từ xã hội 1.0, 2.0, 3.0, 4.0 sang
phải quan tâm nghiên cứu, ứng phó một cách hữu
hiệu. Đến lượt mình, thông qua cách thức quản
lý phát triển xã hội phù hợp với khung cảnh xã
hội mới (bao hàm cả việc đổi mới mô hình, cách
thức, công cụ, phương thức, chủ thể, nội dung,
mục tiêu,… quản lý), quản lý phát triển xã hội đã
góp phần dung dưỡng, dẫn dắt những biến đổi xã
hội tích cực, lành mạnh, thúc đẩy phát triển bền
vững, đúng mục tiêu của các nhà lãnh đạo, quản
lý cũng như quy luật khách quan của chính
khung cảnh và biến đổi xã hội ấy mang lại; cũng
là sự tác động có ý thức nhằm kiến tạo xã hội
mới thay đổi về chất (xem Hình 4).
xã hội siêu thông minh (xã hội 5.0). Ngoài ra,
biến đổi của các thành tố bên trong cấu thành các
xã hội này và các thách thức đặt ra của nó,… hiển
nhiên không chỉ là bối cảnh, không gian thúc đẩy
cho quá trình đổi mới cách thức quản lý xã hội
theo kiểu quản lý phát triển mà còn là tập các
đối tượng (vấn đề xã hội) cần phải được quan
tâm, giải quyết bằng công cụ - quản lý phát triển
xã hội.
Như một mối quan hệ biện chứng, biến đổi
xã hội (xã hội số, xã hội thông minh,…) tạo ra
các vấn đề cấp bách để quản lý phát triển xã hội
Hình 5. Quan hệ giữa quản lý phát triển xã hội trong xã hội số, xã hội siêu thông minh.
Nguồn: Tác giả nghiên cứu, tổng hợp.
và xã hội siêu thông minh tầm nhìn đến năm
2030.
Một là, vấn đề cốt lõi của quản lý phát triển
3. Quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam:
Những vấn đề cấp bách trong xã hội số và xã
hội siêu thông minh
xã hội trong bối cảnh số hoá hiện nay chính là
nguồn lực con người mà trọng tâm là năng lực
trong môi trường số biểu hiện trên 3 phương
diện: kiến thức số, kỹ năng số và thái độ. Trong
8 chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư nêu trong Nghị
quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính
trị, đầu tiên là “đổi mới tư duy, thống nhất nhận
thức”; hay Quyết định 749/QĐ-TTg ngày
30/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về chuyển
đổi số quốc gia nhấn mạnh “nhận thức đóng vai
trò quyết định…. Chuyển đổi số trước tiên là
chuyển đổi nhận thức” [7]. Các chủ trương và
định hướng ấy cho cùng đều xoay quanh vấn đề
con người trong xã hội số. Để hoá giải các thách
thức từ xã hội số và xã hội siêu thông minh, việc
“Xã hội số”, “xã hội siêu thông minh” vừa là
quy luật khó có thể cưỡng lại, vừa là một hiện
tượng đặc biệt, phản ánh chiều cạnh mới mẻ về
sự biến đổi xã hội đương đại nhưng nó cũng tiềm
ẩn nguyên nhân nảy sinh hàng loạt “căn bệnh”
của chính “xã hội số” ấy.
Với vai trò là công cụ quản giải quyết và ứng
phó có hiệu quả trước các tác động của biến đổi
xã hội (cả tầng rộng và hẹp), quản lý phát triển
xã hội ở Việt Nam cần xác định rõ các thách
thức, những vấn đề cấp bách mới nảy sinh từ
chính khung cảnh xã hội hiện đại ngày nay. Phần
này chúng tôi tập trung phân tích những vấn đề
cấp bách đặt ra trong quản lý phát triển xã hội ở
Việt Nam được đặt trong khung cảnh xã hội số
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
45
chuẩn bị con người trong xã hội số (được phân
thành 4 nhóm sau) là công việc hệ trọng, có
tính quyết định thành bại của quản lý phát triển
xã hội:
“người máy” trong tương lai ở các lĩnh vực của
đời sống, chẳng hạn, các nhóm khủng bố sử dụng
AI và công nghệ số chống lại chính phủ, chống
lại loài người, gây bất ổn về chính trị trong xã
hội; hay AI khiến nhiều việc làm cũ sꢀ mất dần,
nhiều ngành nghề mới sꢀ nảy sinh; lao động giản
đơn bị thay thế hoặc mất việc do AI. Theo thông
tin chúng tôi nghiên cứu, có đến 2/3 số việc làm
hiện nay ở các nước đang phát triển có nguy cơ
bị tự động hoá thay thế như Campuchia (40%),
Malaysia (khoảng 50%), Thái Lan (hơn 50%),
Trung Quốc (gần 60%) [22], ngành điện tử ở
Việt Nam có khoảng 75% việc làm và 86% việc
làm trong ngành dệt may, da giày có nguy cơ bị
tự động hoá thay thế [23].
- Con người với tư cách là công dân số
(digital citizen), xây dựng công dân số phải có tri
thức, hiểu biết và am tường nhất định về chuyển
đổi số, về xã hội số; có tư tưởng ủng hộ, đồng
thuận xây dựng xã hội số và thích ứng cao với xã
hội siêu thông minh; thực hành chuẩn mực, văn
hoá và nguyên tắc ứng xử mới trong môi trường
số, không gian thực - số (physical cyber
connection). Để thực hiện điều này, việc lồng
ghép giáo dục, tuyên truyền bài bản về xã hội số,
xã hội siêu thông minh,… trong cơ sở đào tạo,
viên nghiên cứu, trong tầng lớp xã hội cũng cần
được thực hiện thường xuyên và thực chất hơn
nữa; nên chăng, dùng không gian số, công nghệ
số để tuyên truyền về quá trình chuyển đổi số bên
cạnh phương pháp giáo dục, tuyên truyền kiểu
truyền thống [10].
Bối cảnh đó đặt ra thách thức cho Nhà nước,
chính phủ và bộ ngành cũng như chính quyền địa
phương về tầm nhìn chuyển đổi mô hình phát
triển, quản lý phát triển xã hội sao cho giải quyết
hài hoà bài toán giữa nền kinh tế còn chú trọng
thâm dụng nhân công và sự thúc ép của chuyển
đổi số quốc gia với bài toán chính sách an sinh
xã hội trong giải quyết tốt vấn đề xã hội về việc
làm, thu nhập và giảm nghèo,…
- Con người với tư cách là nguồn nhân lực
số (digital human resources): Xã hội số, xã hội
5.0 đem đến công việc mới mẻ với sự tối ưu hoá
sức lao động, năng suất làm việc và sự thuận tiện
bậc nhất nhưng cũng đồng nghĩa một lực lượng
lớn lao động truyền thống sꢀ bị thay thế bởi công
nghệ và AI5.
- Con người với tư cách là doanh nhân,
người chủ và các nhà quản trị trong doanh
nghiệp số. Chuyển đổi số hình thành loại hình
kinh tế mới - kinh tế số, kinh doanh trong môi
trường số hoá đang trở thành xu hướng khó đảo
ngược. Do đó, cùng với không gian giao thương
của Việt Nam với thế giới ngày càng mở rộng
qua các hiệp định tự do thế hệ mới thì bản thân
doanh nhân, giới chủ và nhà quản trị doanh
nghiệp cần ý thức sớm và có hành động thích
đáng để thích ứng với xã hội số và mô hình kinh
doanh với yêu cầu số hoá cao, tránh sai lầm trong
chiến lược chuyển đổi số ở doanh nghiệp (nhất
là sai lầm về tư duy và tư tưởng nóng vội) [24,
25].
Hiện tại, có ít nhất 26 quốc gia công bố chiến
lược phát triển AI, nhiều quốc gia trong số đó đặt
mục tiêu đào tạo ra đội ngũ nhân lực AI như Hàn
Quốc, Đài Loan; thành lập các viện nghiên cứu
AI như Pháp, Đức, Nhật, Hoa Kỳ,… Đối với
Việt Nam, chúng ta có những lợi thế để phát triển
AI như quy mô dân số lớn, cơ cấu trẻ, dân số
vàng, có tiềm năng toán học, nền công nghiệp
thông tin phát triển nhanh [14, tr. 306] … Nhưng
chiến lược phát triển AI ở Việt Nam trong tổng
thể chuyển đổi số quốc gia nói chung và xây
dựng xã hội số nói riêng cần tính đến các vấn đề
xã hội, tránh sự xung đột giữa “con người” và
- Con người với tư cách là đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý thực thi nền công vụ số, chính
________
5
kỹ thuật thư viện, người định giá bảo hiểm, trọng tài thể
thao, thư ký pháp luật, chủ nhà hàng, khách sạn, thư ký, trợ
lí hành chính luật, ngành y, nghề chuyển phát nhanh,… [13,
tr.306].
Trong nghiên cứu về tác động của công nghệ số trong
tương lai tại Đại học Oxford thực hiện, 2 chuyên gia là Carl
Benedirt Frey và Michael Osborne đã xếp hạng định lượng
702 ngành nghề về khả năng tự động hoá và bị thay thế bởi
máy tính, đáng chú ý là: nhân viên tiếp thị từ xa, nhân viên
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
46
phủ số và chính quyền số. Một trong ba trụ cột
trình quản lý số, vận hành chính phủ số, chính
quyền số đúng với bản chất và nguyên tắc vận
hành của mô hình quản lý phát triển xã hội và xã
hội số, nhất là khi yêu cầu xây dựng kho dữ liệu
mở, thực hiện quyền tiếp cận thông tin và thực
thi công vụ có thể triển khai trong không gian
thực - số.
của Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, tầm
nhìn 2030 của Việt Nam là kinh tế số, chính phủ
số và xã hội số. Do đó, tư duy và năng lực của
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên
chức - những người cần am tường, thấu hiểu thấu
đáo và tạo động lực, chủ xướng dẫn dắt cho
doanh nghiệp, xã hội phải được đặc biệt chú
trọng. Điều này có tính quyết định sự thành bại
không chỉ trong xây dựng thành công Chính phủ
số, chính quyền số mà còn đến 2 trụ cột còn lại
(kinh tế số và xã hội số). Việc xây dựng đề án, lộ
trình đào tạo, bồi dưỡng và tuyên truyền cho
đội ngũ này cũng cần phải thực hiện sớm nếu
muốn “đi cùng nhau”, ngược lại, chúng ta sꢀ
lỡ bước hoặc để doanh nghiệp, người dân phải
chờ chính phủ, chính quyền trong hành trình
chuyển đổi số.
- Xây dựng sandbox về mô hình tổng thể xây
dựng xã hội số, xã hội siêu thông minh ở nước
ta. Đây là nội dung chưa được đề cập rõ trong
Chương trình chuyển đổi số quốc gia, ở trụ cột
về “xã hội số” và cũng chưa được công bố trên
bất kỳ công trình khoa học nào ở nước ta trong 5
năm trở lại đây.
Qua nghiên cứu công trình quốc tế và căn cứ
thực tiễn Việt Nam, chúng tôi đề xuất mô hình
tổng thể “xã hội số ở Việt Nam tầm nhìn đến năm
2030” để bổ khuyết vào trụ cột “xã hội số” trong
Chương trình chuyển đổi số quốc gia vừa được
ban hành, vấn đề còn lại là nghiên cứu, hoàn
thiện và thể chế hoá.
Hai là, vấn đề quan trọng là xây dựng
“sandbox” trong viễn cảnh xã hội số. Theo Chu
Thị Hoa (2020), ở góc độ pháp lý, sandbox là
hình thức nhằm tạo ra một không gian thuận lợi
với khung chính sách, pháp lý riêng (nằm ngoài
hoặc vượt khung pháp lý hiện tại) để tiến hành
thử nghiệm, nhân rộng những mô hình mới, hiệu
quả [26]. Chuyển đổi số nói chung và xây dựng
xã hội số, xã hội siêu thông minh luôn diễn ra
trong khuôn khổ của hệ thống thể chế đi kèm,
vừa có tính dẫn dắt, vừa có tính kiểm soát và vừa
có tính kiến tạo. Thể chế trong trường hợp này
biểu hiện ra chính là chủ trương, đường lối, chính
sách, cơ chế, văn bản quy phạm pháp luật,… của
quốc gia, chính quyền địa phương cũng cần được
quan tâm xây dựng, thậm chí vượt trước tồn tại
xã hội nếu có điều kiện. Trong đó, cần chú ý:
Căn cứ và cách tiếp cận để đề xuất và xây
dựng mô hình cho Việt Nam:
Một là, về mặt chính trị và pháp lý, chúng tôi
căn cứ vào: (i) Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày
27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ
trương, chính sách chủ động tham gia Cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ 4 và (ii) Quyết định số
749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng
Chính phủ về phê duyệt “Chương trình Chuyển
đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến
năm 2030”.
Hai là, cách tiếp cận và khu biệt về phạm vi
của “xã hội” trong “xã hội số” theo quan điểm
của các nhà nghiên cứu về xã hội. Thuật ngữ “xã
hội” có nhiều cách tiếp cận với các bình diện
rộng, trung và hẹp khác nhau. Tuy nhiên, trong
bài viết này và để phục vụ phác thảo mô hình
tổng thể “xã hội số” của Việt Nam, chúng tôi tiếp
cận thuật ngữ “xã hội” ở nghĩa rộng và khái quát
nhất, là toàn bộ lĩnh vực, hoạt động trong đời
sống xã hội, cụ thể nhất là lĩnh vực kinh tế, chính
trị, văn hoá và xã hội. Như vậy, mô hình tổng thể
“xã hội số” Việt Nam sꢀ được tiếp
cận với với các trụ cột tổng thể như trên, gồm
- Xây dựng sandbox dẫn dắt, dung dưỡng và
thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và hình thành
xã hội số cũng như khắc phục khuyết tật của quá
trình này ở Việt Nam, trong đó, chú ý các
sandbox về dữ liệu (chính sách dữ liệu, luật về
dữ liệu lớn), sandbox về AI (sản xuất, vận hành
và vấn đề đạo đức AI,…), sandbox về bảo mật
và an toàn người dùng trong không gian số, nhất
là trong lĩnh vực nhạy cảm tài chính -ngân hàng,
tư pháp, bảo hiểm, y tế,…
- Xây dựng sandbox nhằm đảo bảo tham gia
của các chủ thể nhà nước, phi nhà nước trong quá
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
47
“kinh tế số”, “chính trị số”, “văn hoá số” và “xã
hội số”.
số ở châu Á” với 3 trụ cột được giới thiệu chi tiết
trong Báo cáo đặc biệt của GSMA công bố vào
các năm 2016 và 2020 (Bảng 2).
Ba là, căn cứ vào mô hình nền tảng thế giới
đã và đang thực hiện, đặc biệt là mô hình “Xã hội
Bảng 2. Mô hình tổng thể xã hội số một số nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Trụ cột 1:
“Công dân số”
Trụ cột 2:
“Lối sống số”
Trụ cột 3:
“Thương mại số”
(Digital Citizenship)
(Digital Lifestype)
(Digital Commerce)
- Tương tác giữa chính phủ, - Sử dụng thiết bị thông minh - Đơn giản hoá hoạt động
người dân, doanh nghiệp qua truy cập thông tin liên quan, làm thương mại bằng cách mở
dịch vụ công được thực hiện qua việc, vui chơi, học tập, tiêu rộng khả năng tiếp cận thị
kênh kỹ thuật số.
dùng,…
trường.
- Mở rộng dịch vụ trực tuyến và - Truyền thông xã hội hướng đến - Thay thế tiền mặt vật chất
giao dịch điện tử (ví điện tử, đóng trải nghiệm thuận tiện hơn (VR - (thanh toán qua ví điện tử,
thuế, bầu cử online, ký hợp đồng trải nghiệm thực tế ảo, âm nhạc smart-banking, QR-Code,…)
trực tuyến, kiểm soát thông tin cá trực tuyến,…).
nhân, an ninh, tư vấn y khoa trực
tuyến,…)
- Xử lí và phân phối đơn đặt
hàng qua các kênh kỹ thuật số
(sàn thương mại điện tử,…)
NỀN TẢNG VÀ ĐIỀU KIỆN VẬN HÀNH 03 TRỤ CỘT NÀY:
“Sự kết nối (siêu kết nối IoT):
Truy cập cá nhân nhanh chóng, đáng tin cậy và liên tục vào Internet”
Nguồn: [27, 28]
Từ các căn cứ trên, mô hình tổng thể về “xã hội số” của Việt Nam trong giai đoạn tới có thể được
phác thảo gồm các trụ cột và đặc trưng sau:
Bảng 3. Mô hình tổng thể “xã hội số ở Việt Nam” tầm nhìn đến năm 2030
Trụ cột 1:
“Kinh tế số”
(Digital Economy)
Trụ cột 2:
“Chính trị số”
(Digital Politics)
Trụ cột 3:
“Văn hoá số”
(Digital Culture)
Trụ cột 4:
“Xã hội số”
(Digital Society)
Tầng 1: Nội dung trọng tâm của mỗi trụ cột “xã hội số” ở Việt Nam
“Chuyển đổi số trong thực
“Xây dựng hệ thống an
sinh và phúc lợi số, hiện
đại, bao phủ và đa tầng”
thi công vụ của hệ thống
“Thương mại số”
“Lối sống số”
chính trị” và “xây dựng
Chính phủ số”
Tầng 2: Nội dung cụ thể của mỗi trụ cột “xã hội số” ở Việt Nam
- Tương tác giữa chính phủ,
- Đào tạo nguồn nhân
lực số.
- Truyền thông về quá
trình chuyển đổi số và
công nghệ số.
- Giáo dục theo mô hình
số.
- Nghiên cứu vấn đề xã
hội từ số hoá (Trung
tâm giải đáp thắc mắc
- Sử dụng thiết bị
- Doanh nghiệp công người dân, doanh nghiệp qua
thông minh truy
cập thông tin liên
quan, làm việc,
vui chơi, học tập,
tiêu dùng,…
- Quy tắc ứng xử
trên môi trường
số (mạng xã hội)
nghệ số.
dịch vụ công được thực hiện
- Sản phẩm sáng tạo qua kênh kỹ thuật số.
“Made in Viet Nam”. - Cổng dữ liệu quốc gia
- Phát triển sản phẩm (data.gov.vn)
với nội dung số, truyền - Cổng dịch vụ công quốc gia
thông số, quảng cáo (dichvucong.gov.vn)
số.
- Hệ thống thông tin, báo cáo
số.
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
48
Trụ cột 1:
“Kinh tế số”
(Digital Economy)
Trụ cột 2:
“Chính trị số”
(Digital Politics)
Trụ cột 3:
“Văn hoá số”
(Digital Culture)
Trụ cột 4:
“Xã hội số”
(Digital Society)
Tầng 1: Nội dung trọng tâm của mỗi trụ cột “xã hội số” ở Việt Nam
- Đề án Hỗ trợ doanh - Triển khai công nghệ mới - Truyền thông xã và hỗ trợ người dân bị
nghiệp
chuyển đổi số.
nhỏ,
vừa nhất về truyền thông xã hội, hội hướng đến ảnh hưởng bởi quá trình
thông tin, dịch vụ hành chính trải nghiệm thuận chuyển đổi số).
- Thương mại điện tử. công trên nền tảng thiết bị tiện hơn (VR - - Tích hợp hệ thống an
Mobile, Big Data Analytics, trải nghiệm thực sinh, phúc lợi xã hội
AI, VR/AR,…
tế ảo, âm nhạc trên nền tảng số (mã số
- Nhân sự hành chính công trực tuyến,…).
trong môi trường số, tư pháp
công,…
an sinh, dữ liệu an sinh,
số hoá thẻ bảo hiểm y tế,
bảo hiểm xã hội, sổ sức
khoẻ điện tử, e-care,
Telehealth,...)
NỀN TẢNG VÀ ĐIỀU KIỆN VẬN HÀNH 04 TRỤ CỘT NÀY:
“Sự kết nối (siêu kết nối IoT):
Truy cập cá nhân nhanh chóng, đáng tin cậy và liên tục vào Internet” dựa trên:
Dịch vụ 5G, Internet băng rộng cáp quang và An toàn, an ninh mạng (GCI).
Nguồn: Tác giả nghiên cứu, tổng hợp và đề xuất
Ba là, yêu cầu cần phải nghiên cứu, nhận
diện sâu sắc về bản chất, những vấn đề cấp bách
của xã hội số mang lại để có cái nhìn toàn diện
và đưa ra chính sách ứng xử phù hợp. Cụ thể:
Tại Việt Nam, việc rò rỉ dữ liệu, mua bán và
khai thác dữ liệu cá nhân cũng diễn ra phổ biến,
không hiếm các băng nhóm tội phạm đăng nhập
vào website của các ngân hàng rồi thực hiện lệnh
chuyển toàn bộ số tiền trong tài khoản nạn nhân,
chiếm đoạt số tiền hàng trăm tỷ đồng. Nhiều
đường dây lừa đảo qua mạng hay ý thức người
dân chưa cao, dễ tin và dễ dàng chấp nhận việc
chia sẻ thông tin cá nhân để được nhận quà tặng
khuyến mãi,… Đặc biệt, không chỉ các cơ quan
trong hệ thống chính trị bị tấn công bởi tin giả,
thông tin “xấu, độc”, “xuyên tạc” mà mỗi người
dân, cộng đồng đang hứng chịu.
(i) “Xã hội số”, “xã hội siêu thông minh”
mang đến cuộc sống tiện nghi, mới mẻ và hiện
đại chưa từng có nhưng cũng đe doạ đến những
quyền căn bản nhất và sự an toàn của chính bản
thân con người trong thế giới thực và thế giới số
Xã hội số dựa trên nền tảng công nghệ số
phát triển đã tạo ra nhiều mô hình kinh doanh,
loại hình dịch vụ mới qua mạng được sự hỗ trợ
của thanh toán điện tử; những phương thức giám
sát tự động, thu thập thông tin được triển khai
khắp nơi,… tất cả trở thành những đầu mối
nhanh chóng đánh cắp thông tin cá nhân người
dùng, thậm chí người dùng bị “theo dõi” trong
thời gian thực, nhiễm virus máy tính, phần mềm
gián điệp, lan truyền sản phẩm đồi truỵ, bạo lực
trên Internet hay dẫn đến các vụ lừa đảo, bắt cóc
và tống tiền. Quyền riêng tư dễ bị xâm phạm hơn
bao giờ hết khi chúng được chia sẻ công khai trên
các trang mạng xã hội, phương tiện truyền thông
có độ bảo mật kém. Thậm chí thông tin cá nhân
còn trở thành món hàng bị đem ra trao đổi, mua
bán tràn lan trên mạng.
(ii) “Xã hội số”, “xã hội siêu thông minh” tạo
ra chuyển biến mới về chất, rất nhanh chóng, sâu
sắc hệ giá trị xã hội, văn hoá và đạo đức xã hội,
nhiều khuynh hướng mới, phương thức mới xuất
hiện vừa có tính hỗn dung vừa có tính mâu thuẫn,
thậm chí xung đột trong quan hệ xã hội ngày nay
so với trước đây
Việt Nam là quốc gia có nền văn minh nông
nghiệp lâu đời, “kinh qua bao kinh nghiệm của
mấy ngàn xưa”, là nghề căn bản của cả nước “dĩ
nông vi bản” [29, tr.100] đúc kết nên truyền
thống, luân lí và nền văn hoá mang đậm bản sắc
của nông dân - nông nghiệp - nông thôn. Hệ giá
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
49
trị xã hội Việt Nam trong quá trình biến đổi lần
thứ 4 từ hệ giá trị văn hoá truyền thống với 6 đặc
trưng cốt lõi như tính cộng đồng, làng xã; tính
trọng âm, tính ưa hài hoà, tính chủ toàn hay tính
linh hoạt,… đang trong quá trình xã hội chủ
nghĩa hoá sang hệ giá trị trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế [30,
tr.392-396].
công nghệ hiện đại như Internet, Skype, Zalo,
Messenger, Instagram, Viber, blog,… và điện
thoại thông minh với tốc độ kết nối tăng dần từ
3G, 4G, 5G,…
Tuy vậy, chính không gian ảo, xã hội số đôi
khi làm cho tương tác và đoàn kết xã hội của
thành viên trong gia đình, hội nhóm, cộng đồng
trở nên “lỏng lẻo” hơn bao giờ hết, thậm chí có
nguy cơ bị phá vỡ. Con người cảm thấy “cô đơn”
nhiều hơn, bế tắc, mệt mỏi và căng thẳng nhiều
hơn dù không gian sống số và giao lưu, kết nối
thuận tiện, rộng mở hơn bao giờ hết. Mặc khác,
chính sự tiện nghi và dễ dàng trong thiết lập và
tương tác xã hội qua không gian mạng và trong
thế giới ảo khiến một bộ phận người dân, nhất là
nhóm trẻ có xu hướng “ảo tưởng” về nhiều điều
xảy ra trong không gian ảo; có xu hướng xa rời,
lãng quên hoặc “tầm thường hoá” các giá trị cao
quý của truyền thống, luân lí trong tình thân, đời
sống thực gia đình, cha mẹ, con cái, vợ chồng,
bạn bè, Tổ quốc,…
“Xã hội số” được Đảng và Nhà nước ta chủ
trương xây dựng, phát triển ngay trong quá trình
biến đổi lần thứ 4 về văn hoá này cùng với quá
trình phát triển của khoa học công nghệ và hội
nhập, giao lưu, tiếp biến văn hoá khiến nhiều thói
hư, tật xấu trong đời sống văn hoá Việt Nam,
chẳng hạn: “bệnh triệt tiêu cá nhân”, “bệnh thụ
động, bảo thủ, khép kín”, “bệnh lề mề, chậm
chạp”, “bệnh tùy tiện, cẩu thả”, “bệnh thiếu ý
thức pháp luật”, “bệnh thiếu tầm nhìn”, “bệnh
hình thức”,… [30, tr.401] cũng từ đó mà nảy
sinh. Xã hội số là sự chuyển biến toàn diện, thực
chất trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong
đó có lĩnh vực “văn hoá số”. Chính “văn hoá số”
tạo điều kiện để chúng ta thụ hưởng giá trị văn
hoá mới, tiên tiến, chưa từng có thông qua công
nghệ hiện đại nhưng cũng từ đây, những lệch lạc
về hệ giá trị xã hội, hệ giá trị chuẩn mực trong
môi trường số, do công nghệ số với các thói hư,
tật xấu, sự tha hoá đạo đức, lối sống của
người dân, cán bộ lãnh đạo, quản lý; xuất hiện hiện
tượng xã hội mới “dù ít vận động hơn nhưng con
người ngày nay luôn có cảm giác bận bụi, thiếu
thời gian,… lối sống đô thị khiến người ta luôn
vội vã, ăn nhanh, uống nhanh, nói nhanh, đi
nhanh, giao tiếp nhanh, cái gì cũng nhanh” [14,
tr.252]… đã và đang trở thành rào cản lớn trong
xây dựng thành công “xã hội số” với 4 trụ cột đã
được phân tích ở trên.
(iv) “Xã hội số”, “xã hội siêu thông minh”
khiến chúng ta phải xác định, thậm chí nhận thức
lại các yếu tố trung tâm cấu thành nội hàm khái
niệm “quản lý phát triển xã hội” trong viễn cảnh
mới, đó là:
- Không gian quản lý phát triển không còn
hạn hẹp là xã hội thực, thế giới vật lí hiện hữu
mà là không gian số hoá, xã hội số được kết nối
vạn vật bởi IoT vượt qua lằn ranh biên giới theo
cách hiểu truyền thống để nhanh chóng mở ra
không gian rộng lớn khu vực, châu lục, toàn cầu,
siêu kết nối.
- Công cụ, phương thức quản lý phát triển xã
hội cần phải tính đến sự tham gia của các công
nghệ và kĩ thuật số hiện đại, của truyền thông xã
hội và mạng xã hội, của hình thức không đối mặt
(ẩn danh), trực tuyến (livestream),….
(iii) “Xã hội số”, “xã hội siêu thông minh”
làm thay đổi giao tiếp xã hội, tương tác xã hội và
cả môi trường sống, môi trường xã hội theo lối
tương tác giữa “ảo - thực”, “thực tế ảo”, “lai thực
- số”
- Khách thể quản lý - người - máy tham gia
vào quản lý phát triển xã hội và sự thay đổi về
chất mối quan hệ công vụ lâu nay. Sự phát triển
của “xã hội số”, “xã hội siêu thông minh” ngày
nay với nhiều trường hợp xuất hiện lực lượng lao
động AI, nguồn nhân lực robot, học máy, nhiều
trí tuệ nhân tạo ở các quốc gia được cấp quốc
tịch, tham gia chính trường, tranh cử các chức vụ
Trong xã hội số, giao tiếp xã hội nhanh
chóng được mở rộng, đa dạng, không giới hạn,
thậm chí không có biên giới về địa lí, không gian
và thời gian như trước đan xen giữa thế giới thực
và thế giới ảo với sự hỗ trợ của các thiết bị và
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
50
Volume 1, The Truth National Political Publishing
House, Hanoi, 2021 (In Vietnamese).
[2] D. Lupton, Digital Sociology, Routledge London
and New York, 2005.
[3] F. Webster, Theories of the Information Society,
London: Routledge, 2002.
[4] S. Watling & J. Rogers, Social Work in a Digital
Society, Learning Matters, 2012, pp.9-10.
[5] Regarding Fujitsu, About Fujitsu in Vietnam:
o/index.html, 2021 (accessed on: January 17th,
2021).
[6] Nassehi, Speech of a Series of Topics: “Digital
society”, sub-topic: “Digitalization solves what
problems” (translation), Goethe Institut, Hanoi,
2021.
trong bộ máy công quyền, tham gia và đóng góp
trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp như y, truyền
thông - truyền hình, giao thông,… thì khái niệm
(khoa học có tính kinh điển) trong Xã hội học
(nói riêng) - khái niệm “xã hội” tập hợp các cá
thể người, hay xã hội là xã hội của con người,
nhóm người “bằng xương bằng thịt” [31] như lâu
nay giới nghiên cứu và trong các tài liệu, công
trình, từ điển khoa học chuyên ngành về xã hội
ghi nhận liệu còn phù hợp, có nguy cơ “đổ vỡ”?
Liệu rằng, tương lai có một “xã hội AI”, “xã hội
người máy”,… bên cạnh “xã hội người” trong xã
hội số và kỷ nguyên số hoá hay không cũng là
vấn đề rất cần được suy nghĩ? Từ đây, đặt ra vấn
đề lớn về sự tư duy lại “khách thể quản lý” trong
quản lý phát triển xã hội ngày nay.
[7] T. Hoa, Sandbox - Testing Mechanism Applied in
Limited Scope - International Experience and
Some
Suggestions
for
Vietnam,
link:
cid=210382, 2020 (accessed on: July 20th, 2021)
(In Vietnamese)
4. Kết luận
Bài viết đã tập trung phân tích, bàn luận về
các chiều cạnh xã hội mà ở đó, xã hội số và xã
hội siêu thông minh như là tác nhân chính dẫn
đến các vấn đề xã hội cấp bách, thách thức các
nhà quản lý, quản lý phát triển xã hội lưu tâm,
phải giải quyết. Bản chất căn cốt nhất “xã hội
số”, “xã hội siêu thông minh” không tư duy và
hệ thống hoá một cách rời rạc, siêu hình mà biện
chứng với “quản lý phát triển xã hội”. Ngoài ra,
bài viết trên cơ sở làm rõ một cách khái quát nhất
các nhóm vấn đề cấp bách, thách thức trong bối
cảnh xã hội mới đã đưa ra những bàn luận và
hàm ý gợi mở đề xuất, sáng kiến, giải pháp để
hoá giải từng nhóm vấn đề một, đặc biệt là đề
xuất mô hình tổng thể “xã hội số ở Việt Nam tầm
nhìn 2030” dường như chưa được nghiên cứu và
đề cập trong các nghiên cứu ở Việt Nam gần đây;
hay tư duy lại, cập nhật và bổ sung các vấn đề
trung tâm như khái niệm “xã hội” trong khoa học
xã hội, về nội hàm khái niệm “quản lý phát triển
xã hội”.
[8] The Communist Party of Vietnam, Politburo's
Resolution No. 23-NQ / TW dated March 22, 2018
on the Orientation to Formulate a National
Industrial Development Policy to 2030, with a
Vision to 2045, Hanoi, 2018 (In Vietnamese).
[9] Prime Minister, Decision No. 749 /QD-TTg dated
June 3, 2020 of the Prime Minister approving the
National Digital Transformation Program to 2025,
with
a Vision to 2030, Hanoi, 2020 (In
Vietnamese).
[10] F. J. García-Peñalvo, The WYRED Project: A
Technological Platform for a Generative Research
and Dialogue about Youth Perspectives and
Interests in Digital Society. Journal of Information
Technology Research, 9 (4), vi-x, 2016.
[11] Simon Lindgren, Digital Media & Society, SAGE,
USA, Indian, Singapore, 2017.
[12] What is the Department of Computerization and
Digital Transformation in the Society?,
Vietnamnet
Newspaper,
so-trong-xa-hoi-la-gi-681839.html, 2019 (accessed
on: January 17th, 2021) (In Vietnamese).
[13] H. T. Bao, N. H. Dung, N. N. Quang, Questions
and Answers on Digital Transformation,
Information and Communication Publishing
House, Hanoi, 2020.
Tài liệu tham khảo
[1] Communist Party of Vietnam, Document
Submitted to the XIII National Party Congress,
[14] Think Tank Vinasa, Vietnam in Digital
Transformation , World Publishing House, Hanoi,
2019 (In Vietnamese).
N. H. Hoang, T. V. Huan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 35-51
51
[15] W. L. Bennett, Changing Citizenship in the Digital
Age. Civic Life Online: Learning How Digital
Media Can Engage Youth. Edited by W. Lance
Bennett. The John D. and Catherine T. MacArthur
Foundation Series on Digital Media and Learning.
Cambridge, MA: The MIT Press, 2008, pp. 1-24.
doi: 10.1162 / dmal.9780262524827.001, 2008.
[16] Mansell, R., Constructing the Knowledge Base for
Knowledge-Driven Development, Journal of
Knowledge Management. 6 (4), 2002, p. 323.
[24] Keidanren, Toward Realization of the New
Economy and Society - Reform of the Economy
and Society by the Deepening of “Society 5.0,
(outline), Keidanren Policy and Action, Japan,
2016.
[25] N. Quynh, Only 50% of Vietnamese Enterprises
Are Aware of the Impact of Industry 4.0, VOV
online newspaper, https://vov.vn/kinh-te/moi-chi-
cmcn-40-896800.vov, 2019 (accessed on: January
17th, 2021) (In Vietnamese).
[26] The Communist Party of Vietnam, Resolution 52-
NQ/TW in 2019 on Guidelines and Policies to
Actively Participate in the Fourth Industrial
Revolution, issued by the Politburo on February
27, 2019, Hanoi, 2019 (In Vietnamese).
[17] Neil Selwyn, What is Digital Sociology?, Politics
Press, UK & USA, 2019.
[18] Hitachi-Utokyo Laboratory, Society 5.0: A People-
centric Super-smart Society, Springer Open Press,
Singapore, 2018.
[19] Japanese Cabinet Office, The 5th Basic Plan of
Science and Technology, 2016-2021, Japan, 2016,
pp. 21.
[20] L. T. T. Trang, Experience in Building Digital
nghiem-xay-dung-xa-hoi-so, 2020 (accessed on:
January 17th, 2021) (In Vietnamese).
[27] K. Okeleke, H. James & Y. Jeong, Advancing
Digital Societies in Asia, GSMA Head Office,
United Kingdom, 2016.
[28] K. Okeleke, Advancing Digital Societies in Asia
Pacific:
A
Whole-of-Government Approach,
GSMA Head Office, United Kingdom, 2020.
[29] L. D. Thiep, Historical and Social Thesis of
Vietnam from Prehistoric to Modern, Knowledge
Publishing House, Hanoi, 2017 (In Vietnamese).
[30] P. H. Phu et al., Some Theoretical and Practical
Issues about Socialism and the Path to Socialism in
Vietnam over the Past 30 Years of Doi Moi, Truth
National Political Publishing House, Hanoi, 2016,
(In Vietnamese).
[21] P. H. Phu, N. V. Dang, and N. V. Thong, Learn
Some Terms in the Document of the XII National
Congress of the Party, National Political
Publishing House, Hanoi, 2016 (In Vietnamese).
[22] World Bank Group, World Development Report
2016: Digital Dividends, Vol. 7, Washington D.C,
2016.
[23] ILO, Asean in Transformation: How Technology is
Changing Jobs and Enterprise, Vol. 3, General:
ILO, 2016.
[31] Hanoi National University, Oxford Sociology
Dictionary, National University Publishing House,
Hanoi, 2012.
Bạn đang xem tài liệu "Quản lý phát triển xã hội của Việt Nam trong bối cảnh xã hội số và xã hội siêu thông minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quan_ly_phat_trien_xa_hoi_cua_viet_nam_trong_boi_canh_xa_hoi.pdf

