Hoàn thiện chế định miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH MIỄN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI THƯƠNG NHÂN
KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS
ThS Nguyễn Văn Hùng1
Tóm tắt: Bài viết phân tích, đưa ra quan điểm nhằm góp phần hoàn thiện một số
vấn đề còn bất cập liên quan đến miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics, cụ thể bài viết tập trung vào các vấn đề: Miễn trách nhiệm do thỏa thuận; Do
lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền; Do thương nhân kinh doanh
dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách
hàng ủy quyền và miễn trách do thương nhân không nhận được thông báo khiếu nại, thông
báo khởi kiện trong thời hạn quy định.
Từ khóa: miễn trách nhiệm, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, lỗi của khách
hàng, khiếu nại, khởi kiện, Luật Thương mại 2005.
Abstract: The article analyzes and gives views to contribute to the completion of
several inadequacies related to liability exemption for traders providing logistics services.
The article focuses on the following issues: Liability exemption obligations by agreement;
Due to the fault of the customer or the person authorized by the customer; Due to the trader
providing logistics services strictly following the instructions of the customer or the person
authorized by the customer and is relieved of responsibility because the trader has not
received the notice of complaint or notice of lawsuit within the prescribed time limit.
Keywords: liability exemption, traders providing logistics services, customer
errors, complaints, lawsuits, Commercial Law 2005.
Trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam không có quy phạm định nghĩa
khái niệm miễn trách nhiệm mà chỉ quy định về những trường hợp cũng như điều kiện để
thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được hưởng quyền này, từ những quy định này
1 Khoa Luật thương mại, Trường Đại học Luật TP.HCM
163
có thể hiểu miễn trách nhiệm là trường hợp mà thương nhân không phải chịu những hậu
quả bất lợi vì những tổn thất đối với hàng hóa do những hành vi vi phạm của mình phát
sinh trong các trường hợp mà pháp luật quy định.Về nguyên tắc khi tổn thất hàng hóa phát
sinh hay khi có hành vi vi phạm xảy ra thương nhân là bên cung ứng dịch vụ sẽ phải chịu
trách nhiệm bồi thường cho bên khách hàng, tuy nhiên trong một số trường hợp khi đáp
ứng đủ điều kiện mà pháp luật đặt ra thương nhân sẽ được miễn trách nhiệm, vấn đề này
thể hiện tinh thần thiện chí, hợp tác, chia sẻ rủi ro giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ
pháp luật, tạo ra vị thế bình đẳng về quyền lợi giữa các bên. Theo quy định của Luật Thương
mại 2005 thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc được miễn trách nhiệm
do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng theo quy định tại điều 294 như các nhà cung cấp dịch vụ
khác, bên cung ứng dịch vụ logistics còn được miễn trách nhiệm theo quy định tại điều
2372. Tuy nhiên, các quy định về miễn trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh dịch vụ
logistics trong hệ thống pháp luật còn được quy định ở các văn bản khác nhau tùy vào từng
dịch vụ cụ thể mà thương nhân cung cấp, việc này gây khó khăn cho các chủ thể trong việc
bảo vệ quyền lợi của mình. Ngoài ra những quy định này trong một số trường hợp còn khá
trừu tượng, chưa rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu, còn nhiều bất cập, không phù hợp với
điều kiện thực tiễn gây khó khăn trong việc áp dụng chế định này.
1. Miễn trách nhiệm do các bên đã thỏa thuận
Điều kiện miễn trách nhiệm này dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận
trong hoạt động thương mại, khi các bên thỏa thuận với nhau về việc miễn trách nhiệm thì
có thể hiểu khách hàng đã chấp nhận hành vi vi phạm của thương nhân kinh doanh dịch
vụ, từ bỏ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của mình và nếu khách hàng là bên bị vi phạm
đã không yêu cầu bên kia phải bù đắp cho mình thì pháp luật cũng không có căn cứ để yêu
cầu thương nhân phải bồi thường, việc bồi thường trong trường hợp này không đạt được
mục đích khi đặt ra quy định, đồng thời còn tạo thêm gánh nặng không cần thiết cho bên
vi phạm. Vấn đề cơ bản để thỏa thuận miễn trách được pháp luật bảo hộ là các bên phải tự
do, tự nguyện trong thỏa thuận, không bên nào được áp đặt, cưỡng ép, đe dọa bên nào,
đồng thời không được trái với các nguyên tắc chung của pháp luật hoặc trái với thuần phong
2 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2012), giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ, Nhà xuất
bản Hồng Đức, tr 107.
164
mỹ tục và đạo đức xã hội. Căn cứ vào nội dung quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 294 Luật
Thương mại 2005 thì thời điểm các bên thỏa thuận có thể là khi giao kết hợp đồng, khi
thực hiện hợp đồng nhưng phải trước khi trường hợp được miễn trách nhiệm xảy ra trên
thực tế. Bên cạnh đó về mặt hình thức của thỏa thuận, pháp luật thương mại không đặt ra
quy định cụ thể, do đó thỏa thuận này có thể bằng văn bản, bằng lời nói hay hành vi cụ thể
và các bên có thể thỏa thuận miễn trách bằng một điều khoản trong hợp đồng hay phụ lục
hợp đồng. Như vậy, pháp luật thương mại trao quyền thỏa thuận cho các bên mà không đặt
ra bất cứ một ngoại lệ nào, chỉ cần đáp ứng các điều kiện như đã phân tích thì thỏa thuận
của thương nhân và khách hàng về việc miễn trách nhiệm sẽ được pháp luật bảo hộ. Việc
không đặt ra điều kiện thỏa thuận phải đảm bảo sự cân bằng lợi ích và hợp lý giữa các bên
sẽ có khả năng dẫn đến phát sinh những tình huống nội dung thỏa thuận bất hợp lý, mang
tính áp đặt đối với một bên, như trường hợp thương nhân có ưu thế hơn đưa ra những thỏa
thuận mở rộng các trường hợp miễn trách nhiệm một cách bất công với khách hàng, hay
trường hợp khách hàng có ưu thế hơn lại đưa ra những thỏa thuận thu hẹp những trường
hợp miễn trách nhiệm một cách bất hợp lý. Do đó để đảm bảo được ý nghĩa của quy định
miễn trách nhiệm cũng như đảm bảo lẽ công bằng trong hệ thống pháp luật nói chung và
luật thương mại nói riêng thì pháp luật thương mại nên quy định trong trường hợp những
thỏa thuận của các bên là không công bằng hoặc mang tính áp đặt bất hợp lý thì thỏa thuận
đó bị xem là vô hiệu. Quy định này sẽ tạo ra sự tương thích với pháp luật cạnh tranh trong
quy định về việc chống lại các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc
quyền, nhằm mục đích không để cho các doanh nghiệp có quyền lực thị trường bóp méo,
triệt tiêu cạnh tranh, bóc lột người tiêu dùng3. Ngoài ra nên đặt ra một số các trường hợp
ngoại lệ mà thỏa thuận của các bên phải loại trừ ví dụ như khi tổn thất của hàng hóa là do
hành vi vi phạm một cách cố ý của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, việc loại trừ
này không những đảm bảo đảm sự công bằng trong quan hệ hợp đồng mà còn đảm bảo
nguyên tắc thiện chí trung thực khi xác lập, thực hiện các quan hệ pháp luật4. Pháp luật của
các quốc gia như Anh hay Singapore cũng có các quy định tương tự khi ban hành Luật về
điều khoản không công bằng điều chỉnh những điều khoản có ảnh hưởng đến trách nhiệm
pháp lý do vi phạm nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh nhằm bảo vệ người tham gia hợp
đồng với tư cách người tiêu dùng5. Ngoài ra quy định thời điểm mà các bên thỏa thuận về
3 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2020), giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương
mại, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam, tr 206
4 Khoản 3, Điều 3, Bộ luật Dân sự, luật số 91/2015/QH13, ngày 24/11/ 2015.
5 Trần Quỳnh Anh (2009), Pháp luật về hợp đồng của Singapore, tạp chí luật học số 12/2009, tr.48.
165
miễn trách nhiệm phải tồn tại trước khi có hành vi vi phạm, điều này có nghĩa là việc các
bên thỏa thuận miễn trách sau khi xảy ra hành vi vi phạm dẫn đến tổn thất là không phù
hợp với quy định của pháp luật. Quy định này có phần cứng nhắc, thiếu tính linh hoạt trong
hoạt động thương mại, thiết nghĩ trong trường hợp thương nhân đã có hành vi vi phạm đạt
được thỏa thuận miễn trách nhiệm với khách hàng trong bất kỳ thời điểm nào, dù là trước
hay sau khi xảy ra vi phạm và tổn thất thì pháp luật cũng nên tôn trọng và bảo vệ thỏa thuận
đó.
2. Miễn trách nhiệm do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy
quyền.
Theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 237 Luật Thương mại 2005 thì trong trường
hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics vi phạm hợp đồng dẫn đến việc hàng hóa bị
tổn thất hoặc hư hỏng nhưng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tổn thất là do lỗi của khách
hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền thì được miễn trách nhiệm, yếu tố lỗi ở
đây được hiểu là bao gồm cả lỗi cố ý và lỗi vô ý. Tuy nhiên điều luật này chỉ quy định
thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics được miễn trách nhiệm khi tổn thất do lỗi của
khách hàng và người được khách hàng ủy quyền mà chưa phân định rõ trách nhiệm của
các bên trong trường hợp cả hai bên, bên khách hàng cũng như bên cung ứng dịch vụ đều
có lỗi làm cho hàng hóa bị tổn thất. Trong khi đó pháp luật chuyên ngành quy định về căn
cứ miễn trách nhiệm này đối với từng dịch vụ cụ thể như sau: đối với dịch vụ vận tải hàng
hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận
tải biển, dịch vụ vận tải đa phương thức đều quy định tương tự luật thương mại 2005, tuy
nhiên tùy từng dịch vụ khác nhau mà pháp luật quy định các chủ thể có lỗi khác nhau như
theo quy định của Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004 được sửa đổi, bổ sung
năm 2014 chủ thể có lỗi có thể là người thuê vận tải, người nhận hàng, người áp tải hàng
hóa6, trong khi Bộ luật Hàng hải 2015 quy định chủ thể có lỗi bao gồm người giao hàng,
chủ sở hữu hàng, đại lý hoặc đại diện của họ7. Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa
phương thức lại quy định chủ thể có lỗi là người gửi hàng, người nhận hàng, người được
người gửi hàng, người nhận hàng ủy quyền hoặc đại lý của họ, trong khi đó khác với các
quy định trên, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt lại không quy định
6 Điểm d, khản 1, Điều 94, Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004(được sửa đổi bổ sung năm 2014).
7 Điều 156, Bộ Luật Hàng hải Việt Nam, luật số 95/2015/QH13 ngày 25/11/2015.
166
một cách trực tiếp về trường hợp miễn trách nhiệm này. Đối với dịch vụ chuyển phát và
dịch vụ vận tải đường hàng không theo quy định tại Luật Hàng không dân dụng Việt Nam
năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Luật Bưu chính năm 2010 thì thương nhân
cung ứng dịch vụ được miễn một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối
với hàng hóa tương ứng với mức độ thiệt hại do lỗi của khách hàng8, như vậy trong hai loại
hình dịch vụ này thương nhân chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng đối với phần thiệt
hại do lỗi của mình gây ra. Luật Hàng không dân dụng Việt Nam không chỉ miễn trách
nhiệm cho thương nhân đối với phần thiệt hại do lỗi của người gửi mà còn đối với phần
thiệt hại do lỗi của người nhận hàng hóa, người áp tải được người gửi hàng hoặc người
nhận hàng cử đi kèm hàng hóa. Tuy nhiên thương nhân cung ứng dịch vụ vận tải không
phải chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt
hại, như vậy quy định này đã phân định rõ ràng trách nhiệm của các bên đối với phần thiệt
hại do lỗi của mình.
Trong khi đó, Luật Thương mại 2005 quy định phải là trường hợp hoàn toàn do lỗi
của khách hàng, thương nhân cung ứng dịch vụ mới được miễn trách nhiệm, quy định này
đã thiếu đi trường hợp mỗi bên đều có một phần lỗi với hành vi vi phạm dẫn đến tổn thất
hàng hóa hoặc trường hợp có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính chủ yếu nhất
là do lỗi của khách hàng, trong khi thương nhân cung ứng dịch vụ có lỗi nhưng không phải
là nguyên nhân chính dẫn đến tổn thất hàng hóa, vậy nên quy định thương nhân được miễn
trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy
quyền và phải có sự phân định trách nhiệm của các bên đối với phần thiệt hại tương ứng
với phần lỗi của mỗi bên. Tham chiếu quy định trong Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng
thương mại quốc tế 2004 thì khi thiệt hại xảy ra một phần là do bên bị thiệt hại gây ra bởi
hành động hoặc bất tác vi, hoặc thiệt hại do một sự kiện khách quan mà bên bị thiệt hại
phải chịu rủi ro đối với những sự kiện đó, số tiền bồi thường sẽ được giảm tương ứng với
mức độ thiệt hại mà các yếu tố trên có ảnh hưởng, có xem xét đến hành vi của mỗi bên
trong hợp đồng9, hoặc theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 thì trường hợp vi phạm nghĩa
vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường
thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình10. Bên cạnh đó là trường hợp hành vi vi phạm
8 Khoản 1, Điiều 165, luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 và khoản 2, Điều 41, Luật Bưu chính năm
2010.
9 Điều 7.4.7, Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004.
10 Điều 363, Bộ luật Dân sự, Luật số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015.
167
của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xuất phát từ lỗi của bên thứ ba và trong
trường hợp bên thứ ba cũng được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của mình theo
quy định của pháp luật, bên thứ ba ở đây là một chủ thể độc lập với khách hàng và thương
nhân kinh doanh dịch vụ logistics, đó có thể là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
khác mà thương nhân thuê lại. Trường hợp này bên thứ ba có lỗi nhưng lại thuộc các trường
hợp miễn trách nhiệm, thương nhân là chủ thể trực tiếp thiết lập quan hệ với bên thứ ba
không thể yêu cầu bên thứ ba bồi thường, mặt khác thương nhân kinh doanh dịch vụ
logistics không có lỗi, không thể kiểm soát được vấn đề này nên không thể yêu cầu thương
nhân phải chịu trách nhiệm. Tham chiếu quy định của Công ước Viên năm 1980 về hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do
người thứ ba mà họ nhờ thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không thực hiện
điều đó thì bên ấy được miễn trách nhiệm trong trường hợp bên thứ ba đủ điều kiện được
miễn trách nhiệm do trở khách quan11. Quy định về miễn trách đối với thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistics cũng nên bổ sung quy định thương nhân được miễn trách nhiệm
khi hành vi vi phạm dẫn đến tổn thất hàng hóa do hành vi vi phạm của bên thứ ba trong
trường hợp bên thứ ba thuộc các trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định.
3. Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo
những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền.
Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 237 Luật Thương mại 2005 thì trong quá
trình thực hiện hợp đồng thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có nghĩa vụ phải tuân
theo chỉ dẫn của khách hàng, khách hàng là chủ thể chi phối đến hoạt động mà thương nhân
thực hiện, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không có toàn quyền trong việc quyết
định đối với những tình huống phát sinh do đó khi thực hiện theo những chỉ dẫn này dẫn
đến tổn thất hàng hóa phát sinh thì thương nhân không phải chịu trách nhiệm.
Căn cứ vào quy định miễn trách nhiệm này thì chỉ cần thương nhân thực hiện đúng
những chỉ dẫn của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền thì sẽ được miễn
trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa. Quy định này có thể làm phát sinh trường hợp thương
nhân bất chấp tổn thất mà thực hiện theo những chỉ dẫn của khách hàng như khi có lý do
chính đáng vì lợi ích của khách hàng phải thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng để
11 Điểm b, khoản 2, Điều 79 Công ước Viên 1980, Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế.
168
tránh tổn thất nhưng thương nhân không thông báo cũng không thực hiện hoặc khi nhận
được chỉ dẫn của khách hàng, thương nhân biết hoặc có cơ sở để biết về những tổn thất có
thể xảy ra khi thực hiện theo chỉ dẫn đó, nhưng vẫn thực hiện dẫn đến tổn thất hàng hóa.
Tuy rằng trong các quy định về nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
trong quá trình thực hiện hợp đồng có nghĩa vụ làm khác với chỉ dẫn của khách hàng nếu
có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng, tuy nhiên quy định này lại có tính tùy nghi
không phải là một nghĩa vụ buộc thương nhân phải thực hiện.12 Với mục đích đảm bảo
quyền lợi cho khách hàng Luật Thương mại 2005 nên quy định trong trường hợp thương
nhân biết được hoặc dự đoán được chỉ dẫn của khách hàng có thể làm phát sinh tổn thất
hàng hóa, đặt ra trách nhiệm thương nhân phải thông báo cho khách hàng, nếu khách hàng
vẫn yêu cầu thực hiện thì khi tổn thất xảy ra thương nhân sẽ không phải gánh chịu trách
nhiệm, ngược lại trong trường hợp thương nhân biết nhưng không thông báo cũng như
không xin ý kiến của khách hàng thì thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm với tổn thất
xảy ra. Quy định này có ý nghĩa trong việc ràng buộc nghĩa vụ của bên kinh doanh dịch vụ
logistics, với tư cách là một bên có chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh có điều kiện.
4. Thương nhân không nhận được thông báo khiếu nại, thông báo khởi kiện trong
thời hạn quy định.
Theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 237 Luật Thương mại 2005 thì thương
nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn
14 ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận
sẽ được miễn trách nhiệm đối với những tổn thất hàng hóa. Khiếu nại trong hoạt động
thương mại là việc bên bị vi phạm thông báo cho bên vi phạm về những nghĩa vụ hợp đồng
của bên vi phạm, đồng thời yêu cầu bên vi phạm khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm
một cách kịp thời, trong trường hợp hết thời hiệu khiếu nại mà bên bị vi phạm không khiếu
nại thì được coi là chấp nhận vi phạm của bên vi phạm đồng thời mất quyền viện dẫn các
vi phạm của bên vi phạm khi yêu cầu giải quyết tranh chấp tại các cơ quan tài phán.
Để yêu cầu thương nhân chịu trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa, bên khiếu nại
phải gửi thông báo khiếu nại và thương nhân phải nhận được thông báo trong thời hạn 14
ngày kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận, người
12 Điểm b, khoản 1, Điều 235, Luật Thương mại 2005, Luật số 36/2005/QH11, ngày 14/6/2005.
169
nhận trong trường hợp này có thể là chủ sở hữu hàng hóa, bên mua hàng, đại lý và đại diện
của họ, có thể đồng thời hoặc không đồng thời là khách hàng. Nội dung quy định tại điều
237 Luật Thương mại 2005 không quy định cụ thể về nội dung khiếu nại do đó có thể hiểu
tất cả nội dung khiếu nại có thể về số lượng, về chất lượng và về các vi phạm khác đều
phải thực hiện trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
giao hàng cho người nhận.Về hình thức của thông báo khiếu nại điều luật này cũng không
có quy định cụ thể, do đó có thể là thông báo dưới dạng văn bản hoặc các hình thức khác.
Thương nhân kinh doanh dịch vụ cũng được miễn trách nếu như sau khi bị khiếu nại,
thương nhân kinh doanh dịch vụ không nhận được thông báo về việc bị khởi kiện tại Trọng
tài hoặc Tòa án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng. Căn cứ miễn trách nhiệm
này cũng là một trường hợp ngoại lệ về thời hiệu khởi kiện, bởi lẽ theo quy định thời hiệu
khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại khác là hai năm, kể từ thời điểm
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm13. Trong các dịch vụ cụ thể có pháp luật điều chỉnh
về vấn đề này thì đối với dịch vụ chuyển phát quy định về căn cứ miễn trách nhiệm này tại
Luật Bưu chính 2010 theo đó doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính không phải bồi
thường thiệt hại trong trường hợp người sử dụng dịch vụ bưu chính không thực hiện đúng
các quy định về khiếu nại, giải quyết tranh chấp. Cụ thể việc khiếu nại phải được lập thành
văn bản, thời hiệu khiếu nại là 06 tháng, kể từ ngày kết thúc thời gian toàn trình của bưu
gửi đối với khiếu nại về việc mất bưu gửi, chuyển phát bưu gửi chậm so với thời gian toàn
trình đã công bố. Trường hợp doanh nghiệp không công bố thời gian toàn trình thì thời
hiệu này được tính từ ngày sau ngày bưu gửi đó được chấp nhận một tháng, kể từ ngày bưu
gửi được phát cho người nhận đối với khiếu nại về việc bưu gửi bị suy suyển, hư hỏng, về
giá cước và các nội dung khác có liên quan trực tiếp đến bưu gửi.14
Điều chỉnh dịch vụ vận tải đa phương thức quy định tại nghị định 87/2009/NĐ-CP,
ở khoản 3 Điều 20 nghị định này quy định người kinh doanh vận tải đa phương thức không
chịu trách nhiệm về tổn thất do mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa hoặc do việc giao trả hàng
chậm gây nên và được coi là đã giao trả hàng hóa đủ và đúng như ghi trong chứng từ vận
tải, nếu người nhận hàng không thông báo bằng văn bản về các mất mát, hư hỏng hàng hóa
chậm nhất là một ngày tính từ ngày nhận hàng. Trường hợp hàng hóa bị mất mát, hư hỏng
không thể phát hiện từ bên ngoài, thì người nhận hàng phải thông báo trong vòng sáu ngày
13 Điều 319, Luật Thương mại 2005, luật số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005.
14 Điều 38, Luật Bưu chính, luật số 49/2010/QH12 ngày 17/6/ 2010
170
kể cả ngày lễ và ngày nghỉ, sau ngày hàng hóa đã được giao trả cho người nhận hàng.
Trường hợp hàng hóa đã được giám định theo yêu cầu của người nhận hàng hoặc người
kinh doanh vận tải đa phương thức trước khi giao trả hàng, thì không cần thông báo bằng
văn bản. Thông báo trong trường hợp này chỉ mang tính chất thông tin đến thương nhân về
mất mát, hư hỏng của hàng hóa hoặc việc giao trả hàng chậm, không tương đồng với quy
định khiếu nại như Luật Thương mại 2005, thời hạn khiếu nại và khởi kiện được quy định
ở một điều khoản khác, trường hợp người nhận hàng không thông báo thương nhân sẽ
không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất, mất mát, giao trả hàng chậm, nhưng khách
hàng không mất quyền khiếu nại theo quy định.
Ngoài quyền được miễn trách nhiệm về tổn thất đối với hàng hóa trong những
trường hợp đã phân tích ở trên thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics còn được miễn
trách nhiệm đối với khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễ hoặc
thực hiện dịch vụ sai địa điểm không do lỗi của mình. Điều 40 Luật Bưu chính điều chỉnh
dịch vụ chuyển phát cũng có quy định doanh nghiệp cung ứng dịch vụ không bồi thường
thiệt hại gián tiếp hoặc nguồn lợi không có được do việc cung ứng dịch vụ bưu chính không
bảo đảm chất lượng mà doanh nghiệp đã công bố.
Các quy định trên cho thấy, chỉ có một số lĩnh vực dịch vụ như dịch vụ chuyển phát
hay dịch vụ vận tải đa phương thức có quy định về căn cứ miễn trách nhiệm khi hết thời
hạn luật định mà thương nhân không nhận được thông báo khiếu nại, khởi kiện trong khi
đó có nhiều dịch vụ khác không có quy định về căn cứ miễn trách nhiệm này, mặt khác có
nhiều lĩnh vực lại quy định các thời hạn khiếu nại, khởi kiện khác nhau và khác với thời
hạn quy định tại Điều 237 Luật thương mại như: Luật Hàng không dân dụng Việt Nam quy
định thời hạn khiếu nại là mười bốn ngày, kể từ ngày nhận hàng trong trường hợp thiếu
hụt, hư hỏng hàng hóa, hai mươi mốt ngày kể từ ngày phải trả hàng trong trường hợp mất
mát hàng hóa, hai mươi mốt ngày kể từ ngày người có quyền nhận đã nhận được hàng hóa
trong trường hợp vận chuyển chậm, thời hiệu khởi kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
của người vận chuyển là hai năm kể từ ngày tàu bay đến địa điểm đế hoặc từ ngày việc vận
chuyển bị chấm dứt, tùy thuộc vào thời điểm nào muộn nhất. Luật Giao thông đường thủy
nội địa quy định thời hạn gửi yêu cầu bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoá là hai mươi
ngày kể từ ngày hàng hóa được giao cho người nhận hoặc ngày mà lẽ ra hàng hoá phải
được giao cho người nhận, thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường, mất mát, hư hỏng hàng hoá
là một năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường. Về mặt nguyên tắc ưu
171
tiên áp dụng các quy định của pháp luật chuyên ngành dẫn đến trường hợp theo quy định
của Luật Thương mại 2005 thương nhân không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất
đối với hàng hóa do đã quá thời hạn luật định không nhận được thông báo khiếu nại, khởi
kiện của khách hàng, nhưng theo quy định của pháp luật chuyên ngành khách hàng vẫn có
quyền khiếu nại, khởi kiện do thời hạn khiếu nại, khởi kiện vẫn còn. Trong các trường hợp
này theo quy định tại khoản 2 điều 4 Luật thương mại 2005 trong các lĩnh vực dịch vụ mà
pháp luật chuyên ngành không quy định thì thời hạn khiếu nại là 14 ngày, thời hiệu khởi
kiện là chín tháng kể từ ngày thương nhân giao hàng cho người nhận.15
Đối với thông báo khởi kiện, quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 trong thời
hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản
cho nguyên đơn, bị đơn về việc Tòa án đã thụ lý vụ án16. Tương tự, Luật Trọng tài 2010
quy định nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng
tài không có quy định khác, trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi
kiện, các tài liệu kèm theo và chứng từ nộp tạm ứng phí trọng tài, trung tâm trọng tài phải
gửi cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu theo quy định17.
Như vậy khi cơ quan giải quyết tranh chấp thụ lý vụ án thì sẽ phải thông báo cho các bên,
hơn nữa vụ việc chỉ được cơ quan giải quyết tranh chấp giải quyết khi đã được thụ lý, do
đó để tương thích với Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Luật Trọng tài 2010, Luật Thương
mại 2005 nên quy định là sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics
không nhận được thông báo về việc đã thụ lý của Tòa án hoặc thông báo đơn khởi kiện của
Trung tâm trọng tài thương mại.
Về nghĩa vụ thông báo cho khách hàng biết về trường hợp miễn trách nhiệm, theo
quy định của pháp luật về các trường hợp miễn trách xảy ra thì thương nhân phải có nghĩa
vụ thông báo cho khách hàng, để khách hàng biết được quyền lợi của mình đã bị ảnh hưởng,
có các biện pháp và hướng xử lý thích hợp để hạn chế những thiệt hại có thể phát sinh, vì
lẽ đó pháp luật thương mại nên quy định thương nhân phải thông báo trong một thời hạn
hợp lý từ khi biết hoặc phải biết các trường hợp miễn trách nhiệm xảy ra hoặc có thể xảy
ra, đồng thời quy định thiệt hại được bồi thường ở đây là thiệt hại phát sinh do việc không
thông báo hoặc thông báo chậm trễ. Quy định này nên dựa theo tinh thần của Công ước
15 Xem Điều 4 Luật Thương mại 2005 về Áp dụng Luật Thương mại và pháp luật có liên quan.
16 Khoản 1, Điều 196, Bộ luật Tố tụng dân sự, luật số 92/2015/QH13, ngày 25/11/2015.
17 Điều 32, Luật Trọng tài thương mại, luật số 54/2010/QH12, ngày 17/6/2010.
172
Viên năm 1980 cũng như Điều 7.1.7 Bộ nguyên tắc Unidroit theo đó nếu thông báo về sự
tồn tại của trở ngại và ảnh hưởng của chúng đối với khả năng thực hiện của mình không
đến tay người nhận trong khoảng thời hạn hợp lý kể từ khi bên có nghĩa vụ biết hoặc buộc
phải biết về trở ngại, bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra do
không nhận được thông báo18.
Dịch vụ logistics nói chung và vấn đề miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh
doanh dịch vụ này nói riêng được quy định trong luật thương mại và các văn bản pháp luật
chuyên ngành khác, có thể thấy so với các quy định của pháp luật chuyên ngành được ban
hành sau Luật Thương mại 2005, thì Luật Thương mại 2005 có nhiều điểm quy định chưa
rõ ràng hoặc còn thiếu sót gây khó khăn cho việc áp dụng chế định miễn trách đối với
thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics. Do đó, trên cơ sở tham khảo quy định trong các
văn bản này cũng với quy định tại Bộ nguyên tắc Unidroit, Công ước Viên 1980, pháp luật
thương mại nên bổ sung, sửa đổi các quy định về miễn trách đối với thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistics nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật thương mại điều chỉnh vấn
đề này, cụ thể đó là việc bổ sung, sửa đổi các căn cứ miễn trách nhiệm, quy định về trách
nhiệm thông báo trường hợp miễn trách nhiệm cho khách hàng cũng như phạm vi miễn
trách nhiệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Thương mại, Luật số 36/2005/QH11, ngày 14/6/2005.
2. Bộ luật Dân sự, Luật số 91/2015/QH13, ngày 24/11/2015.
3. Bộ luật Tố tụng dân sự, luật số 92/2015/QH13, ngày 25/11/2015.
4. Bộ Luật Hàng hải, luật số 95/2015/QH13, ngày 25/11/2015.
5. Luật Giao thông đường thủy nội địa, luật số 23/2004/QH11, ngày 15/6/ 2004.
18 Khoản 4, Điều 79 Công ước Viên 1980, Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế.
173
6. Luật Bưu chính, luật số 49/2010/QH12 ngày 17/6/ 2010.
7. Công ước Viên 1980, Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế.
8. Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004.
9. Trần Quỳnh Anh (2009), Pháp luật về hợp đồng của Singapore, tạp chí luật học số
12/2009
10.Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2012), giáo trình Pháp luật về thương mại
hàng hóa và dịch vụ, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam.
11.Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh(2020), giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và
giải quyết tranh chấp thương mại, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam.
174
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện chế định miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_che_dinh_mien_trach_nhiem_doi_voi_thuong_nhan_kin.pdf

