Hoàn thiện quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
hoàn ThiỆn quy định của pháp luậT  
về quẢn lý, sử dụng đấT Tại các nông, lâm Trường1  
Lê Hải Đường*  
Đỗ Tiến Dũng**  
Võ Thị Hồng Lan***  
*TS.-Phó-Viện-trưởng-Viện-Nghiên-cứu-Lập-pháp  
**-TS.-Viện-Nghiên-cứu-lập-pháp  
***-ThS.-Viện-Nghiên-cứu-lập-pháp  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Đất nông, lâm trường; công ty  
nông, lâm nghiệp.  
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, các nông, lâm trường  
đã có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế -  
xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, làm thay đổi diện mạo khu vực  
nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng  
bào dân tộc cũng như bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã  
hội trên địa bàn khu vực nông thôn, miền núi; giải quyết việc làm,  
cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả  
đạt được, hoạt động của các nông, lâm trường cũng đã bộc lộ  
những hạn chế, bất cập, đặc biệt là trong quản lý, sử dụng đất đai.  
Vì vậy, cùng với việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới nội dung, phương  
thức hoạt động của các nông, lâm trường thì cần hoàn thiện quy  
định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 03/11/2020  
: 14/11/2020  
: 19/11/2020  
Article Infomation:  
Key words: Agricultural and forestry  
land; agriculture and forestry companies  
Article History:  
Abstract:  
Received  
Edited  
: 03 Nov. 2020  
: 14 Nov. 2020  
: 19 Nov. 2020  
Through a time of formation and development, the agricultural and  
forestry farms have provided with positive contributions to socio-  
economic developments, infrastructure, and changing the  
appearance of rural areas, mountainous areas, isolated areas, border  
areas and ethnic minorities as well as ensuring political stability,  
social order and safety in rural and mountainous areas; job creation,  
improvement of people’s life. However, in addition to the results  
achieved, the operations of the agricultural and forestry farms have  
also revealed their shortcomings, especially in land management  
and use. Therefore, along with the continued arrangement and  
renewal of the modality and methods of operation of the  
agricultural and forestry farms, it is necessary to improve the legal  
regulations on land management and use in agricultural and  
forestry farms.  
Approved  
1
Bài viết này sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Pháp luật về quản lý và  
sử dụng đất tại nông, lâm trường - Thực trạng và giải pháp" do TS. Lê Hải Đường làm Chủ nhiệm.  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
27  
Số 22 (422) - T11/2020  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
1. Khái lược quá trình hình thành, phát  
triển của pháp luật về quản lý, sử dụng  
đất tại các nông, lâm trường (nay là các  
Công ty nông, lâm nghiệp)  
nội dung, phương thức hoạt động các NLT  
theo Nghị định số 388/1991/HĐBT, đáp ứng  
yêu cầu công cuộc “đổi mới”3; Giai đoạn  
2004 - 2013, tập trung điều chỉnh các quan hệ  
nhằm thực hiện nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, đổi  
mới và phát triển NLT theo tinh thần Nghị  
quyết số 28/NQ-TW4; Giai đoạn 2014 đến  
nay, tiếp tục tập trung điều chỉnh các quan hệ  
nhằm sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao  
hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm  
nghiệp (NLN) theo Nghị quyết số  
30-NQ/TW. Nhìn chung, pháp luật về quản  
lý, sử dụng đất tại các NLT đã từng bước  
được xây dựng, hoàn thiện; trong từng giai  
đoạn, thời kỳ, đã cơ bản đáp ứng yêu cầu,  
nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai cũng  
như định hướng, mục tiêu phát triển của các  
NLT. Đến nay, pháp luật về quản lý, sử dụng  
đất tại các NLT đã tương đối đầy đủ, dần  
mang tính hệ thống; tính toàn diện, thống  
nhất, cụ thể, khả thi ngày càng được cải thiện;  
góp phần nhất định trong kết quả sắp xếp, đổi  
mới về tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt  
động của các NLT và trong quản lý, sử dụng  
nguồn tài nguyên đất tại các NLT. Đến tháng  
12/2014, các công ty nông, lâm nghiệp đã bàn  
giao về cho địa phương 80.468 ha còn  
7.916.366 ha đất do các công ty nông, lâm  
nghiệp, ban quản lý rừng, vườn quốc gia, khu  
bảo tồn thiên nhiên quản lý5. Theo phương án  
tổng thể được duyệt, sau sắp xếp, các công ty  
nông, lâm nghiệp tiếp tục quản lý, sử dụng  
1.858.040 ha, gồm 1.836.857 ha đất nông  
nghiệp, 21.183 ha đất phi nông nghiệp; giao  
Các nông, lâm trường quốc doanh (sau  
đây gọi tắt là NLT) được hình thành từ sau  
hòa bình lập lại ở Miền Bắc trong những năm  
1955. Trải qua 65 năm hình thành, phát triển  
của các NLT thì các quy định của pháp luật  
về quản lý, sử dụng đất tại các NLT cùng dần  
được hình thành, có sự điều chỉnh và hoàn  
thiện hơn; từ đó, tạo cơ sở pháp lý ngày càng  
vững chắc để Nhà nước giao đất, xác lập  
quyền về tư liệu sản xuất cho các NLT và tổ  
chức sản xuất, kinh doanh, thực hiện các chức  
năng, nhiệm vụ được giao, có những đóng  
góp quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh  
tế - xã hội của đất nước. Có thể khái quát hoá  
nội dung, chính sách cơ bản của pháp luật về  
quản lý, sử dụng đất tại NLT qua các giai  
đoạn như sau: Giai đoạn 1955-1975, tập  
trung điều chỉnh các quan hệ nhằm thực hiện  
nhiệm vụ chủ yếu của các NLT là khai hoang,  
phục hóa đất đai, trồng rừng và từng bước  
phát triển kinh tế theo mô hình kế hoạch hoá  
tập trung, lao động tập thể; Giai đoaṇ 1976-  
1986, tập trung điều chỉnh các quan hệ nhằm  
đẩy mạnh việc giao đất cho các NLT, từ đó tổ  
chức sản xuất, kinh doanh thúc đẩy kinh tế  
quốc doanh và phổ biến phương thức sản xuất  
mới theo định hướng xây dựng Chủ nghĩa xã  
hội trên phạm vi toàn quốc2; Giai đoạn 1987-  
2003, tập trung điều chỉnh các quan hệ nhằm  
thực hiện nhiệm vụ đăng ký, sắp xếp, đổi mới  
2 Các NLT phát triển mạnh mẽ, cả về quy mô và số lượng, phân bố rộng khắp cả nước; có nhiều đóng góp  
tích cực trên các mặt phát triển kinh tế - xã hội. Với 870 đơn vị, được Nhà nước giao quản lý 7,5 triệu ha  
đất, bằng 23,2% diện tích tự nhiên của cả nước, trong đó gồm 457 nông trường với 1,2 triệu ha; 413 lâm  
trường với 6,3 triệu ha.  
3 Sau sắp xếp lại, còn 672 NLT, trong đó có 314 nông trường, 368 lâm trường.  
4 Kết quả sắp xếp, đến tháng 12/2012, cả nước có 653 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng,  
vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, bao gồm 200 công ty nông nghiệp, 164 công ty lâm nghiệp, 210  
ban quản lý rừng, 79 vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; và cả 266 đơn vị, tổ chức không thuộc diện  
thực hiện sắp xếp theo Nghị quyết số 28-NQ/TW; được Nhà nước giao quản lý, sử dụng gần 8 triệu ha đất.  
5 Báo cáo số 958/BC – UBTVQH13 ngày 16/10/2015 về Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp  
luật về quản lý và sử dụng đất đai tại các NLT quốc doanh giai đoạn 2004 – 2014.  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
28  
Số 22 (422) - T11/2020  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
về địa phương 371.561 ha, gồm 355.931 ha  
đất nông nghiệp, 15.630 ha đất phi nông  
nghiệp. Trong diện tích đất đã giao và tiếp tục  
giao về địa phương theo Nghị định số  
118/2014/NĐ-CP, có 1.411/1.715 ha đất cho  
thuê, cho mượn, 97.648/141.113 ha đất bị lấn  
chiếm, 17.607/25.970 ha đất tranh chấp,  
10.204/10.886 ha đất cấp trùng,  
12.758/40.636 ha đất liên doanh liên kết và  
75.852 ha/557.494 ha đất giao khoán6. Cùng  
với đó, kết quả thực hiện về sắp xếp, đổi mới  
mô hình hoạt động cũng đạt những kết quả  
tích cực7.  
quản lý, sử dụng đất tại các NLT chủ yếu ở  
tầm dưới luật, do đó giá trị pháp lý nhìn  
chung còn thấp. Ngoại trừ một vài quy định  
về quản lý, sử dụng đất tại các NLT trong  
Luật đất đai, Luật Lâm nghiệp thì hầu hết  
các vấn đề đều được điều chỉnh bởi nghị  
định, thông tư.  
Thứ ba, chủ trương cần phải sắp xếp, đổi  
mới các NLT để nâng cao hiệu quả hoạt  
động, trong đó có vấn đề đổi mới quản lý, sử  
dụng đất tại các NLT đã được Đảng, Nhà  
nước để ra rất sớm và xuyên suốt (từ Nghị  
định số 388/1991/HĐBT đến nay) nhưng ở  
tâm chủ thuyết, định hướng tái cấu trúc, phát  
triển các NLT lại chưa thật rõ. Vì vậy, nội  
dung pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại  
các NLT chưa cho thấy rõ “chính sách hoạch  
định”; kéo theo, chưa tạo sự thay đổi căn  
bản, toàn diện và đồng bộ cho hoạt động  
quản lý, sử dụng đất NLT cũng như có cơ  
chế mang tính đột phá, quyết liệt để giải  
quyết dứt điểm, triệt để các vướng mắc, khó  
khăn tồn tại từ nhiều năm, mang tính lịch sử.  
Hệ quả là công tác quản lý, sử dụng đất có  
nguồn gốc NLT và đất tại các NLT còn nhiều  
hạn chế, bất cập như: chưa xây dựng được  
dữ liệu, thông tin đất có nguồn gốc NLT đầy  
đủ, chính xác ở cấp độ từng NLT và quốc  
gia; tình trạng đất vô chủ, đất để hoang, đất  
lấn chiếm, tranh chấp vẫn còn khá nhiều mà  
chưa được giải quyết dứt điểm; hiệu quả  
khai thác, sử dụng đất tại các NLT còn  
thấp… Việc đo đạc, rà soát, cắm mốc ranh  
giới, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc NLT  
2. Một số hạn chế, bất cập của pháp luật  
về quản lý, sử dụng đất tại nông, lâm  
trường  
Bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt  
được, thực tế thi hành pháp luật về quản lý,  
sử dụng đất tại các NLT trong thời gian qua  
cũng cho thấy các quy định của pháp luật  
còn nhiều hạn chế, bất cập và đặt ra yêu cầu,  
đòi hỏi mới cho công tác quản lý, sử dụng  
đất NLT trong thời gian tới. Có thể khái quát  
một số hạn chế, bất cập lớn về mặt pháp luật  
như sau:  
Thứ nhất, hệ thống các quy định của  
pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các NLT  
hiện nay được ghi nhận trong rất nhiều văn  
bản được bản hành bởi nhiều chủ thể và ở  
các thời điểm khác nhau; do đó, rất phân tán,  
tính đồng bộ, thống nhất chưa cao, gây khó  
khăn cho việc tra cứu, nghiên cứu, áp dụng.  
Thứ hai, các quy định của pháp luật về  
6 Thuý Nhi, Thanh, kiểm tra đất nông, lâm trường (2019), Báo điện tử Tài nguyên & Môi trường, Bộ Tài  
7 Theo Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 và Nghị định số  
118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp tại Hội nghị Sơ kết  
05 năm thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày  
17/12/2014, tổ chức tại Hà Nội, ngày 18/11/2019: Tính đến ngày 30/6/2019, đã có 160/256 công ty nông,  
lâm nghiệp hoàn thành, bao gồm mô hình công ty TNHH MTV 100% vốn nhà nước thực hiện nhiệm vụ sản  
xuất kinh doanh 19/21 công ty (đạt 90,48%); mô hình công ty TNHH MTV 100% vốn nhà nước thực hiện  
nhiệm vụ sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích 59/60 công ty (đạt 98,33%); mô hình công ty cổ  
phần 49/102 công ty (đạt 48,04%); mô hình công ty TNHH hai thành viên 15/40 công ty (đạt 38,46%);  
chuyển thành ban quản lý rừng 5 công ty (đạt 100%); giải thể 13/28 công ty (đạt 46,43%).  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
29  
Số 22 (422) - T11/2020  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
thực hiện rất chậm8; nhiều địa phương chưa  
rà soát phương án sử dụng đất cho công ty  
nông, lâm nghiệp; phương án thu hồi, tiếp  
nhận, xử lý phần diện tích bàn giao về địa  
phương còn chậm, mới đạt 91.419  
ha/462.980 ha, bằng 19,75%9. Công tác xây  
dựng phương án sử dụng đất đối với phần  
đất giữ lại và bàn giao về địa phương của các  
công ty nông, lâm nghiệp còn chậm. Tình  
trạng tranh chấp, lấn chiếm đất tại một số  
công ty chưa được xử lý dứt điểm, nhất là  
đối với diện tích khoán ổn định lâu dài cho  
các hộ gia đình, cộng đồng dân cư. Việc cho  
thuê, cho mượn sử dụng không đúng đối  
tượng; tranh chấp, lấn chiếm còn phức tạp.  
Hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên rừng thấp.  
Việc xử lý đất giao khoán ở một số nơi thực  
hiện chưa tốt, làm phát sinh tranh chấp giữa  
người nhận khoán và công ty, giữa người  
nhận khoán với nhau. Một số nơi chưa giải  
quyết dứt điểm tình trạng cho thuê, liên  
doanh liên kết, sử dụng đất không đúng đối  
tượng, mục đích còn tiếp diễn; mua bán hợp  
đồng giao khoán thực tế là chuyển nhượng  
đất đai, xây dựng nhà ở, công trình ở kiên cố  
trong phần đất được giao khoán nhất là tại  
vùng đất có giá trị, thuận lợi đi lại, ven đô  
thị; khoán trắng không quản lý được đất; tự  
tách thửa, mua đi bán lại nhiều lần chưa  
được xử lý triệt để... Tình trạng di dân tự  
phát theo nhóm lớn dẫn tới nguy cơ lấn  
chiếm đất thuộc các công ty nông, lâm  
nghiệp, trong khi hầu hết diện tích đất các  
công ty nông lâm nghiệp đã khoán ổn định  
lâu dài theo Nghị định số 01/CP ngày  
04/01/1995 của Chính phủ và Nghị định số  
135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của  
Chính phủ. Tỷ lệ giải quyết đất sản xuất cho  
đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, nhất là khu  
vực Tây Nguyên còn thấp...  
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những  
hạn chế, bất cập trong công tác quản lý, sử  
dụng đất có nguồn gốc NLT nói chung và đất  
tại các NLT nói riêng, cả nguyên nhân khách  
quan và chủ quan10. Tuy nhiên, một trong  
những nguyên nhân bao trùm là do các quy  
định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất  
tại các NLT còn yếu và thiếu.  
3. Quan điểm và một số giải pháp tiếp tục  
hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng  
đất đai tại các nông trường, lâm trường  
3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật  
về quản lý, sử dụng đất tác các công ty  
nông, lâm trường  
- Phải đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu  
quả hoạt động của các công ty nông, lâm  
nghiệp gắn với chuyển đổi mô hình, tái cấu  
trúc nền kinh tế và ngành nông lâm nghiệp  
- Bảo đảm toàn diện, đồng bộ nhưng  
phải có trọng tâm, trọng điểm tạo đột phá  
trong quản lý, sử dụng đất tại các công ty  
nông, lâm nghiệp và phải gắn với ổn định  
chính trị xã hội và bảo đảm quốc phòng, an  
ninh vùng biên giới;  
8 Hiện còn 22 công ty, chi nhánh tại 11 tỉnh chưa hoàn thành rà soát, cắm mốc ranh giới; 11 công ty chưa  
hoàn thành đo đạc, lập bản đồ địa chính; 123 công ty chưa được phê duyệt phương án sử dụng đất; mới có  
57 công ty, chi nhánh (27,54%) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 13 tỉnh chưa bố trí nguồn  
kinh phí từ ngân sách địa phương 215 tỷ đồng để thực hiện nhiệm vụ này.  
9 Thuý Nhi (tlđd).  
10 Nguyên nhân khách quan: (i) Khó khăn, thách thức từ việc thực hiện công cuộc đổi mới; (ii) Diện tích đất  
NLT rất lớn, trải dài trên toàn quốc, lại có tính chất, đặc điểm rất khác nhau; (iii) Công tác đo đạc, lập, quản  
lý hồ sơ, tài liệu liên quan đến đất NLT trong thời gian dài chưa được coi trọng nên không có dữ liệu hoặc  
sơ sài, công tác quản lý đơn giản, lạc hậu, không cập nhật đầy đủ... (iv) Yêu cầu, tính chất hoạt động quản  
lý đất đai vốn dĩ là rất khó, phức tạp; thêm vào đó là có yếu tố lịch sử từ trước để lại, đã kéo dài qua nhiều  
thời kỳ, nhiều giai đoạn pháp luật khác nhau; (v) Nhìn chung, tiềm năng, lợi thế kinh tế của đất NLT không  
cao; (vi) Nguồn lực tài chính quốc gia, địa phương nhìn chung còn eo hẹp... Nguyên nhân chủ quan: (i)  
Nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức và của người dân còn hạn chế;  
(ii) Năng lực quản lý, ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ của một bộ phận người làm công tác quản lý đất  
đai, của lãnh đạo các NLT còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tế; (iii) Sự phối hợp giữa các  
chủ thể quản lý, các công ty nông, lâm nghiệp, người dân nhìn chung còn chưa tốt.  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
30  
Số 22 (422) - T11/2020  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
- Phải gắn với Cách mạng Công nghiệp  
4.0, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ  
môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và quốc  
phòng, an ninh.  
3.2. Giải pháp hoàn thiện quy định của  
pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các  
Công ty nông, lâm nghiệp  
cường công tác quản lý bảo vệ rừng phù hợp  
(Điều 20 Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã quy  
định); (v) luật hóa quy định tại Điều 46 Nghị  
định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của  
Chính phủ về quản lý, sử dụng đất của các  
ban quản lý rừng, khu bảo tồn thiên nhiên,  
khu bảo vệ cảnh quan môi trường, đất của  
các trạm, trại, lực lượng vũ trang như quy  
định về quản lý sử dụng đất đai của các công  
ty nông, lâm nghiệp tại nhằm đảm bảo quản  
lý đồng bộ các diện tích đất tại NLT.  
Về hình thức pháp luật, đề nghị rà soát  
hệ thống văn bản pháp luật hiện hành có quy  
định về quản lý, sử dụng đất tại các NLT để  
bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong toàn  
hệ thống; trên cơ sở đó, nghiên cứu xây  
dựng, ban hành 01 nghị định riêng quy định  
tập trung, điều chỉnh toàn diện các vấn đề có  
liên quan đến đổi mới tổ chức, hoạt động của  
các NLT, trong đó, có nội dung quy định về  
quản lý, sử dụng đất tại các NLT. Đồng thời,  
trong thời gian tới, khi tiến hành sửa đổi Luật  
Đất đai năm 2013, đề nghị cần có một số điều  
khoản quy định mang tính nguyên tắc về  
quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc NLT, đồng  
thời giao Chính phủ quy định chi tiết.  
Về nội dung pháp luật, đề nghị nghiên  
cứu sửa đổi, bổ sung các quy định sau đây:  
- Đối với quy định về quản lý đất đai,  
cần sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 và các  
văn bản hiện hành theo hướng (i) quy định  
về quản lý, sử dụng đất do các NLT trả về  
địa phương kể cả từ trước tới nay (hiện do  
UBND các xã tạm quản lý) và quy định về  
tiếp nhận đất đai do các công ty nông, lâm  
nghiệp, ban quản lý rừng, khu bảo tồn thiên  
nhiên trả về địa phương; (ii) sửa đổi quy  
định về phân loại đất đảm bảo quy hoạch đất  
dành cho lâm nghiệp, phù hợp với thực tế  
(Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã quy định);  
(iii) bỏ quy định về giao đất tại khoản 4 Điều  
135 Luật Đất đai11; (iv) bổ sung quy định về  
điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất rừng,  
quy mô, thẩm quyền cho phép chuyển mục  
đích sử dụng đất rừng nhằm quản lý chặt chẽ  
việc chuyển mục đích sử dụng rừng, tăng  
- Quy định về thu hồi đất, thu hồi rừng,  
thu hồi và ban giao đất về địa phương, đề  
nghị: (i) sửa đổi Điều 62 Luật Đất đai năm  
2013 theo hướng quy định cụ thể về thu hồi  
đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để  
tạo quỹ đất, trong đó quy định về các trường  
hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội  
vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, đặc  
biệt là thu hồi đất để thực hiện dự án có vốn  
đầu tư nước ngoài; đơn giản hóa quy định về  
cơ chế thu hồi đất do vi phạm, đặc biệt là vi  
phạm về tiến độ sử dụng đất tạo thuận tiện  
cho việc tổ chức thực hiện trên thực tế; sửa  
đổi Điều 64 theo hướng bổ sung trường hợp  
thu hồi đất do các tổ chức, cá nhân, hộ gia  
đình lấn, chiếm đất của NLT, ban quản lý  
rừng; bổ sung trường hợp về thu hồi đất rừng  
do “vi phạm nghiêm trọng quy định của  
pháp luật về lâm nghiệp”; (ii) Sửa đổi, bổ  
sung khoản 4 Điều 46 Nghị định số  
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính  
phủ và khoản 2 Điều 15 Nghị định số  
118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của  
Chính phủ về thu hồi và bàn giao đất về địa  
phương theo hướng: Đối với diện tích đất  
ở, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp đang có  
người trực tiếp sử dụng và có đủ điều kiện  
cấp giấy chứng nhận theo quy định thì lập  
thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận cho  
người đang sử dụng đất; Đối với diện tích trả  
lại địa phương mà chưa có chủ sử dụng (đất  
do công ty lâm nghiệp trước đây quản lý) thì  
11 Đất rừng sản xuất tập trung ở những nơi xa khu dân cư không thể giao trực tiếp cho hộ gia đình, cá nhân thì  
được Nhà nước giao cho tổ chức để bảo vệ và phát triển rừng kết hợp với sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,  
nuôi trồng thủy sản.  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
31  
Số 22 (422) - T11/2020  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
UBND cấp xã lập phương án sử dụng đất,  
trình UBND cấp huyện phê duyệt để tổ chức  
thực hiện, trong đó ưu tiên giao đất, cấp Giấy  
chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ  
đồng bào dân tộc thiểu số không có đất hoặc  
thiếu đất sản xuất; Đối với dự án sử dụng đất  
tại khu vực quan trọng, chiến lược và quốc  
phòng an ninh (dự án sử dụng đất tại đảo, xã,  
phường, thị trấn biên giới, đất có vị trí điểm  
cao, vị trí chiến lược), thay vì chỉ lấy ý kiến  
bộ, ngành có liên quan, cần lấy ý kiến của  
các Bộ Quốc phòng và phải có sự chấp thuận  
bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ  
trước khi có quyết định giao đất, cho thuê  
đất trên 50 năm; Bổ sung quy định đối với  
cơ quan có thẩm quyền giao đất, cho thuê  
đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất  
và người đứng đầu phải chịu trách nhiệm  
nếu để xảy ra sai phạm; (iii) Sửa đổi Điều 15  
Nghị định số 118/2014/NĐ-CP của Chính  
phủ, Điều 46 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP  
của Chính phủ theo hướng trình tự ưu tiên  
trước hết là giải quyết tình trạng thiếu đất ở,  
đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số  
tại chỗ thay vì ưu tiên cho cơ sở hạ tầng.  
- Quy định về giao khoán đất đai, đề  
nghị sửa đổi Nghị định số 168/2016/NĐ-CP  
ngày 27/12/2016 của Chính phủ theo hướng  
trao thêm trách nhiệm và quyền hạn người  
giao khoán, nhận khoán; bổ sung các quy  
định về khoán khi các công ty nông, lâm  
nghiệp chuyển thành công ty cổ phần, công  
ty 2 thành viên; bổ sung các biện pháp thiết  
thực ngăn ngừa tình trạng vi phạm hợp đồng  
khoán, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất,  
phá rừng tự nhiên, vi phạm quy hoạch rừng  
phòng hộ, rừng đặc dụng và đảm bảo công  
bằng giữa người nhận khoán và người được  
giao đất.  
quản lý rừng thì thực hiện giao khoán cho  
người dân thực hiện đúng quy hoạch kế hoạch  
sử dụng đất và hợp đồng giao khoán; (ii) sửa  
đổi quy định tại khoản 2 Điều 87 Nghị định  
số 43/2014/NĐ-CP về thu hồi giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất theo hướng trường  
hợp đất đã được chuyển mục đích sử dụng thì  
được quy định thành khoản riêng.  
- Quy định về cơ chế tài chính, đề nghị  
(i) bổ sung, quy định cụ thể hơn về chính  
sách hỗ trợ từ ngân sách Trung ương cho các  
địa phương thực sự khó khăn trong cân đối  
ngân sách, nguồn thu từ tiền sử dụng đất,  
tiền thuê đất, không có khả năng cân đối từ  
ngân sách địa phương cho việc đo đạc, cắm  
mốc ranh giới, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy  
chứng nhận quyền sử dụng đất; kinh phí hỗ  
trợ giải quyết tồn tại về tài chính đối với các  
công ty nông, lâm nghiệp thực sự giải thể  
nhưng mất khả năng thanh toán; sửa đổi, bổ  
sung các quy định mang tính đặc thù về tài  
chính, thuế sử dụng đất trong các công ty  
nông, lâm nghiệp sản xuất kinh doanh có  
tính đặc thù kể cả các doanh nghiệp quốc  
phòng, an ninh tham gia vào sản xuất nông  
lâm nghiệp trên các địa bàn chiến lược; bổ  
sung quy dịnh về miễn giảm tiền thuê đất đối  
với cây rừng và cây lâu năm, diện tích khoán  
ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân,  
cộng đồng và diện tích tái canh vườn cây,  
rừng; bổ sung đối tượng giao đất không thu  
tiền sử dụng đất vào mục đích rừng sản xuất  
cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất  
nông nghiệp đối với diện tích trong hạn mức  
quy định…; xây dựng cơ chế, chính sách để  
các công ty nông, lâm nghiệp có nguồn thu  
hợp pháp từ tài nguyên rừng để cân đối cho  
các hoạt động chi của đơn vị và nộp ngân  
sách nhà nước; (ii) sửa đổi Điều 19 Nghị  
định số 46/2014/NĐ-CP của Chính phủ về  
các trường hợp được miễn tiền thuê đối với  
diện tích đất các công ty nông, lâm nghiệp  
đã giao khoán ổn định lâu dài cho người dân  
để đảm bảo công bằng lợi ích giữa người  
- Quy định về cấp giấy chứng nhận quyền  
sử dụng đất, đề nghị (i) sửa đổi Điều 22 Nghị  
định số 43/2014/NĐ-CP theo hướng đối với  
đất lấn chiếm nằm trong phương án sử dụng  
đất của công ty thuộc quy hoạch rừng sản  
xuất của các công ty nông, lâm nghiệp, ban  
nhận khoán và người được giao đất  
n
NLGHPIÊPNHCÁPU  
32  
Số 22 (422) - T11/2020  
pdf 6 trang Thùy Anh 11380
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_quy_dinh_cua_phap_luat_ve_quan_ly_su_dung_dat_tai.pdf