Hoàn thiện chế định miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH MIỄN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI THƯƠNG NHÂN  
KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS  
ThS Nguyễn Văn Hùng1  
Tóm tắt: Bài viết phân tích, đưa ra quan điểm nhằm góp phần hoàn thiện một số  
vấn đề còn bất cập liên quan đến miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch  
vụ logistics, cụ thể bài viết tập trung vào các vấn đề: Miễn trách nhiệm do thỏa thuận; Do  
lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền; Do thương nhân kinh doanh  
dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách  
hàng ủy quyền và miễn trách do thương nhân không nhận được thông báo khiếu nại, thông  
báo khởi kiện trong thời hạn quy định.  
Từ khóa: miễn trách nhiệm, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, lỗi của khách  
hàng, khiếu nại, khởi kiện, Luật Thương mại 2005.  
Abstract: The article analyzes and gives views to contribute to the completion of  
several inadequacies related to liability exemption for traders providing logistics services.  
The article focuses on the following issues: Liability exemption obligations by agreement;  
Due to the fault of the customer or the person authorized by the customer; Due to the trader  
providing logistics services strictly following the instructions of the customer or the person  
authorized by the customer and is relieved of responsibility because the trader has not  
received the notice of complaint or notice of lawsuit within the prescribed time limit.  
Keywords: liability exemption, traders providing logistics services, customer  
errors, complaints, lawsuits, Commercial Law 2005.  
Trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam không có quy phạm định nghĩa  
khái niệm miễn trách nhiệm mà chỉ quy định về những trường hợp cũng như điều kiện để  
thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được hưởng quyền này, từ những quy định này  
1 Khoa Luật thương mại, Trường Đại học Luật TP.HCM  
163  
có thể hiểu miễn trách nhiệm là trường hợp mà thương nhân không phải chịu những hậu  
quả bất lợi vì những tổn thất đối với hàng hóa do những hành vi vi phạm của mình phát  
sinh trong các trường hợp mà pháp luật quy định.Về nguyên tắc khi tổn thất hàng hóa phát  
sinh hay khi có hành vi vi phạm xảy ra thương nhân là bên cung ứng dịch vụ sẽ phải chịu  
trách nhiệm bồi thường cho bên khách hàng, tuy nhiên trong một số trường hợp khi đáp  
ứng đủ điều kiện mà pháp luật đặt ra thương nhân sẽ được miễn trách nhiệm, vấn đề này  
thể hiện tinh thần thiện chí, hợp tác, chia sẻ rủi ro giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ  
pháp luật, tạo ra vị thế bình đẳng về quyền lợi giữa các bên. Theo quy định của Luật Thương  
mại 2005 thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc được miễn trách nhiệm  
do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng theo quy định tại điều 294 như các nhà cung cấp dịch vụ  
khác, bên cung ứng dịch vụ logistics còn được miễn trách nhiệm theo quy định tại điều  
2372. Tuy nhiên, các quy định về miễn trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh dịch vụ  
logistics trong hệ thống pháp luật còn được quy định ở các văn bản khác nhau tùy vào từng  
dịch vụ cụ thể mà thương nhân cung cấp, việc này gây khó khăn cho các chủ thể trong việc  
bảo vệ quyền lợi của mình. Ngoài ra những quy định này trong một số trường hợp còn khá  
trừu tượng, chưa rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu, còn nhiều bất cập, không phù hợp với  
điều kiện thực tiễn gây khó khăn trong việc áp dụng chế định này.  
1. Miễn trách nhiệm do các bên đã thỏa thuận  
Điều kiện miễn trách nhiệm này dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận  
trong hoạt động thương mại, khi các bên thỏa thuận với nhau về việc miễn trách nhiệm thì  
có thể hiểu khách hàng đã chấp nhận hành vi vi phạm của thương nhân kinh doanh dịch  
vụ, từ bỏ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của mình và nếu khách hàng là bên bị vi phạm  
đã không yêu cầu bên kia phải bù đắp cho mình thì pháp luật cũng không có căn cứ để yêu  
cầu thương nhân phải bồi thường, việc bồi thường trong trường hợp này không đạt được  
mục đích khi đặt ra quy định, đồng thời còn tạo thêm gánh nặng không cần thiết cho bên  
vi phạm. Vấn đề cơ bản để thỏa thuận miễn trách được pháp luật bảo hộ là các bên phải tự  
do, tự nguyện trong thỏa thuận, không bên nào được áp đặt, cưỡng ép, đe dọa bên nào,  
đồng thời không được trái với các nguyên tắc chung của pháp luật hoặc trái với thuần phong  
2 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2012), giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ, Nhà xuất  
bản Hồng Đức, tr 107.  
164  
mỹ tục và đạo đức xã hội. Căn cứ vào nội dung quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 294 Luật  
Thương mại 2005 thì thời điểm các bên thỏa thuận có thể là khi giao kết hợp đồng, khi  
thực hiện hợp đồng nhưng phải trước khi trường hợp được miễn trách nhiệm xảy ra trên  
thực tế. Bên cạnh đó về mặt hình thức của thỏa thuận, pháp luật thương mại không đặt ra  
quy định cụ thể, do đó thỏa thuận này có thể bằng văn bản, bằng lời nói hay hành vi cụ thể  
và các bên có thể thỏa thuận miễn trách bằng một điều khoản trong hợp đồng hay phụ lục  
hợp đồng. Như vậy, pháp luật thương mại trao quyền thỏa thuận cho các bên mà không đặt  
ra bất cứ một ngoại lệ nào, chỉ cần đáp ứng các điều kiện như đã phân tích thì thỏa thuận  
của thương nhân và khách hàng về việc miễn trách nhiệm sẽ được pháp luật bảo hộ. Việc  
không đặt ra điều kiện thỏa thuận phải đảm bảo sự cân bằng lợi ích và hợp lý giữa các bên  
sẽ có khả năng dẫn đến phát sinh những tình huống nội dung thỏa thuận bất hợp lý, mang  
tính áp đặt đối với một bên, như trường hợp thương nhân có ưu thế hơn đưa ra những thỏa  
thuận mở rộng các trường hợp miễn trách nhiệm một cách bất công với khách hàng, hay  
trường hợp khách hàng có ưu thế hơn lại đưa ra những thỏa thuận thu hẹp những trường  
hợp miễn trách nhiệm một cách bất hợp lý. Do đó để đảm bảo được ý nghĩa của quy định  
miễn trách nhiệm cũng như đảm bảo lẽ công bằng trong hệ thống pháp luật nói chung và  
luật thương mại nói riêng thì pháp luật thương mại nên quy định trong trường hợp những  
thỏa thuận của các bên là không công bằng hoặc mang tính áp đặt bất hợp lý thì thỏa thuận  
đó bị xem là vô hiệu. Quy định này sẽ tạo ra sự tương thích với pháp luật cạnh tranh trong  
quy định về việc chống lại các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc  
quyền, nhằm mục đích không để cho các doanh nghiệp có quyền lực thị trường bóp méo,  
triệt tiêu cạnh tranh, bóc lột người tiêu dùng3. Ngoài ra nên đặt ra một số các trường hợp  
ngoại lệ mà thỏa thuận của các bên phải loại trừ ví dụ như khi tổn thất của hàng hóa là do  
hành vi vi phạm một cách cố ý của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, việc loại trừ  
này không những đảm bảo đảm sự công bằng trong quan hệ hợp đồng mà còn đảm bảo  
nguyên tắc thiện chí trung thực khi xác lập, thực hiện các quan hệ pháp luật4. Pháp luật của  
các quốc gia như Anh hay Singapore cũng có các quy định tương tự khi ban hành Luật về  
điều khoản không công bằng điều chỉnh những điều khoản có ảnh hưởng đến trách nhiệm  
pháp lý do vi phạm nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh nhằm bảo vệ người tham gia hợp  
đồng với tư cách người tiêu dùng5. Ngoài ra quy định thời điểm mà các bên thỏa thuận về  
3 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2020), giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương  
mại, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam, tr 206  
4 Khoản 3, Điều 3, Bộ luật Dân sự, luật số 91/2015/QH13, ngày 24/11/ 2015.  
5 Trần Quỳnh Anh (2009), Pháp luật về hợp đồng của Singapore, tạp chí luật học số 12/2009, tr.48.  
165  
miễn trách nhiệm phải tồn tại trước khi có hành vi vi phạm, điều này có nghĩa là việc các  
bên thỏa thuận miễn trách sau khi xảy ra hành vi vi phạm dẫn đến tổn thất là không phù  
hợp với quy định của pháp luật. Quy định này có phần cứng nhắc, thiếu tính linh hoạt trong  
hoạt động thương mại, thiết nghĩ trong trường hợp thương nhân đã có hành vi vi phạm đạt  
được thỏa thuận miễn trách nhiệm với khách hàng trong bất kỳ thời điểm nào, dù là trước  
hay sau khi xảy ra vi phạm và tổn thất thì pháp luật cũng nên tôn trọng và bảo vệ thỏa thuận  
đó.  
2. Miễn trách nhiệm do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy  
quyền.  
Theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 237 Luật Thương mại 2005 thì trong trường  
hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics vi phạm hợp đồng dẫn đến việc hàng hóa bị  
tổn thất hoặc hư hỏng nhưng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tổn thất là do lỗi của khách  
hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền thì được miễn trách nhiệm, yếu tố lỗi ở  
đây được hiểu là bao gồm cả lỗi cố ý và lỗi vô ý. Tuy nhiên điều luật này chỉ quy định  
thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics được miễn trách nhiệm khi tổn thất do lỗi của  
khách hàng và người được khách hàng ủy quyền mà chưa phân định rõ trách nhiệm của  
các bên trong trường hợp cả hai bên, bên khách hàng cũng như bên cung ứng dịch vụ đều  
có lỗi làm cho hàng hóa bị tổn thất. Trong khi đó pháp luật chuyên ngành quy định về căn  
cứ miễn trách nhiệm này đối với từng dịch vụ cụ thể như sau: đối với dịch vụ vận tải hàng  
hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận  
tải biển, dịch vụ vận tải đa phương thức đều quy định tương tự luật thương mại 2005, tuy  
nhiên tùy từng dịch vụ khác nhau mà pháp luật quy định các chủ thể có lỗi khác nhau như  
theo quy định của Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004 được sửa đổi, bổ sung  
năm 2014 chủ thể có lỗi có thể là người thuê vận tải, người nhận hàng, người áp tải hàng  
hóa6, trong khi Bộ luật Hàng hải 2015 quy định chủ thể có lỗi bao gồm người giao hàng,  
chủ sở hữu hàng, đại lý hoặc đại diện của họ7. Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa  
phương thức lại quy định chủ thể có lỗi là người gửi hàng, người nhận hàng, người được  
người gửi hàng, người nhận hàng ủy quyền hoặc đại lý của họ, trong khi đó khác với các  
quy định trên, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt lại không quy định  
6 Điểm d, khản 1, Điều 94, Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004(được sửa đổi bổ sung năm 2014).  
7 Điều 156, Bộ Luật Hàng hải Việt Nam, luật số 95/2015/QH13 ngày 25/11/2015.  
166  
một cách trực tiếp về trường hợp miễn trách nhiệm này. Đối với dịch vụ chuyển phát và  
dịch vụ vận tải đường hàng không theo quy định tại Luật Hàng không dân dụng Việt Nam  
năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Luật Bưu chính năm 2010 thì thương nhân  
cung ứng dịch vụ được miễn một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối  
với hàng hóa tương ứng với mức độ thiệt hại do lỗi của khách hàng8, như vậy trong hai loại  
hình dịch vụ này thương nhân chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng đối với phần thiệt  
hại do lỗi của mình gây ra. Luật Hàng không dân dụng Việt Nam không chỉ miễn trách  
nhiệm cho thương nhân đối với phần thiệt hại do lỗi của người gửi mà còn đối với phần  
thiệt hại do lỗi của người nhận hàng hóa, người áp tải được người gửi hàng hoặc người  
nhận hàng cử đi kèm hàng hóa. Tuy nhiên thương nhân cung ứng dịch vụ vận tải không  
phải chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt  
hại, như vậy quy định này đã phân định rõ ràng trách nhiệm của các bên đối với phần thiệt  
hại do lỗi của mình.  
Trong khi đó, Luật Thương mại 2005 quy định phải là trường hợp hoàn toàn do lỗi  
của khách hàng, thương nhân cung ứng dịch vụ mới được miễn trách nhiệm, quy định này  
đã thiếu đi trường hợp mỗi bên đều có một phần lỗi với hành vi vi phạm dẫn đến tổn thất  
hàng hóa hoặc trường hợp có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính chủ yếu nhất  
là do lỗi của khách hàng, trong khi thương nhân cung ứng dịch vụ có lỗi nhưng không phải  
là nguyên nhân chính dẫn đến tổn thất hàng hóa, vậy nên quy định thương nhân được miễn  
trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy  
quyền và phải có sự phân định trách nhiệm của các bên đối với phần thiệt hại tương ứng  
với phần lỗi của mỗi bên. Tham chiếu quy định trong Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng  
thương mại quốc tế 2004 thì khi thiệt hại xảy ra một phần là do bên bị thiệt hại gây ra bởi  
hành động hoặc bất tác vi, hoặc thiệt hại do một sự kiện khách quan mà bên bị thiệt hại  
phải chịu rủi ro đối với những sự kiện đó, số tiền bồi thường sẽ được giảm tương ứng với  
mức độ thiệt hại mà các yếu tố trên có ảnh hưởng, có xem xét đến hành vi của mỗi bên  
trong hợp đồng9, hoặc theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 thì trường hợp vi phạm nghĩa  
vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường  
thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình10. Bên cạnh đó là trường hợp hành vi vi phạm  
8 Khoản 1, Điiều 165, luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 và khoản 2, Điều 41, Luật Bưu chính năm  
2010.  
9 Điều 7.4.7, Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004.  
10 Điều 363, Bộ luật Dân sự, Luật số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015.  
167  
của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xuất phát từ lỗi của bên thứ ba và trong  
trường hợp bên thứ ba cũng được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của mình theo  
quy định của pháp luật, bên thứ ba ở đây là một chủ thể độc lập với khách hàng và thương  
nhân kinh doanh dịch vụ logistics, đó có thể là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics  
khác mà thương nhân thuê lại. Trường hợp này bên thứ ba có lỗi nhưng lại thuộc các trường  
hợp miễn trách nhiệm, thương nhân là chủ thể trực tiếp thiết lập quan hệ với bên thứ ba  
không thể yêu cầu bên thứ ba bồi thường, mặt khác thương nhân kinh doanh dịch vụ  
logistics không có lỗi, không thể kiểm soát được vấn đề này nên không thể yêu cầu thương  
nhân phải chịu trách nhiệm. Tham chiếu quy định của Công ước Viên năm 1980 về hợp  
đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do  
người thứ ba mà họ nhờ thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không thực hiện  
điều đó thì bên ấy được miễn trách nhiệm trong trường hợp bên thứ ba đủ điều kiện được  
miễn trách nhiệm do trở khách quan11. Quy định về miễn trách đối với thương nhân kinh  
doanh dịch vụ logistics cũng nên bổ sung quy định thương nhân được miễn trách nhiệm  
khi hành vi vi phạm dẫn đến tổn thất hàng hóa do hành vi vi phạm của bên thứ ba trong  
trường hợp bên thứ ba thuộc các trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định.  
3. Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo  
những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền.  
Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 237 Luật Thương mại 2005 thì trong quá  
trình thực hiện hợp đồng thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có nghĩa vụ phải tuân  
theo chỉ dẫn của khách hàng, khách hàng là chủ thể chi phối đến hoạt động mà thương nhân  
thực hiện, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không có toàn quyền trong việc quyết  
định đối với những tình huống phát sinh do đó khi thực hiện theo những chỉ dẫn này dẫn  
đến tổn thất hàng hóa phát sinh thì thương nhân không phải chịu trách nhiệm.  
Căn cứ vào quy định miễn trách nhiệm này thì chỉ cần thương nhân thực hiện đúng  
những chỉ dẫn của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền thì sẽ được miễn  
trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa. Quy định này có thể làm phát sinh trường hợp thương  
nhân bất chấp tổn thất mà thực hiện theo những chỉ dẫn của khách hàng như khi có lý do  
chính đáng vì lợi ích của khách hàng phải thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng để  
11 Điểm b, khoản 2, Điều 79 Công ước Viên 1980, Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế.  
168  
tránh tổn thất nhưng thương nhân không thông báo cũng không thực hiện hoặc khi nhận  
được chỉ dẫn của khách hàng, thương nhân biết hoặc có cơ sở để biết về những tổn thất có  
thể xảy ra khi thực hiện theo chỉ dẫn đó, nhưng vẫn thực hiện dẫn đến tổn thất hàng hóa.  
Tuy rằng trong các quy định về nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics  
trong quá trình thực hiện hợp đồng có nghĩa vụ làm khác với chỉ dẫn của khách hàng nếu  
có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng, tuy nhiên quy định này lại có tính tùy nghi  
không phải là một nghĩa vụ buộc thương nhân phải thực hiện.12 Với mục đích đảm bảo  
quyền lợi cho khách hàng Luật Thương mại 2005 nên quy định trong trường hợp thương  
nhân biết được hoặc dự đoán được chỉ dẫn của khách hàng có thể làm phát sinh tổn thất  
hàng hóa, đặt ra trách nhiệm thương nhân phải thông báo cho khách hàng, nếu khách hàng  
vẫn yêu cầu thực hiện thì khi tổn thất xảy ra thương nhân sẽ không phải gánh chịu trách  
nhiệm, ngược lại trong trường hợp thương nhân biết nhưng không thông báo cũng như  
không xin ý kiến của khách hàng thì thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm với tổn thất  
xảy ra. Quy định này có ý nghĩa trong việc ràng buộc nghĩa vụ của bên kinh doanh dịch vụ  
logistics, với tư cách là một bên có chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh có điều kiện.  
4. Thương nhân không nhận được thông báo khiếu nại, thông báo khởi kiện trong  
thời hạn quy định.  
Theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 237 Luật Thương mại 2005 thì thương  
nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn  
14 ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận  
sẽ được miễn trách nhiệm đối với những tổn thất hàng hóa. Khiếu nại trong hoạt động  
thương mại là việc bên bị vi phạm thông báo cho bên vi phạm về những nghĩa vụ hợp đồng  
của bên vi phạm, đồng thời yêu cầu bên vi phạm khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm  
một cách kịp thời, trong trường hợp hết thời hiệu khiếu nại mà bên bị vi phạm không khiếu  
nại thì được coi là chấp nhận vi phạm của bên vi phạm đồng thời mất quyền viện dẫn các  
vi phạm của bên vi phạm khi yêu cầu giải quyết tranh chấp tại các cơ quan tài phán.  
Để yêu cầu thương nhân chịu trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa, bên khiếu nại  
phải gửi thông báo khiếu nại và thương nhân phải nhận được thông báo trong thời hạn 14  
ngày kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận, người  
12 Điểm b, khoản 1, Điều 235, Luật Thương mại 2005, Luật số 36/2005/QH11, ngày 14/6/2005.  
169  
nhận trong trường hợp này có thể là chủ sở hữu hàng hóa, bên mua hàng, đại lý và đại diện  
của họ, có thể đồng thời hoặc không đồng thời là khách hàng. Nội dung quy định tại điều  
237 Luật Thương mại 2005 không quy định cụ thể về nội dung khiếu nại do đó có thể hiểu  
tất cả nội dung khiếu nại có thể về số lượng, về chất lượng và về các vi phạm khác đều  
phải thực hiện trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics  
giao hàng cho người nhận.Về hình thức của thông báo khiếu nại điều luật này cũng không  
có quy định cụ thể, do đó có thể là thông báo dưới dạng văn bản hoặc các hình thức khác.  
Thương nhân kinh doanh dịch vụ cũng được miễn trách nếu như sau khi bị khiếu nại,  
thương nhân kinh doanh dịch vụ không nhận được thông báo về việc bị khởi kiện tại Trọng  
tài hoặc Tòa án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng. Căn cứ miễn trách nhiệm  
này cũng là một trường hợp ngoại lệ về thời hiệu khởi kiện, bởi lẽ theo quy định thời hiệu  
khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại khác là hai năm, kể từ thời điểm  
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm13. Trong các dịch vụ cụ thể có pháp luật điều chỉnh  
về vấn đề này thì đối với dịch vụ chuyển phát quy định về căn cứ miễn trách nhiệm này tại  
Luật Bưu chính 2010 theo đó doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính không phải bồi  
thường thiệt hại trong trường hợp người sử dụng dịch vụ bưu chính không thực hiện đúng  
các quy định về khiếu nại, giải quyết tranh chấp. Cụ thể việc khiếu nại phải được lập thành  
văn bản, thời hiệu khiếu nại là 06 tháng, kể từ ngày kết thúc thời gian toàn trình của bưu  
gửi đối với khiếu nại về việc mất bưu gửi, chuyển phát bưu gửi chậm so với thời gian toàn  
trình đã công bố. Trường hợp doanh nghiệp không công bố thời gian toàn trình thì thời  
hiệu này được tính từ ngày sau ngày bưu gửi đó được chấp nhận một tháng, kể từ ngày bưu  
gửi được phát cho người nhận đối với khiếu nại về việc bưu gửi bị suy suyển, hư hỏng, về  
giá cước và các nội dung khác có liên quan trực tiếp đến bưu gửi.14  
Điều chỉnh dịch vụ vận tải đa phương thức quy định tại nghị định 87/2009/NĐ-CP,  
ở khoản 3 Điều 20 nghị định này quy định người kinh doanh vận tải đa phương thức không  
chịu trách nhiệm về tổn thất do mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa hoặc do việc giao trả hàng  
chậm gây nên và được coi là đã giao trả hàng hóa đủ và đúng như ghi trong chứng từ vận  
tải, nếu người nhận hàng không thông báo bằng văn bản về các mất mát, hư hỏng hàng hóa  
chậm nhất là một ngày tính từ ngày nhận hàng. Trường hợp hàng hóa bị mất mát, hư hỏng  
không thể phát hiện từ bên ngoài, thì người nhận hàng phải thông báo trong vòng sáu ngày  
13 Điều 319, Luật Thương mại 2005, luật số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005.  
14 Điều 38, Luật Bưu chính, luật số 49/2010/QH12 ngày 17/6/ 2010  
170  
kể cả ngày lễ và ngày nghỉ, sau ngày hàng hóa đã được giao trả cho người nhận hàng.  
Trường hợp hàng hóa đã được giám định theo yêu cầu của người nhận hàng hoặc người  
kinh doanh vận tải đa phương thức trước khi giao trả hàng, thì không cần thông báo bằng  
văn bản. Thông báo trong trường hợp này chỉ mang tính chất thông tin đến thương nhân về  
mất mát, hư hỏng của hàng hóa hoặc việc giao trả hàng chậm, không tương đồng với quy  
định khiếu nại như Luật Thương mại 2005, thời hạn khiếu nại và khởi kiện được quy định  
ở một điều khoản khác, trường hợp người nhận hàng không thông báo thương nhân sẽ  
không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất, mất mát, giao trả hàng chậm, nhưng khách  
hàng không mất quyền khiếu nại theo quy định.  
Ngoài quyền được miễn trách nhiệm về tổn thất đối với hàng hóa trong những  
trường hợp đã phân tích ở trên thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics còn được miễn  
trách nhiệm đối với khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễ hoặc  
thực hiện dịch vụ sai địa điểm không do lỗi của mình. Điều 40 Luật Bưu chính điều chỉnh  
dịch vụ chuyển phát cũng có quy định doanh nghiệp cung ứng dịch vụ không bồi thường  
thiệt hại gián tiếp hoặc nguồn lợi không có được do việc cung ứng dịch vụ bưu chính không  
bảo đảm chất lượng mà doanh nghiệp đã công bố.  
Các quy định trên cho thấy, chỉ có một số lĩnh vực dịch vụ như dịch vụ chuyển phát  
hay dịch vụ vận tải đa phương thức có quy định về căn cứ miễn trách nhiệm khi hết thời  
hạn luật định mà thương nhân không nhận được thông báo khiếu nại, khởi kiện trong khi  
đó có nhiều dịch vụ khác không có quy định về căn cứ miễn trách nhiệm này, mặt khác có  
nhiều lĩnh vực lại quy định các thời hạn khiếu nại, khởi kiện khác nhau và khác với thời  
hạn quy định tại Điều 237 Luật thương mại như: Luật Hàng không dân dụng Việt Nam quy  
định thời hạn khiếu nại là mười bốn ngày, kể từ ngày nhận hàng trong trường hợp thiếu  
hụt, hư hỏng hàng hóa, hai mươi mốt ngày kể từ ngày phải trả hàng trong trường hợp mất  
mát hàng hóa, hai mươi mốt ngày kể từ ngày người có quyền nhận đã nhận được hàng hóa  
trong trường hợp vận chuyển chậm, thời hiệu khởi kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại  
của người vận chuyển là hai năm kể từ ngày tàu bay đến địa điểm đế hoặc từ ngày việc vận  
chuyển bị chấm dứt, tùy thuộc vào thời điểm nào muộn nhất. Luật Giao thông đường thủy  
nội địa quy định thời hạn gửi yêu cầu bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoá là hai mươi  
ngày kể từ ngày hàng hóa được giao cho người nhận hoặc ngày mà lẽ ra hàng hoá phải  
được giao cho người nhận, thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường, mất mát, hư hỏng hàng hoá  
là một năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường. Về mặt nguyên tắc ưu  
171  
tiên áp dụng các quy định của pháp luật chuyên ngành dẫn đến trường hợp theo quy định  
của Luật Thương mại 2005 thương nhân không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất  
đối với hàng hóa do đã quá thời hạn luật định không nhận được thông báo khiếu nại, khởi  
kiện của khách hàng, nhưng theo quy định của pháp luật chuyên ngành khách hàng vẫn có  
quyền khiếu nại, khởi kiện do thời hạn khiếu nại, khởi kiện vẫn còn. Trong các trường hợp  
này theo quy định tại khoản 2 điều 4 Luật thương mại 2005 trong các lĩnh vực dịch vụ mà  
pháp luật chuyên ngành không quy định thì thời hạn khiếu nại là 14 ngày, thời hiệu khởi  
kiện là chín tháng kể từ ngày thương nhân giao hàng cho người nhận.15  
Đối với thông báo khởi kiện, quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 trong thời  
hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản  
cho nguyên đơn, bị đơn về việc Tòa án đã thụ lý vụ án16. Tương tự, Luật Trọng tài 2010  
quy định nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng  
tài không có quy định khác, trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi  
kiện, các tài liệu kèm theo và chứng từ nộp tạm ứng phí trọng tài, trung tâm trọng tài phải  
gửi cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu theo quy định17.  
Như vậy khi cơ quan giải quyết tranh chấp thụ lý vụ án thì sẽ phải thông báo cho các bên,  
hơn nữa vụ việc chỉ được cơ quan giải quyết tranh chấp giải quyết khi đã được thụ lý, do  
đó để tương thích với Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Luật Trọng tài 2010, Luật Thương  
mại 2005 nên quy định là sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics  
không nhận được thông báo về việc đã thụ lý của Tòa án hoặc thông báo đơn khởi kiện của  
Trung tâm trọng tài thương mại.  
Về nghĩa vụ thông báo cho khách hàng biết về trường hợp miễn trách nhiệm, theo  
quy định của pháp luật về các trường hợp miễn trách xảy ra thì thương nhân phải có nghĩa  
vụ thông báo cho khách hàng, để khách hàng biết được quyền lợi của mình đã bị ảnh hưởng,  
có các biện pháp và hướng xử lý thích hợp để hạn chế những thiệt hại có thể phát sinh, vì  
lẽ đó pháp luật thương mại nên quy định thương nhân phải thông báo trong một thời hạn  
hợp lý từ khi biết hoặc phải biết các trường hợp miễn trách nhiệm xảy ra hoặc có thể xảy  
ra, đồng thời quy định thiệt hại được bồi thường ở đây là thiệt hại phát sinh do việc không  
thông báo hoặc thông báo chậm trễ. Quy định này nên dựa theo tinh thần của Công ước  
15 Xem Điều 4 Luật Thương mại 2005 về Áp dụng Luật Thương mại và pháp luật có liên quan.  
16 Khoản 1, Điều 196, Bộ luật Tố tụng dân sự, luật số 92/2015/QH13, ngày 25/11/2015.  
17 Điều 32, Luật Trọng tài thương mại, luật số 54/2010/QH12, ngày 17/6/2010.  
172  
Viên năm 1980 cũng như Điều 7.1.7 Bộ nguyên tắc Unidroit theo đó nếu thông báo về sự  
tồn tại của trở ngại và ảnh hưởng của chúng đối với khả năng thực hiện của mình không  
đến tay người nhận trong khoảng thời hạn hợp lý kể từ khi bên có nghĩa vụ biết hoặc buộc  
phải biết về trở ngại, bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra do  
không nhận được thông báo18.  
Dịch vụ logistics nói chung và vấn đề miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh  
doanh dịch vụ này nói riêng được quy định trong luật thương mại và các văn bản pháp luật  
chuyên ngành khác, có thể thấy so với các quy định của pháp luật chuyên ngành được ban  
hành sau Luật Thương mại 2005, thì Luật Thương mại 2005 có nhiều điểm quy định chưa  
rõ ràng hoặc còn thiếu sót gây khó khăn cho việc áp dụng chế định miễn trách đối với  
thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics. Do đó, trên cơ sở tham khảo quy định trong các  
văn bản này cũng với quy định tại Bộ nguyên tắc Unidroit, Công ước Viên 1980, pháp luật  
thương mại nên bổ sung, sửa đổi các quy định về miễn trách đối với thương nhân kinh  
doanh dịch vụ logistics nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật thương mại điều chỉnh vấn  
đề này, cụ thể đó là việc bổ sung, sửa đổi các căn cứ miễn trách nhiệm, quy định về trách  
nhiệm thông báo trường hợp miễn trách nhiệm cho khách hàng cũng như phạm vi miễn  
trách nhiệm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Luật Thương mại, Luật số 36/2005/QH11, ngày 14/6/2005.  
2. Bộ luật Dân sự, Luật số 91/2015/QH13, ngày 24/11/2015.  
3. Bộ luật Tố tụng dân sự, luật số 92/2015/QH13, ngày 25/11/2015.  
4. Bộ Luật Hàng hải, luật số 95/2015/QH13, ngày 25/11/2015.  
5. Luật Giao thông đường thủy nội địa, luật số 23/2004/QH11, ngày 15/6/ 2004.  
18 Khoản 4, Điều 79 Công ước Viên 1980, Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế.  
173  
6. Luật Bưu chính, luật số 49/2010/QH12 ngày 17/6/ 2010.  
7. Công ước Viên 1980, Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế.  
8. Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004.  
9. Trần Quỳnh Anh (2009), Pháp luật về hợp đồng của Singapore, tạp chí luật học số  
12/2009  
10.Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2012), giáo trình Pháp luật về thương mại  
hàng hóa và dịch vụ, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam.  
11.Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh(2020), giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và  
giải quyết tranh chấp thương mại, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam.  
174  
pdf 12 trang Thùy Anh 13920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện chế định miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_che_dinh_mien_trach_nhiem_doi_voi_thuong_nhan_kin.pdf