Pháp luật về bãi nhiệm nghị sĩ tại Vương quốc Anh và một số kinh nghiệm cho Việt Nam

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
Review Article  
Legislation on Recall of Members of Parliament in The  
United Kingdom and Experiences for Vietnam  
Vu Le Hai Giang*  
Ho Chi Minh City University of Law, No. 2 Nguyen Tat Thanh St., District 4, Ho Chi Minh City, Vietnam  
Received 29 August 2021  
Revised 16 September 2021; Accepted 21 September 2021  
Abstract: Recall of National Assembly deputies is an effective way to strengthen the relationship  
between National Assembly deputies and voters, ensuring that deputies identify themselves with  
and are accountable to the people who are represented by them; thereby helps promoting the trust of  
the people to the elected deputies as well as developing representative democracy. A study on the  
procedure of recall of members of the parliaments in the world will suggest some experiences for a  
similar procedure in Vietnam. For this purpose, this article presents an overview of the procedure of  
recall of elected representatives in parliaments around the world, and focuses on considering the  
Recall of MPs Act 2015 of the United Kingdom. Then, the article offers some experiences for the  
procedure of recall National Assembly representatives in Vietnam.  
Keywords: Recall of representatives, National Assembly, recall of MPs, UK Parliament.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]n  
10  
V. L. H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
11  
Pháp luật về bãi nhiệm nghị sĩ tại Vương quốc Anh  
và một số kinh nghiệm cho Việt Nam  
Vũ Lê Hải Giang*  
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Số 2, đường Nguyễn Tất Thành, quận 4,  
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Nhận ngày 29 tháng 8 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 16 tháng 9 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 21 tháng 9 năm 2021  
Tóm tắt: Cơ chế cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội là phương thức hữu hiệu để tăng cường mối  
quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri, đảm bảo đại biểu Quốc hội gắn bó chặt chẽ và có trách  
nhiệm với những người dân mà mình đại diện, từ đó góp phần củng cố niềm tin của người dân với  
đại biểu dân cử, phát huy dân chủ đại diện. Nghiên cứu về cơ chế cử tri bãi nhiệm đại biểu dân cử  
tại nghị viện ở các nước sẽ rút ra những kinh nghiệm có thể tiếp thu trong việc xây dựng cơ chế  
tương tự tại Việt Nam hiện nay. Với mục tiêu đó, bài viết này trình bày khái quát về cơ chế cử tri  
bãi nhiệm đại biểu dân cử tại nghị viện trên thế giới, nghiên cứu Luật Bãi nhiệm thành viên Nghị  
viện năm 2015 của Vương Quốc Anh, từ đó rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất mang tính gợi mở  
cho Việt Nam trong việc xây dựng cơ chế cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội.  
Từ khóa: cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, Quốc hội, cử tri bãi nhiệm nghị sĩ, Nghị viện của  
Vương quốc Anh.  
đại biểu” (representative recall). Trong phạm  
vi bài viết này, thuật ngữ “recall petition” sẽ  
được hiểu là “yêu cầu bãi nhiệm”, và “Recall  
of MPs Act” sẽ được hiểu là “Luật Bãi nhiệm  
thành viên Nghị viện”.  
Trong lịch sử, cơ chế cho phép người dân bãi  
nhiệm đại biểu của mình ở cơ quan đại diện của  
quốc gia lần đầu tiên được quy định tại Điều V  
Các Điều khoản hợp bang của Liên hiệp 13 bang  
Bắc Mỹ (tiền thân của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ  
hiện nay) quy định về việc công dân của các  
vùng lãnh thổ có quyền bỏ phiếu để “triệu hồi”  
các đại biểu của mình ở Quốc hội về và bầu chọn  
người khác lên thay. Tuy nhiên sau đó Hiến pháp  
Liên bang của Hoa kỳ lại không giữ lại quy định  
này. Nguyên nhân là do bản chất của việc các  
bang Bắc Mỹ bỏ phiếu để triệu hồi những đại  
1. Khái quát về cơ chế cử tri bãi nhiệm đại  
biểu dân cử tại cơ quan đại biểu cao nhất *  
Hai phương cách phổ biến nhất hiện nay để  
bãi miễn một nghị sĩ là nghị viện tự bãi nhiệm  
thành viên của mình và cử tri bãi nhiệm đại biểu  
mà mình đã bầu ra bằng cách bỏ phiếu.  
Về bản chất, việc nghị viện bãi nhiệm nghị sĩ  
có thể xem như là việc “khai trừ” thành viên của  
nghị viện đó. Còn việc cử tri bỏ phiếu để bãi  
nhiệm đại biểu đại diện cho mình được xem như  
một cuộc “bỏ phiếu ngược”, hay là “bỏ phiếu để  
triệu hồi” (Tiếng Anh: recall election). Từ  
“recall” trong trường hợp này được hiểu theo  
nghĩa là “gọi về” hay “triệu hồi”. Đó là lý do  
vì sao thủ tục này đôi khi còn được gọi là “yêu  
cầu triệu hồi” (recall petition) hay “triệu hồi  
________  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]n  
V. L. H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
12  
biểu dân cử giống như việc một quốc gia triệu  
hồi quan chức ngoại giao của họ trong một liên  
minh các quốc gia, và điều đó phải chấm dứt khi  
thành lập nhà nước Hợp chúng quốc Hoa Kỳ như  
một quốc gia có chủ quyền thống nhất. Bởi lẽ các  
nghị sĩ không chỉ hành động như đại diện của  
một bang hay một đơn vị bầu cử mà còn phải  
hành động vì toàn thể nước Mỹ, vì vậy mà không  
đơn vị bầu cử nào có quyền triệu hồi họ về và cử  
người khác làm thay. Quan điểm này còn được  
củng cố bởi Tối cao Pháp viện Liên bang trong  
vụ U.S. Term Limits, Inc. v. Thornton, 514 U.S.  
779 vào năm 1995 khi Tòa án tuyên bố rằng:  
“Khi họ được bầu, họ trở thành công bộc của  
Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Họ không phải là  
đại diện được bổ nhiệm bởi các quốc gia riêng  
lẻ và có chủ quyền, mà họ giữ những vị trí là  
các thành tố cần thiết cấu thành nên một chính  
quyền của một quốc gia duy nhất” [1]. Vì vậy  
hiện nay Hiến pháp Liên bang Hoa Kỳ không  
cho phép cử tri bãi nhiệm nghị sĩ Liên bang,  
chỉ cho phép Nghị viện Liên bang tự bãi  
nhiệm thành viên của mình1.  
Cũng như mọi chính sách khác, việc cử tri  
được quyền trực tiếp bãi nhiệm đại biểu tại cơ  
quan lập pháp quốc gia có những mặt tích cực và  
hạn chế nhất định. Nếu cho phép cử tri bãi nhiệm  
nghị sĩ thì có thể nghị sĩ sẽ không thực hiện một  
quyết định đúng đắn nhưng ít được công chúng  
ủng hộ, từ đó sẽ dễ dẫn đến một nghị viện dân  
túy; hoặc có nguy cơ dẫn đến sự thiếu thống nhất  
trong nghị viện khi các nghị viện chỉ hành động  
cho lợi ích cục bộ của địa phương. Về mặt chính  
trị, có quan điểm cho rằng các đảng phái chính  
trị sẽ lợi dụng cơ chế này để hạ bệ nghị sĩ thuộc  
các đảng đối lập [2]. Tuy nhiên, cũng không thể  
phủ nhận được rằng cử tri bãi miễn đại biểu dân  
cử trong nghị viện là một phương thức hữu hiệu  
để cử tri thực sự kiểm soát những đại biểu của  
mình, đảm bảo rằng các đại biểu hoạt động vì lợi  
ích của người dân mà họ đại diện chứ không phải  
vì lợi ích cá nhân hay lợi ích thuần túy của đảng  
chính trị. Mặt khác, việc trao cho cử tri quyền  
được trực tiếp bãi nhiệm đại biểu của họ sẽ giúp  
tăng cường mối liên hệ giữa cử tri và đại biểu,  
đại biểu có ý thức trách nhiệm hơn trong việc  
thực hiện chương trình hành động đã “hứa” với  
cử tri khi vận động bầu cử, và cử tri có được  
quyền lực buộc đại biểu phải chịu trách nhiệm  
trước Nhân dân.  
Bên cạnh đó, thủ tục cử tri bãi nhiệm nghị sĩ  
tại nghị viện quốc gia còn liên quan mật thiết đến  
nhận thức về tính đại diện. Trên thế giới hiện có  
02 phương thức đại diện là ủy quyền tự do và ủy  
quyền chịu lệnh. Trong phương thức ủy quyền  
chịu lệnh, các nghị sĩ bị ràng buộc chặt chẽ với  
cử tri, đại diện cho tâm tư, nguyện vọng của cử  
tri, phải báo cáo và chịu trách nhiệm trước cử tri  
bầu ra mình, hoàn toàn có thể bị cử tri bãi nhiệm  
nếu không còn xứng đáng với sự tin tưởng của  
các cử tri. Phương thức ủy quyền chịu lệnh  
thường được áp dụng tại các nước xã hội chủ  
nghĩa trước đây [3]. Còn trong phương thức ủy  
quyền tự do, các nghị sĩ không bị ràng buộc bởi  
bất kỳ một sự chỉ đạo nào, dù là từ cử tri, mà chỉ  
tuân theo Hiến pháp và luật [4]. Theo đó, mỗi  
nghị sĩ dù được một đơn vị bầu cử bầu ra nhưng  
là đại biểu của toàn thể nhân dân, phải hoạt động  
vì lợi ích của toàn xã hội và quốc gia, vì vậy mà  
cử tri tại một địa phương không thể được trao  
quyền bãi nhiệm một nghị sĩ. Đây là nhận thức  
phổ biến của các quốc gia phương Tây. Tóm lại,  
việc một quốc gia có áp dụng cơ chế cho phép cử  
tri trực tiếp bãi nhiệm đại biểu dân cử còn phụ  
thuộc vào nhận thức của quốc gia đó về tính đại  
diện của đại biểu đó như thế nào.  
Hiện nay, chỉ một số quốc gia hiếm hoi quy  
định cho cử tri có quyền trực tiếp bãi nhiệm đại  
biểu của mình tại cơ quan đại diện cao nhất, và  
đây được xem như một phương thức dân chủ trực  
tiếp được thực hành ít nhất trên thực tế [2]. Trước  
đây, Điều 142 Hiến pháp năm 1936 của Liên  
bang Xô Viết cũng cho phép cử tri bãi nhiệm đại  
biểu dân cử ở mọi cấp (kể cả thành viên của Xô  
viết Tối cao Liên Xô). Quy định này cũng tồn tại  
ở hầu hết hiến pháp của các quốc gia thuộc khối  
xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây. Tuy nhiên  
Hiến pháp hiện hành của Liên Bang Nga (Hiến  
pháp năm 1993) không còn quy định này nữa.  
Một số bang ở các quốc gia liên bang cho phép  
________  
1 Điều 1, Hiến pháp Liên bang Hoa Kỳ  
V. L. H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
13  
công dân của bang mình bỏ phiếu bãi nhiệm các  
nghị sĩ ở nghị viện của bang, ví dụ như: bang  
British Columbia ở Canada2, bang Bavaria ở  
Đức3, một số bang như Alaska, Illinois, New  
Jersey, Arizona, Kansas, North Dakota,  
Louisiana, Oregon, Colorado,… ở Hoa Kỳ.  
Ngoài ra một vài quốc gia, vùng lãnh thổ còn cho  
phép cử tri bãi nhiệm chức danh đứng đầu hành  
pháp nếu như chức danh này cũng do người dân  
trực tiếp bầu ra4.  
Tại Việt Nam, Điều 7 Hiến pháp hiện hành  
quy định: “Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng  
nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân  
dân bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự  
tín nhiệm của Nhân dân”. Quy định này được cụ  
thể hóa trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014  
tại như sau: “Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm  
đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm được tiến  
hành theo trình tự do Ủy ban thường vụ Quốc hội  
quy định” (khoản 3 Điều 40) và Ủy ban thường  
vụ Quốc hội “quyết định việc đưa ra để Quốc hội  
bãi nhiệm hoặc cử tri nơi bầu ra đại biểu bãi  
nhiệm đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Ủy ban  
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban  
Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc  
trung ương” (khoản 6 Điều 54).  
điểm thể hiện quyền lực tối cao của Nghị viện.  
Nghị sĩ có thể bị Hạ viện bãi nhiệm bởi rất nhiều  
nguyên nhân như vi phạm pháp luật, vi phạm Bộ  
Quy tắc đối với nghị sĩ, có hành vi không đúng  
mực, xúc phạm, phỉ báng hay những hành vi  
khác làm tổn hại Hạ viện,… [5] Đa phần những  
nguyên nhân này không được quy định cụ thể  
trong luật mà tồn tại như một truyền thống chính  
trị của Nghị viện. Do đó, cựu Chủ tịch Hạ viện  
Herbert S. Morrison từng cho rằng: “Bãi nhiệm  
là một nước đi cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn đến  
một sự lạm dụng khủng khiếp” [6]. Trong một  
Báo cáo của Ủy ban Tiêu chuẩn5 vào năm 2014  
ghi nhận: “Sẽ thật nguy hiểm khi Hạ viện có  
quyền bãi nhiệm các thành viên vì họ có quan  
điểm thiểu số chứ không phải do vi phạm. Các  
nghị sĩ được cử tri bầu, và quyết định ấy của cử  
tri cần được tôn trọng” [7]. Đây là một trong  
những lý do quan trọng thúc đẩy Nghị viện quá  
trình thảo luận và ban hành Luật Bãi nhiệm thành  
viên Nghị viện vào năm 2015 (sau đây gọi tắt là  
Đạo luật) quy định về quy trình, thủ tục, cách  
thức để cử tri bãi nhiệm trực tiếp thành viên của  
Nghị viện. Đạo luật này được hướng dẫn bởi Quy  
định hướng dẫn thi hành Luật Bãi nhiệm thành  
viên Nghị viện 2015 được ban hành vào năm  
2016 (sau đây gọi tắt là Quy định).  
2. Pháp luật của Vương quốc Anh về bãi  
nhiệm nghị sĩ Hạ viện  
Điều này cho thấy sự thay đổi nhận thức về  
tính đại diện tại Vương quốc Anh từ phương thức  
ủy quyền tự do sang phương thức ủy quyền chịu  
lệnh: Trước đây, nghị sĩ tại Hạ viện do cử tri bầu  
ra chỉ có thể bị Hạ viện bãi nhiệm, tức là không  
phải chịu bất kỳ trách nhiệm gì với cử tri, không  
phụ thuộc vào tín nhiệm của cử tri mà hoạt động  
dựa trên lợi ích của nghị viện và toàn thể xã hội;  
Trước năm 2015, Hạ nghị sĩ ở Vương quốc  
Anh chỉ có thể bị chính Hạ viện bãi nhiệm. Dù  
nước Anh không có hiến pháp thành văn, nhưng  
quyền lực này của Hạ viện được xem như một  
nguyên tắc hiến pháp và là một trong những đặc  
________  
2 Chương 3, Luật về triệu hồi và sáng quyền lập pháp năm  
1996 của bang British Columbia, Canada  
5 Ủy ban Tiêu chuẩn có nhiệm vụ giám sát hoạt động của  
Ủy viên Tiêu chuẩn; xem xét những kiến nghị của Ủy  
viên Tiêu chuẩn liên quan đến các báo cáo về tài chính;  
xem xét các mẫu và nội dung của các báo cáo này; xem  
xét các khiếu nại liên quan đến báo cáo hay công bố báo  
cáo; xem xét mọi vấn đề liên quan đến việc thực hiện  
nghĩa vụ của các nghị sĩ liên quan đến Bộ Quy tắc đối  
với nghị sĩ, đặc biệt là những kiến nghị bởi Ủy viên Tiêu  
chuẩn; tham vấn về sửa đổi Bộ Quy tắc đối với nghị sĩ  
cho Hạ viện.  
3 Điều 18, mục 3, Hiến pháp bang Bavaria, Đức  
4 Ví dụ như Điều II, mục 13 Hiến pháp của bang California,  
Hoa Kỳ cho phép cử tri bỏ phiếu bãi nhiệm bất kỳ chức  
danh nào được cử tri bầu trực tiếp, bao gồm cả Thống đốc  
bang và các thị trưởng.  
Một ví dụ khác là Điều 233 Hiến pháp của Venezuela còn  
cho phép cử tri bãi nhiệm Tổng thống.  
Còn Ủy viên Tiêu chuẩn của Nghị viện là một chức danh  
độc lập có nhiệm vụ giám sát các báo cáo về các khoản lợi  
tài chính của các nghị sĩ ở Hạ viện, cũng như việc thực thi  
Bộ Quy tắc đối với nghị sĩ.  
V. L. H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
14  
còn theo quy định hiện nay, các nghị sĩ buộc phải  
gắn bó sâu sắc hơn với cử tri, lắng nghe tâm tư,  
nguyện vọng và mong muốn của cử tri nhằm đạt  
được tín nhiệm của cử tri.  
hoặc tạm giữ theo quy định của các đạo luật về  
sức khỏe tinh thần11.  
Trường hợp thứ hai: Căn cứ vào báo cáo của  
Ủy ban Tiêu chuẩn về vi phạm liên quan đến Bộ  
Quy tắc đối với nghị sĩ, Hạ viện đã ra nghị quyết  
đình chỉ hoạt động của nghị viên đó ít nhất là từ  
10 đến 14 ngày làm việc12.  
2.1. Một số định nghĩa  
Đạo luật quy định “yêu cầu bãi nhiệm” phải  
bao gồm 2 nội dung: (i) bãi nhiệm một nghị sĩ  
của Hạ viện; và (ii) tiến hành một cuộc bầu cử  
bổ sung để lựa chọn nghị sĩ thay thế đại diện cho  
đơn vị bầu cử ấy6. Bầu cử bổ sung sẽ được tổ  
chức theo thủ tục như bầu cử thông thường.  
“Người tiến hành yêu cầu bãi nhiệm” là  
người phụ trách tổ chức cho cử tri bỏ phiếu, ấn  
định thời gian và địa điểm để bỏ phiếu, xác định  
kết quả bỏ phiếu. Người tiến hành yêu cầu bãi  
nhiệm một nghị sĩ cũng là người đã phụ trách  
đơn vị bầu cử nghị sĩ đó7. Người này có nghĩa vụ  
chung là phải làm mọi thứ cần thiết để tiến hành  
tổ chức yêu cầu bãi nhiệm hiệu quả theo quy định  
của pháp luật8.  
“Thành viên của Nghị viện” được hiểu là  
thành viên của Hạ viện. Như vậy, đạo luật này  
chỉ áp dụng cho các nghị sĩ Hạ viện chứ không  
áp dụng cho nghị sĩ của Thượng viện. Điều này  
cũng là hợp lý bởi nghị sĩ của Thượng viện bao  
gồm các chức sắc Anh giáo, các quý tộc thế tập  
và những nghị sĩ được bổ nhiệm, các thành viên  
này đều không thông qua bầu cử.  
Trường hợp thứ ba: Sau khi trở thành nghị  
sĩ của Hạ viện, nghị sĩ này đã vi phạm Điều  
10 Luật về các Tiêu chuẩn của Nghị viện năm  
2009 về việc kê khai thông tin sai sự thật  
nhằm hưởng trợ cấp.  
Có thể thấy nghị sĩ rơi vào các trường hợp bị  
yêu cầu bãi nhiệm là do có vi phạm cụ thể mà  
nhà làm luật cho rằng với vi phạm ấy, nghị sĩ có  
thể sẽ bị mất tín nhiệm hay không còn xứng đáng  
với tín nhiệm của cử tri ở đầu nhiệm kỳ. Cử tri  
hoàn toàn không được quyền chủ động kêu gọi  
bãi nhiệm bất kỳ nghị sĩ nào khi không có vi  
phạm. Điều này có thể làm giảm bớt đôi chút  
quyền lực của cử tri (bởi vấn đề tín nhiệm suy  
cho cùng thì vẫn chỉ là niềm tin nội tâm, có thể  
có trường hợp cử tri muốn thay đổi người đại  
diện bởi họ cảm thấy người khác xứng đáng làm  
đại biểu cho họ hơn nghị sĩ đương chức dù nghị  
sĩ này chẳng vi phạm điều gì chẳng hạn), song  
quy định này giúp tránh được nguy cơ về một  
Nghị viện dân túy và cũng tránh được việc các  
đảng chính trị lợi dụng cơ chế này để hạ bệ nghị  
sĩ của đảng đối lập. Mặt khác, điều này cũng cho  
thấy ngay cả khi nghị sĩ ở Anh vi phạm pháp luật  
và bị kết án thì cũng không đương nhiên mất tư  
cách đại biểu mà phải trải qua thủ tục cho cử tri  
bỏ phiếu quyết định việc bãi nhiệm.  
2.2. Những trường hợp nghị sĩ bị yêu cầu bãi nhiệm  
Nghị sĩ sẽ bị yêu cầu bãi nhiệm nếu thuộc một  
trong các trường hợp sau9:  
Trường hợp thứ nhất: Sau khi trở thành nghị  
sĩ của Hạ viện, nghị sĩ này đã bị kết tội vì vi phạm  
pháp luật và phải chịu hình phạt tù từ bản án hoặc  
quyết định của tòa án (thông thường là dưới một  
năm10). Trừ trường hợp nghị sĩ đang bị tạm giam  
2.3. Thủ tục tiến hành yêu cầu bãi nhiệm  
Sau khi nhận thấy một trong ba trường hợp  
trên xảy ra, Chủ tịch Hạ viện phải thông báo  
ngay cho người tiến hành yêu cầu bãi nhiệm13.  
________  
6 Điều 1(2) Đạo luật  
11 Điều 2(3), (4) Đạo luật. Theo đó các đạo luật về sức khỏe  
tinh thần bao gồm Luật Sức khỏe tinh thần năm 1983, Điều  
200(2)(b) Luật Tố tụng hình sự của Scotland năm 1995 và  
Luật Sức khỏe tinh thần của Bắc Ireland năm 1986  
12 Điều 1(4), (5) Đạo luật.  
7
Xem thêm Điều 25, 28 Luật Đại biểu Nhân dân  
(Representation of the People Act) năm 1983  
8 Mục 1, Phụ lục 1 Đạo luật  
9 Điều 1 Đạo luật  
10  
Nếu nghị sĩ bị phạt tù trên một năm thì sẽ đương nhiên  
13 Điều 5 Đạo luật  
mất tư cách nghị sĩ. Xem thêm Điều 1 Luật Đại biểu Nhân  
dân (Representation of the People Act) năm 1981  
V. L. H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
15  
Khi người tiến hành yêu cầu bãi nhiệm nhận  
được thông báo của Chủ tịch Hạ viện thì trong  
thời gian sớm nhất có thể, người này phải thiết  
lập và niêm yết thời gian và địa điểm để người  
dân bỏ phiếu. Địa điểm bỏ phiếu phải có đủ  
điều kiện, phương tiện thuận lợi và hợp lý (kể  
cả phải tính đến trường hợp người khuyết tật  
đến tham gia), có thể thiết lập nhiều địa điểm  
để thuận tiện cho người dân (nhưng không  
quá 10 địa điểm). Thời gian bắt đầu cho phép  
bỏ phiếu là ngày làm việc thứ 10 kể từ khi  
người tiến hành yêu cầu bãi nhiệm nhận được  
thông báo của Chủ tịch Hạ viện14.  
Thứ ba, người đó hoàntoàn đủđiều kiện đểtham  
gia bầu nghị sĩ Hạ viện tại đơn vị bầu cử đó.  
Theo Quy định, các cử tri nói trên sẽ nhận  
được thông báo về việc bỏ phiếu, kèm theo thời  
gian và địa điểm tiến hành bỏ phiếu. Mỗi cử tri  
có mặt sẽ được gọi tên, nhận phiếu và vào phòng  
kín để quyết định có ký tên ủng hộ yêu cầu bãi  
nhiệm hay không. Sau đó phiếu ký tên sẽ được  
gấp lại và bỏ vào thùng phiếu20. Mỗi người chỉ  
được ký tên một lần và không được thay đổi ý  
định sau khi đã bỏ phiếu vào thùng21.  
Ngoài ký tên và bỏ phiếu trực tiếp, cử tri có  
thể bỏ phiếu qua đường bưu điện hoặc ủy quyền,  
nhưng phải đăng ký trước22.  
Cử tri bãi nhiệm nghị sĩ bằng phương thức ký  
tên vào một phiếu ký tên được chuẩn bị sẵn và  
bỏ vào thùng phiếu. Phiếu ký tên và thông báo  
đến cử tri được quy định là phải có đầy đủ thông  
tin về tên nghị sĩ bị bãi nhiệm, tên đơn vị bầu cử,  
lý do mà nghị sĩ bị bãi nhiệm, tỷ lệ cần thiết để  
bãi nhiệm thành công nghị sĩ đó, hệ quả pháp lý  
nếu như nghị sĩ bị bãi nhiệm và nơi ký tên15.  
Những người được quyền tham gia bỏ phiếu  
phải là cử tri được quyền bầu cử tính tới thời điểm  
bỏ phiếu, tức là phải hội tụ đủ 3 điều kiện sau16:  
Đạo luật còn tính đến các trường hợp gian  
lận khi23:  
- Một người ký tên 2 lần;  
- Một người ký tên trực tiếp khi đã biết rằng  
người nhận ủy quyền đã ký cho mình;  
- Người nhận ủy quyền ký tên hai lần cho một  
người;  
- Người nhận ủy quyền ký tên khi đã biết rằng  
người ủy quyền đã trực tiếp ký;  
Các vi phạm trên sẽ bị xử lý bằng hình thức  
phạt tiền ở mức 524 (là mức phạt tiền cao nhất -  
không giới hạn số tiền phạt [10]).  
Thời gian bỏ phiếu kéo dài 6 tuần kể từ ngày  
bắt đầu. Tuy nhiên việc bỏ phiếu có thể kết thúc  
sớm nếu chỉ còn 6 tháng là đến ngày bầu cử Hạ  
viện; hoặc nghị sĩ đó đã đương nhiên bị mất tư  
cách là thành viên của Hạ viện (do bị mất tích,  
chết hoặc các lý do khác); hoặc bản án phúc thẩm  
hủy bỏ các cáo buộc đối với nghị sĩ đó25. Khi  
nhận được một trong số những thông tin nói trên,  
Chủ tịch Hạ viện phải tuyên bố trước Hạ viện26,  
đồng thời phải thông báo ngay cho người tiến  
Thứ nhất, người đó đã đăng ký và đã có tên  
trong sổ đăng ký cử tri bầu nghị sĩ Hạ viện17  
tại đơn vị bầu cử đó. Mọi sự thay đổi về sổ  
đăng ký cử tri sẽ không có hiệu lực kể từ sau  
ngày Chủ tịch Hạ viện gửi thông báo, trừ  
trường hợp đã gửi đăng ký trước đó và sự thay  
đổi diễn ra trước ngày làm việc thứ 3 trước  
ngày bỏ phiếu đầu tiên18;  
Thứ hai, người đó đã đủ 18 tuổi trở lên19  
(ngày sinh nhật tuổi 18 phải trước ngày bỏ phiếu  
cuối cùng);  
________  
14 Điều 7 Đạo luật  
20 Điều 27 Quy định  
15 Các Điều 8, 9(4) Đạo luật  
16 Điều 10(1) Đạo luật  
21 Điều 11(2), (3) Đạo luật  
22 Điều 11(1) Đạo luật  
17  
Tại Vương quốc Anh, người dân phải đăng ký để trở  
23 Xem thêm Điều 12 Đạo luật  
24 Điều 12(5) Đạo luật. Xem thêm Điều 169 Luật Đại biểu  
Nhân dân (Representation of the People Act) năm 1983  
25 Điều 13 Đạo luật  
thành cử tri bầu nghị sĩ Hạ viện cũng như bỏ phiếu trong  
các cuộc trưng cầu dân ý [8].  
18 Điều 10(2), (3), (4) Đạo luật  
19 Tại Vương quốc Anh, công dân chỉ cần trên 16 tuổi (14  
tuổi theo luật của Scotland và Wales) là đã được đăng ký  
tên vào sổ cử tri, nhưng phải chờ đến 18 tuổi mới được bỏ  
phiếu bầu nghị sĩ Hạ viện [9].  
26 Điều 13(9) Đạo luật  
V. L. H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
16  
hành yêu cầu bãi nhiệm lý do để kết thúc sớm  
thời gian bỏ phiếu. Người tiến hành yêu cầu bãi  
nhiệm phải thực hiện những công việc cần thiết  
để kết thúc thời gian bỏ phiếu, đồng thời công bố  
với công chúng về việc kết thúc sớm này27.  
Khi thời gian bỏ phiếu kết thúc, người tiến  
hành yêu cầu bãi nhiệm phải tiến hành kiểm  
phiếu. Việc kiểm phiếu chỉ được thực hiện bởi  
người tiến hành yêu cầu bãi nhiệm và những trợ  
lý28. Yêu cầu bãi nhiệm được xem là thành công  
khi số chữ ký hợp lệ đạt tỷ lệ ít nhất 10% tính  
trên tổng số những cử tri có quyền bỏ phiếu29.  
Người tiến hành yêu cầu bãi nhiệm phải  
thông báo kết quả cho Chủ tịch Hạ viện, và sau  
đó là công bố kết quả cho công chúng30. Chủ  
tịch Hạ viện cũng phải thông báo kết quả trước  
Hạ viện31.  
3. Một số kinh nghiệm trong việc xây dựng  
cơ chế cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội tại  
Việt Nam  
Thứ nhất, phải nhận thức lại tính đại diện của  
Quốc hội. Việc nhận thức tính đại diện và lựa  
chọn phương thức ủy quyền như thế nào ảnh  
hưởng rất lớn đến cơ cấu Quốc hội cũng như quy  
chế hoạt động của đại biểu nói chung, và cơ chế  
cử tri bãi nhiệm đại biểu nói riêng. Điều 79 Hiến  
pháp năm 2013 quy định rằng “Đại biểu Quốc  
hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của  
Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân  
dân cả nước”. Quy định như vậy đại biểu Quốc  
hội đại diện cho Nhân dân ở đơn vị bầu cử hay  
của Nhân dân cả nước? Phương thức đại diện ở  
đây là ủy quyền tự do hay ủy quyền chịu lệnh?  
Bởi như đã phân tích ở trên, việc cho phép cử tri  
bãi nhiệm đại biểu dân cử gắn bó chặt chẽ với  
nhận thức về tính đại diện của đại biểu. Giả sử  
đại biểu Quốc hội đứng trước một chính sách có  
lợi cho quốc gia, đất nước nhưng trái với ý kiến  
vị kỷ của người dân địa phương đã bầu cho họ  
thì họ sẽ lựa chọn như thế nào? Nếu đại diện cho  
ý chí của người dân ở địa phương thì họ phải  
phản đối chính sách có lợi cho quốc gia, nhưng  
là đại biểu của Nhân dân cả nước thì họ phải đặt  
quyền lợi của cả dân tộc lên trên hết. Nếu đại  
biểu lựa chọn chính sách có lợi cho quốc gia mà  
đi ngược lại ý kiến của người dân địa phương thì  
họ có thể bị người dân bãi nhiệm vì “không còn  
xứng đáng với sự tín nhiệm” của người dân ở  
đơn vị bầu cử đó hay không? Từ đây có thể thấy  
việc cho phép cử tri bãi nhiệm đại biểu dân cử  
gắn bó chặt chẽ với nhận thức về tính đại diện  
của đại biểu. Vì vậy, tác giả cho rằng ta không  
thể chọn áp dụng “nước đôi” cùng lúc cả hai  
phương thức đại diện nói trên mà chỉ có thể chọn  
một trong hai. Từ các quy định tương tự trong  
pháp luật của các nước, đặc biệt là lịch sử lập  
hiến của Hoa Kỳ và pháp luật của Vương quốc  
Anh cho thấy cơ chế cử tri bãi nhiệm đại biểu  
dân cử thường gắn với phương thức ủy quyền  
2.4. Hệ quả  
Sau khi Chủ tịch Hạ viện thông báo kết quả  
trước Hạ viện, nghị sĩ đương nhiên xem như đã  
bị cử tri bãi nhiệm32 mà không cần bất kỳ hành  
động nào từ Nghị viện.  
Một cuộc bầu cử bổ sung (by election) sẽ  
được tổ chức tại đơn vị bầu cử tương ứng để bầu  
nghị sĩ mới thay thế. Quy trình bầu cử bổ sung  
được tổ chức tương tự như một cuộc bầu cử  
thông thường. Nghị sĩ bị bãi nhiệm vẫn có thể  
tham gia và tái đắc cử trong cuộc bầu cử bổ sung  
sau đó33.  
Cho đến nay, đã có 03 nghị sĩ tại Anh bị yêu  
cầu bãi nhiệm theo Đạo luật là Ian Paisley Jr  
(năm 2018), Fiona Onasanya và Christopher  
Davies (năm 2019). Trong đó yêu cầu bãi nhiệm  
đối với nghị sĩ Ian Paisley Jr không thành công  
(tỷ lệ thông qua là 9,4%), còn yêu cầu bãi nhiệm  
đối với các nghị sĩ Fiona Onasanya và  
Christopher Davies đều thành công với tỷ lệ  
thông qua tương ứng lần lượt là 27,6% và 18,9%.  
Fiona Onasanya và Christopher Davies đều tiếp  
tục ứng cử trong các cuộc bầu cử bổ sung nhưng  
đều không tái đắc cử.  
________  
27 Điều 13(8) Đạo luật  
28 Điều 38(1) Quy định  
29 Điều 14(3) Đạo luật  
30 Điều 14(2) Đạo luật  
31 Điều 14(8) Đạo luật  
32 Điều 15 Đạo luật  
33 Điều 1(11) Đạo luật  
V. L. H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
17  
chịu lệnh. Do đó, thiết nghĩ nên quy định vị trí,  
vai trò của đại biểu Quốc hội “là người đại diện  
cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị  
bầu cử ra mình; là người thay mặt Nhân dân thực  
hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội”.  
Thứ hai, cần quy định cụ thể các trường hợp  
và chủ thể bãi nhiệm đại biểu Quốc hội. Điều 40  
Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định đại  
biểu Quốc hội không còn xứng đáng với sự tín  
nhiệm của Nhân dân thì bị Quốc hội hoặc cử tri  
bãi nhiệm.  
nhiệm hoặc cử tri nơi bầu ra đại biểu bãi nhiệm,  
song không có quy định rõ trường hợp nào  
UBTVQH đưa ra Quốc hội, trường hợp nào đưa  
ra cử tri tại đơn vị bầu cử. Như vậy có thể hiểu  
rằng UBTVQH có quyền tùy nghi trong việc lựa  
chọn phương thức bãi nhiệm đại biểu dân cử, nói  
các khác là UBTVQH có quyền quyết định thẩm  
quyền của Quốc hội và cử tri trong việc bãi  
nhiệm đại biểu Quốc hội, mà theo tác giả, điều  
này chưa hợp lý. Thiết nghĩ pháp luật phải quy  
định cụ thể trường hợp nào Ủy ban trung ương  
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ  
quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có  
quyền đề nghị bãi nhiệm đại biểu Quốc hội; mặt  
khác, phải quy định cụ thể trường hợp nào  
UBTVQH phải đưa vấn đề bãi nhiệm đại biểu  
Quốc hội ra Quốc hội, trường hợp nào phải đưa  
ra cử tri tại địa phương.  
Tác giả cho rằng Điều 54 Luật Tổ chức Quốc  
hội nên quy định cụ thể hai trường hợp: (i) trong  
các trường hợp đại biểu Quốc hội không còn  
mang quốc tịch Việt Nam34, hoặc không làm tròn  
trách nhiệm tham gia các hoạt động của Quốc  
hội, các cơ quan của Quốc hội (được quy định tại  
Điều 26 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014) thì  
UBTVQH sẽ đưa vấn đề bãi nhiệm đại biểu đó  
ra Quốc hội quyết định; (ii) trong trường hợp đại  
biểu Quốc hội không còn đáp ứng được các tiêu  
chuẩn còn lại được quy định tại Điều 22 Luật Tổ  
chức Quốc hội, hoặc đại biểu Quốc hội không  
làm tròn các trách nhiệm với người dân (được  
quy định tại các Điều 27 và 28 Luật Tổ chức  
Quốc hội hiện hành) thì Ủy ban trung ương Mặt  
trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc  
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề nghị bãi  
nhiệm đại biểu đó; trong trường hợp này  
UBTVQH phải đưa vấn đề bãi nhiệm đại biểu  
Quốc hội cho cử tri tại địa phương quyết định.  
Với quy định như vậy, vai trò của Mặt trận Tổ  
quốc Việt Nam là rất quan trọng trong việc giám  
sát hoạt động và kích hoạt thủ tục cử tri bãi  
nhiệm đại biểu. Điều này là phù hợp với vị trí,  
vai trò của Mặt trận Tổ quốc là cơ sở chính trị  
của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ  
Một là: Tiêu chí “xứng đáng với sự tín nhiệm  
của Nhân dân” thì rất khó xác định và chỉ có thể  
định lượng bằng một cuộc bỏ phiếu của chính cử  
tri ở đơn vị bầu cử đã bầu ra đại biểu ấy. Bên  
cạnh đó, “được Nhân dân tín nhiệm” cũng chỉ là  
một trong các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội  
được quy định tại Điều 22 Luật Tổ chức Quốc  
hội năm 2014, thêm vào đó, đại biểu Quốc hội  
cũng phải làm tròn trách nhiệm đối với Quốc hội,  
đối với cử tri và đối với công dân được quy định  
tại các Điều 26, 27 và 28 Luật Tổ chức Quốc hội  
năm 2014. Vì thế, căn cứ của việc bãi nhiệm đại  
biểu Quốc hội sẽ phải là việc đại biểu không còn  
đáp ứng các tiêu chuẩn hoặc không làm tròn  
trách nhiệm luật định. Tác giả đề xuất khoản 1  
Điều 40 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 nên  
quy định cụ thể theo hướng “đại biểu Quốc hội  
không còn đáp ứng được những tiêu chuẩn được  
quy định tại Điều 22 hoặc không làm tròn trách  
nhiệm của đại biểu Quốc hội được quy định tại  
các Điều 26, Điều 27, Điều 28 của Luật này thì  
bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm”.  
Hai là: Điều 54 Luật Tổ chức Quốc hội năm  
2014 quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội  
(“UBTVQH”) có quyền xem xét đề nghị bãi  
nhiệm đại biểu Quốc hội của Ủy ban trung ương  
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ  
quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.  
Nhưng quy định như vậy vẫn chưa cụ thể bởi  
trong trường hợp nào các chủ thể này được đề  
nghị UBTVQH về vấn đề bãi nhiệm một đại  
biểu? Bên cạnh đó, Điều 54 cũng quy định khi  
UBTVQH nhận được đề nghị bãi nhiệm đại biểu  
Quốc hội thì có quyền đưa ra để Quốc hội bãi  
________  
34 Tiêu chuẩn này được quy định tại Khoản 1a Điều 22  
Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành  
V. L. H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
18  
những người chưa phải cử tri ở thời điểm bầu cử  
và những cử tri đã bầu cho người khác. Do đó tác  
giả cho rằng Luật Tổ chức Quốc hội cần bổ sung  
quy định cụ thể rằng “những người được tham  
gia bỏ phiếu bãi nhiệm đại biểu Quốc hội là mọi  
công dân đủ mười tám tuổi trở lên tính đến ngày  
tiến hành bỏ phiếu bãi nhiệm tại đơn vị bầu cử  
của đại biểu Quốc hội đó, trừ những trường hợp  
được quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Bầu cử  
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân  
năm 201535.  
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân  
dân như đã được hiến định tại Điều 9 Hiến pháp  
hiện hành.  
Thứ ba, về tổ chức phụ trách bỏ phiếu bãi  
nhiệm đại biểu Quốc hội tại địa phương: Tại  
Vương quốc Anh người tiến hành yêu cầu bãi  
nhiệm một nghị sĩ cũng là người đã phụ trách  
đơn vị bầu cử nghị sĩ đó. Tuy nhiên, tại nước ta  
không có một cơ quan phụ trách công tác bầu cử  
thường trực, do đó tác giả đề xuất khi đại biểu  
Quốc hội bị đề nghị bãi nhiệm, UBTVQH sẽ phải  
thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành  
lập một Ban phụ trách tại đơn vị bầu cử đã bầu  
ra đại biểu đó. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi  
thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân  
và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc  
Việt Nam cùng cấp thành lập Ban phụ trách gồm  
Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và các Ủy viên  
là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy  
ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt  
Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu  
quan (có thể là cơ quan, tổ chức nơi đại biểu  
Quốc hội đó làm việc). Ban phụ trách sẽ chịu  
trách nhiệm lên danh sách cử tri có quyền bỏ  
phiếu bãi nhiệm, xác định và công bố thời điểm  
bỏ phiếu, tiến hành tổ chức cho cử tri bỏ phiếu,  
kiểm phiếu và công bố kết quả.  
Thứ tư, số lượng cử tri tại một đơn vị bầu cử  
sẽ là khác nhau ở những thời điểm khác nhau, do  
đó cần phải quy định rõ cử tri bãi nhiệm đại biểu  
là những cử tri ở đầu nhiệm kỳ hay cử tri có  
quyền tham gia bầu cử tại thời điểm bãi nhiệm.  
Quy định này có ảnh hưởng không nhỏ đến kết  
quả của cuộc bỏ phiếu. Có thể thấy Luật Bãi  
nhiệm thành viên nghị viện của Vương quốc Anh  
có quy định cụ thể những người được tham gia  
yêu cầu bãi nhiệm nghị sĩ là những cử tri có  
quyền bầu cử tính đến thời điểm bãi nhiệm. Đó  
là điều hợp lý vì đại biểu dân cử không chỉ đại  
diện cho cử tri đã bầu ra họ, mà còn đại diện cho  
toàn bộ người dân ở đơn vị bầu cử ấy bao gồm  
Thứ năm, phương thức cử tri bãi nhiệm đại  
biểu Quốc hội nên là bỏ phiếu kín thay vì ký tên.  
Tại Vương quốc Anh, việc bầu cử vẫn được thực  
hiện theo nguyên tắc bỏ phiếu kín, nhưng yêu  
cầu bãi nhiệm lại được tổ chức theo phương thức  
ký tên. Điều tương tự cũng dễ thấy ở các quốc  
gia, vùng lãnh thổ cho phép cử tri bãi nhiệm đại  
biểu dân cử36. Mặc dù quy định này thể hiện sự  
minh bạch và giảm thiểu được rủi ro gian lận,  
nhưng lại tạo ra thách thức không nhỏ trong việc  
bảo đảm bí mật cho cử tri. Trong phương thức  
bỏ phiếu kín, không ai biết được rằng cử tri có  
mặt ở khu vực bỏ phiếu sẽ ủng hộ ứng viên nào;  
ngược lại, trong phương thức ký tên, cử tri phải  
dùng chữ ký cá nhân để thể hiện sự ủng hộ đối  
với yêu cầu bãi nhiệm, và gần như có thể chắc  
chắn rằng những cử tri xuất hiện ở khu vực ký  
tên là những người ủng hộ yêu cầu bãi nhiệm.  
Theo Báo cáo tổng kết về các yêu cầu bãi nhiệm  
năm 2019 của Ủy ban bầu cử Vương quốc Anh,  
phương thức ký tên đã gây ra một số lo ngại về  
vấn đề bảo mật cho các cử tri tham gia [11], và  
một số chuyên gia cho rằng phải tổ chức yêu cầu  
bãi nhiệm bằng phương thức bỏ phiếu kín tương  
tự như bầu cử [12]. Tác giả cũng cho rằng nên áp  
dụng phương thức bỏ phiếu kín để đảm bảo sự tự  
do về ý chí của cử tri, tránh việc cử tri cả nể, hay  
sợ bị lộ thông tin mà “chùn tay” không dám bỏ  
phiếu để bãi nhiệm một đại biểu khi cần thiết.  
Như vậy, phiếu bãi nhiệm chỉ cần có ô “Đồng ý  
________  
35  
Khoản 1 Điều 30 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại  
phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực  
biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định các trường hợp  
không được ghi tên vào danh sách cử tri bao gồm “Người  
đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa  
án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang  
trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình  
hành vi dân sự”.  
Ví dụ Điều 21 Đạo luật Recall and Initiative Act năm  
1996 của bang British Columbia, Canada cũng quy định cử  
tri ký tên để yêu cầu bãi nhiệm nghị sĩ của Nghị viện bang.  
36  
V. L. H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
19  
biểu Quốc hội bị bãi nhiệm mà số lượng đại biểu  
vẫn trên 90% tổng số đại biểu đã được bầu ở đầu  
nhiệm kỳ thì vẫn không tổ chức bầu cử bổ sung.  
Vậy nếu cử tri bãi nhiệm một đại biểu thì nhiều  
khả năng là họ sẽ thiếu một đại biểu đại diện cho  
họ trong cả thời gian còn lại của nhiệm kỳ. Giả  
sử một đơn vị bầu cử có 300.000 cử tri bầu 3 đại  
biểu Quốc hội thì trung bình cứ 100.000 phiếu  
đổi được một “ghế” đại biểu Quốc hội; nếu một  
đại biểu bị bãi nhiệm mà không được bầu bổ  
sung thì mỗi đại biểu Quốc hội đại diện cho  
150.000 người, đồng nghĩa với việc giá trị của  
mỗi lá phiếu của cử tri bị giảm tương đối so với  
đầu nhiệm kỳ, tiếng nói của đơn vị bầu cử ấy trên  
nghị trường cũng giảm đi. Vì lẽ đó, để đảm bảo  
sự bình đẳng giữa cử tri ở đơn vị bầu cử này với  
đơn vị bầu cử khác, thiết nghĩ sau khi mỗi đại  
biểu Quốc hội ở một đơn vị bầu cử bị bãi nhiệm  
(dù là do Quốc hội hay cử tri bãi nhiệm) thì đơn  
vị bầu cử ấy sẽ được tổ chức bầu cử một đại biểu  
Quốc hội mới thay thế. Việc tổ chức bầu cử bổ  
sung trong trường hợp này sẽ theo trình tự, thủ  
tục, quy định về bầu cử bổ sung trong Luật Bầu  
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân  
dân hiện hành.  
Trên đây là một số đề xuất của tác giả mang  
tính gợi mở dựa trên những kinh nghiệm từ  
nghiên cứu pháp luật nước ngoài, đặc biệt là Luật  
Bãi nhiệm thành viên Nghị viện năm 2015 của  
Vương quốc Anh. Thiết nghĩ cần phải đầu tư  
nhiều công sức và công trình chuyên sâu hơn nữa  
nhằm thiết kế một cơ chế đầy đủ, cụ thể, và phù  
hợp với Việt Nam cho phép cử tri bãi nhiệm đại  
biểu Quốc hội, từ đó củng cố mối liên hệ giữa cử  
tri với đại biểu dân cử, góp phần tăng cường sự  
tham gia của Nhân dân vào quản lý nhà nước và  
xã hội, phát huy dân chủ đại diện.  
bãi nhiệm” và “Không đồng ý bãi nhiệm” để cử  
tri lựa chọn.  
Thứ sáu, cần quy định cụ thể tỷ lệ thông qua  
để yêu cầu bãi nhiệm được xem là thành công.  
Có thể thấy yêu cầu bãi nhiệm tại Vương quốc  
Anh được xem là thành công với tỷ lệ khá thấp:  
chỉ 10% chữ ký hợp lệ tính trên tổng số cử tri  
được quyền ký tên (kể cả những người không đi  
ký tên). Điều này có nghĩa là để không bị cử tri  
bãi nhiệm, đại biểu cần được ủng hộ bởi trên  
90% tổng số cử tri tại đơn vị bầu cử của đại biểu.  
Thiết nghĩ quy định như vậy cũng hết sức hợp lý,  
bởi dù đại biểu ở đầu nhiệm kỳ chỉ cần hơn 50%  
cử tri ủng hộ mình là đã đắc cử, song đại biểu  
cần phải là người đại diện cho toàn bộ cư dân ở  
đơn vị bầu cử (bao gồm cả những người không  
đi bầu và những người đã ủng hộ cho ứng viên  
khác). Quy định như vậy sẽ buộc đại biểu phải  
gắn bó với cử tri, lắng nghe và thực hiện tâm tư,  
nguyện vọng của mọi cử tri, kể cả một nhóm cử  
tri thiểu số, bởi chỉ cần 10% tổng số cử tri cũng  
đã đủ bãi nhiệm đại biểu. Do đó, tác giả cũng đề  
xuất quy định tỷ lệ phiếu đồng ý cần có để thông  
qua việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội là 10% tính  
trên tổng số cử tri được quyền bỏ phiếu. Trong  
trường hợp này, đại biểu Quốc hội bị xem là  
đương nhiên bị bãi nhiệm (mà không cần thêm  
bất kỳ thủ tục nào từ Quốc hội). Ban phụ trách  
phải công bố kết quả bãi nhiệm đại biểu Quốc  
hội, đồng thời thông báo cho Quốc hội, trong  
thời gian Quốc hội không họp thì thông báo cho  
Ủy ban thường vụ Quốc hội để báo cáo với Quốc  
hội trong kỳ họp gần nhất. Sau khi bị bãi nhiệm,  
đại biểu đó vẫn có thể tham gia làm ứng cử viên  
trong cuộc bầu cử bổ sung (và cả những cuộc bầu  
cử sau này) và có thể đắc cử nếu đạt được sự ủng  
hộ của đa số cử tri tham gia bầu cử. Mà để có thể  
tái đắc cử, đại biểu cần thực sự nỗ lực để lấy lại  
tín nhiệm của cử tri.  
Tài liệu tham khảo  
Thứ bảy, yêu cầu bãi nhiệm phải gắn với bầu  
cử bổ sung. Hiện Điều 89 Luật Bầu cử đại biểu  
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hiện nay  
quy định điều kiện để tổ chức bầu cử bổ sung chỉ  
được tiến hành khi thời gian còn lại của nhiệm  
kỳ nhiều hơn 02 năm và thiếu trên 10% tổng số  
đại biểu Quốc hội đã được bầu ở đầu nhiệm kỳ.  
Điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu một đại  
[1] U.S. Term Limits, Inc. v. Thornton, 514 U.S. 779  
1995, para. 838, US Case Law Volume 54,  
9/, (accessed 5 June 2021).  
[2] The Electoral Knowledge Network, Direct  
Democracy - Recall, https://aceproject.org/ace-  
V. L. H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 10-20  
20  
June 2021).  
[3] H. M. Hieu, Representative function of the National  
Assembly: Some conceptual issues, Legislative  
Studies Journal No. 24(185), 2010, p. 15.  
[4] P. T. Ha, The continuation of reforming the  
organization and operation of the National  
Assembly in Vietnam nowadays, State and Law  
Review No. 7(387), 2020, p. 4.  
[8] The  
UK  
Government,  
How  
to  
vote,  
2021).  
[9] The UK Government, Register to vote,  
July 2021).  
[10] Sentencing Council, Fines and Financial Orders -  
Approach to the assessment of fines: Maximum  
fines-2/9-maximum-fines/ (accessed 3 June 2021).  
[5] Erskine May, Erskine May’s treatise on the law,  
privileges, proceedings and usage of Parliament  
(25th  
edition),  
Part  
2,  
Chapter  
11,  
ulsion/, 2019 (accessed 5 June 2021).  
[6] Cases Of Mr Allig Han And Mr Walkden, Volume  
443: debated on Thursday 30 October 1947,  
[11] The Electoral Commission (UK), The process to  
challenge a sitting MP: review of the 2019 recall  
Committee  
Of  
Privileges  
Report,  
en#main-content (accessed 5 June 2021).  
(accessed 5 June 2021).  
2019  
[12] The Electoral Commission (UK), Petitions to recall  
MPs should mirror the secrecy of the ballot, finds new  
report  
[7] Committee on Standards, Patrick Mercer - Eleventh  
Report of Session 2013-14, HC 1225, Ordered by the  
House of Commons to be printed 29 April 2014,  
published on 1 May 2014 by authority of the House  
of Commons, The Stationery Office Limited,  
London, 2013, para. 28, p. 11.  
centre/petitions-recall-mps-should-mirror-secrecy-  
ballot-finds-new-report, 2019 (accessed 5 June  
2021).  
pdf 11 trang Thùy Anh 14680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về bãi nhiệm nghị sĩ tại Vương quốc Anh và một số kinh nghiệm cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_ve_bai_nhiem_nghi_si_tai_vuong_quoc_anh_va_mot_so.pdf