Bảo đảm quyền công dân trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước ở Việt Nam

Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Bảo đảm quyền công dân trong hoạt động  
của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam  
Nguyễn Sơn*  
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Ngày nhận bài 18/2/2021; ngày chuyển phản biện 22/2/2021; ngày nhận phản biện 29/3/2021; ngày chấp nhận đăng 31/3/2021  
Tóm tắt:  
Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN) có sức tác động mạnh, nhanh nhất tới xã hội. Mọi  
quyết sách xuất phát từ các CQHCNN có tác động trực diện và tác động ngay tới đời sống xã hội; trong hoạt động  
của CQHCNN luôn tiềm ẩn các nguy cơ xâm phạm tới quyền công dân (QCD). Việc bảo đảm thực hiện QCD những  
năm qua ở Việt Nam còn nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu và giải quyết, cả về phương diện cơ chế, pháp luật đến  
hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước nói chung và của CQHCNN nói riêng. Nghiên cứu này đánh giá thực  
trạng, đề xuất quan điểm, giải pháp về bảo đảm QCD trong hoạt động của CQHCNN ở Việt Nam hiện nay.  
Từ khóa: CQHCNN, hiến pháp, pháp lý, QCD.  
Chỉ số phân loại: 5.5  
trò của tư pháp cũng như yêu cầu về bảo đảm QCN, QCD, bảo  
vệ công lý.  
Thực trạng pháp luật bảo đảm QCD trong hoạt động của các  
CQHCNN ở Việt Nam hiện nay  
Những kết quả đạt được  
Các Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị  
về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới,  
Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến  
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt cơ sở quan trọng cho  
việc thực hiện mục tiêu “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững  
mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại,  
phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động  
tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu  
quả và hiệu lực cao”.  
Về mặt thể chế, bước đầu thiết lập được những nền tảng pháp  
lý cơ bản ở tầm hiến định và luật định cho việc bảo đảm QCD  
trong hoạt động của CQHCNN. Đó là các nội dung liên quan  
đến: các quy định trực tiếp về bảo hộ công dân ở Việt Nam trong  
Hiến pháp; ghi nhận các nguyên tắc, bảo đảm và bảo vệ quyền  
con người (QCN), các quyền cơ bản của công dân; tiếp tục hoàn  
thiện cơ sở hiến định cho hệ thống tố quyền của công dân; tiếp tục  
xây dựng hệ thống thiết chế bảo hộ pháp lý đối với công dân;  
tiếp tục xây dựng và hình thành hai cấp độ bảo hộ pháp lý cho công  
dân. Hiện nay, để triển khai Hiến pháp năm 2013, một số dự luật  
liên quan mật thiết đến các QCN, quyền cơ bản của công dân đã  
được ban hành (như Luật Tiếp cận thông tin, Luật Trưng cầu ý  
dân) hoặc đang trong quá trình dự thảo (như Luật về Hội, Luật  
Biểu tình).  
Đặc biệt, sự ra đời của Tòa hành chính là một dấu mốc quan  
trọng thiết lập bước đầu sự bình đẳng trong mối quan hệ giữa công  
dân và Nhà nước, theo đó, công dân có quyền khởi kiện cơ quan  
nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước về  
quyết định, hành vi hành chính sai trái của họ. Theo quy định của  
pháp luật, Tòa án hành chính hiện nay thông qua xét xử hành chính  
có thẩm quyền kiểm tra kết quả hoạt động hành chính, phán quyết  
tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính,  
các cơ quan, công chức nhà nước bị khiếu kiện. Đây có thể là cơ  
sở ban đầu cho việc xây dựng một thiết chế tài phán cao hơn, xem  
xét tính hợp hiến của một quyết định hoặc văn bản của cơ quan  
nhà nước, nhằm bảo vệ cao nhất QCN, QCD trước những nguy  
cơ xâm hại ngày càng gia tăng trong xã hội hiện đại. Bên cạnh  
đó, sự ra đời của Cục Bồi thường nhà nước (BTNN) và hệ thống  
thiết chế BTNN ở các cấp đã đánh dấu bước phát triển tiếp theo  
trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Cơ chế này không chỉ  
nhằm bồi thường thiệt hại cho người dân mà còn có ý nghĩa nâng  
cao trách nhiệm của Nhà nước trước công dân, kiểm soát, hạn  
Về thiết chế, đã thiết lập được một hệ thống các thiết chế  
quan trọng để thực thi việc bảo đảm QCD. Đó là các thiết chế:  
dân nguyện, tài phán tư pháp, bồi thường nhà nước (BTNN), trợ  
giúp pháp lý (TGPL), trong đó, vai trò của tòa án ngày càng được  
nâng cao. Theo Hiến pháp năm 2013, tòa án nhân dân (TAND)  
có vai trò quan trọng trong hệ thống tư pháp nói chung và trong  
việc thực hiện quyền lực nhà nước nói riêng: “TAND là cơ quan  
xét xử của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư  
pháp” (Điều 102 khoản 1). Vai trò của tòa án còn được thể hiện  
trong việc: “TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ QCN,  
QCD, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền  
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (Điều 102 khoản 3).  
Quy định này đánh dấu một bước tiến mới trong nhận thức về vai chế sự lạm quyền từ phía Nhà nước một cách cụ thể và hữu hiệu.  
23  
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
pháp đến năm 2020, hệ thống tố quyền đã được thực thi và thúc  
đẩy triển khai tích cực. Trong số đó, các tố quyền như khiếu nại,  
tố cáo, khiếu kiện ngày càng phát huy vai trò là những công cụ  
hữu hiệu giúp người dân chủ động, tự bảo vệ các quyền, lợi ích  
hợp pháp của mình, góp phần ngăn ngừa, hạn chế những xâm hại  
từ phía các chủ thể khác, mà trước hết là các chủ thể công quyền.  
Ensuring citizenship in the operations  
of State administrative agencies  
in Vietnam  
Son Nguyen*  
Hiến pháp năm 2013 cũng đặt ra những yêu cầu mở rộng và  
nâng cao chất lượng, phạm vi bảo hộ quyền, khả năng tiếp cận  
công lý của người dân. Điều này được thể hiện ở việc sửa đổi các  
đạo luật liên quan đến tố quyền như Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ  
luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự. Theo đó,  
các nội dung được đặc biệt quan tâm gồm: quyền im lặng, bất  
khả thụ lý (toà án không được lấy lý do không có luật để từ chối  
xét xử), hình sự hoá và phi hình sự hoá một số hành vi, hạn chế  
School of Law, Vietnam National University, Hanoi  
Received 18 February 2021; accepted 31 March 2021  
Abstract:  
The activities of State administrative agencies have the  
strongest and fastest impact on society. All decisions  
from the State’s administrative agencies have a direct  
and immediate impact on social life, however, in the phạm vi các tội tử hình.  
operation of the State’s administrative agencies, there  
Quyền được TGPL và việc TGPL được khuyến khích mở  
are always potential risks of infringing upon citizenship.  
In recent years, the implementation of Vietnam still has  
many problems that have not been studied and resolved,  
both in terms of mechanism and law to the practical  
activities of State agencies in general and of the State’s  
administrative agencies in particular. This study assesses  
the current situation and proposes a solution to ensure  
citizenship in the operation of the State’s administrative  
agencies in Vietnam today.  
rộng cũng góp phần giúp người dân được bình đẳng hơn trước  
pháp luật, bình đẳng hơn trong việc được bảo đảm quyền tiếp cận  
công lý. Nếu như ban đầu, các Trung tâm TGPL của Nhà nước  
chủ yếu thực hiện TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật, việc  
tham gia tố tụng chủ yếu dựa vào các luật sư thì đến nay, các  
Trung tâm TGPL đã chủ động cử Trợ giúp viên pháp lý tham gia  
tố tụng để thực hiện đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích  
hợp pháp cho người nghèo và đối tượng chính sách. Số lượng vụ  
việc TGPL được thực hiện tăng đều theo các năm.  
Keywords: citizenship, constitution, legal, State  
administrative agencies.  
Chất lượng TGPL từng bước được nâng cao và bảo đảm.  
Từ năm 2007 đến 31/12/2019, trong cả nước đã thực hiện được  
691.412 vụ việc cho 711.574 đối tượng, trong đó có 11.170 vụ  
việc về đại diện, 32.004 vụ bào chữa, 633.390 vụ tư vấn, 601 vụ  
kiến nghị, 977 vụ hòa giải, và các hình thức khác: 13.270. Trong  
số 711.574 người được TGPL có 191.730 người nghèo, 98.100  
người có công với cách mạng, 166.675 người dân tộc, 29.130 trẻ  
em, còn lại là các đối tượng khác [1].  
Classification number: 5.5  
Cơ chế bảo vệ hiến pháp cũng đã được Hiến pháp năm 2013  
đặt nền móng ban đầu để có thể triển khai trong tương lai tại Điều  
119 khoản 2.  
Ở cấp độ thứ cấp (thứ phát): tuy chưa thiết lập được một cơ  
chế tài phán hiến pháp, nhưng chúng ta cũng đã đạt được một số  
kết quả trong công tác BTNN. Có thể nói, trách nhiệm BTNN  
trong thời gian qua đã được triển khai thực hiện nghiêm túc. So  
với hơn 10 năm thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường thiệt  
hại do cán bộ, công chức, viên chức, người có thẩm quyền của  
cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trước khi có Luật Trách nhiệm  
BTNN thì số lượng vụ việc và số tiền bồi thường đã tăng lên  
đáng kể, trung bình mỗi năm có khoảng 46 vụ việc với số tiền bồi  
thường khoảng 7,5 tỷ đồng.  
Một nhóm thiết chế không thể không nhắc tới trong việc thực  
thi bảo đảm QCD, đó là các tổ chức xã hội. Tuy đây không phải  
là các thiết chế nhà nước nhưng lại có vai trò quan trọng trong  
việc giám sát và thúc đẩy hoạt động bảo đảm QCD đi vào chiều  
sâu và ngày một chất lượng hơn. Từ sau giai đoạn Đổi mới, các  
tổ chức xã hội ở Việt Nam bắt đầu phát triển về quy mô, số lượng  
và chất lượng. Tuy vẫn có một số tổ chức xã hội lớn (như Công  
đoàn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên...) được thành lập theo sáng  
kiến của Nhà nước và có ngân sách từ Nhà nước, nhưng đang  
xuất hiện ngày càng nhiều các tổ chức xã hội mang đầy đủ đặc  
điểm của tổ chức xã hội dân sự và có ảnh hưởng tích cực đến mối  
quan hệ giữa Nhà nước và công dân ở Việt Nam.  
Hạn chế, vướng mắc  
Có thể khẳng định, hoạt động bảo đảm QCD trong hoạt động  
của các CQHCNN ở Việt Nam đã có những cơ sở chính trị - pháp  
lý ban đầu khá vững chắc. Hiến pháp sửa đổi năm 2013 ra đời đã  
đánh dấu một bước tiến mới trong nhận thức về yêu cầu bảo đảm  
Về phương thức, bước đầu đã hình thành cơ chế pháp lý về  
bảo đảm QCD trong hoạt động của CQHCNN ở hai cấp độ -  
sơ cấp (nguyên phát) và thứ cấp (thứ phát). Ở cấp độ sơ cấp QCN, QCD nói chung và trong hoạt động bảo đảm QCD trong  
(nguyên phát): trên cơ sở các chủ trương của Đảng và Nhà nước hoạt động của các CQHCNN nói riêng, từ đó củng cố nền tảng  
về Chương trình cải cách hành chính và Chiến lược cải cách tư pháp lý vững chắc hơn cho hoạt động bảo đảm QCD trong hoạt  
63(4) 4.2021  
24  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
động của các CQHCNN ở Việt Nam. Tuy vậy, qua phân tích, được một số cơ chế thiết yếu trong việc bảo đảm QCD trong  
đánh giá thực trạng hoạt động bảo đảm QCD trong hoạt động hoạt động của các CQHCNN như thỉnh nguyện thư, tài phán hiến  
của các CQHCNN ở Việt Nam có thể thấy, nước ta mới đang chỉ  
trong giai đoạn hình thành ban đầu, hai cấp độ bảo đảm còn chưa  
thật sự đầy đủ. Do đó, thực tiễn nhận thức và vận hành hoạt động  
bảo đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN ở Việt Nam  
cũng chưa thật sự có nhiều kết quả như mong muốn.  
pháp.  
Do những hạn chế trong phương thức vận hành việc bảo đảm  
QCD trong hoạt động của các CQHCNN, nên kết quả bảo hộ  
pháp lý đối với công dân ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều bất  
cập. Các quyền cơ bản vẫn còn bị xâm phạm, dẫn đến nhiều vụ,  
việc oan, sai gây bức xúc dư luận. Thực trạng này đặt ra yêu cầu  
bức thiết về vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị  
trường định hướng XHCN: đó là yêu cầu bảo đảm được sự phát  
triển bền vững, cân bằng giữa các nhóm lợi ích, bảo vệ được  
quyền lợi của người dân, tạo lập môi trường kinh doanh bình  
đẳng, an toàn và ổn định.  
Về thể chế: chưa có nền tảng pháp lý vững chắc và đồng bộ  
ở tầm hiến định và luật định cho việc bảo đảm pháp lý đối với  
công dân. Hai cấp độ bảo đảm tuy đã dần hình thành qua các quy  
định riêng lẻ của Hiến pháp nhưng còn khá sơ khai và thiếu tính  
hệ thống.  
Cùng với đó, các cơ chế pháp lý ở Việt Nam để bảo đảm QCD  
trong hoạt động của các CQHCNN cho đến nay mới chỉ dừng ở  
việc thiết lập các cơ chế bảo đảm thông qua các trình tự, thủ tục  
pháp lý thông thường. Phương thức bảo đảm ở cấp độ thứ phát  
(thứ cấp) mới dừng lại ở cơ chế BTNN trong một thập kỷ trở lại  
đây. Cơ chế bảo hiến tuy đã được đặt nền móng ban đầu tại Điều  
119 khoản 2 của Hiến pháp năm 2013, nhưng vẫn chưa được thiết  
lập và triển khai trên thực tế. Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các  
đạo luật cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về bảo đảm QCN,  
QCD nói chung và QCD trong hoạt động của các CQHCNN nói  
riêng cũng còn nhiều vướng mắc, chậm trễ. Một số đạo luật liên  
quan đến quyền tự do cá nhân vẫn chưa được triển khai ban hành  
như: Luật về Hội, Luật Biểu tình..., tác động không nhỏ đến năng  
lực thực hành cũng như việc bảo đảm, bảo vệ các quyền, tự do dân  
chủ của người dân.  
Nguyên nhân tồn tại  
Về nhận thức  
Trước hết đó là việc nhận thức chưa đầy đủ về “tính chính  
đáng”, về vai trò tích cực của nhà nước trong quốc gia hiện đại.  
Một nhà nước chỉ bảo đảm được tính chính đáng của mình khi  
thực hiện tốt vai trò quản trị, bảo đảm và bảo vệ các QCN, quyền  
cơ bản của công dân, thiết lập được mối quan hệ bình đẳng, hợp  
tác với công dân của mình. Để làm được như vậy, nhà nước phải  
thực thi các biện pháp nâng cao vị thế của người dân trong xã hội,  
cũng như thực hiện đến cùng trách nhiệm của mình đối với việc  
bảo đảm QCN, QCD nói chung, bảo đảm QCD trong hoạt động  
của các CQHCNN nói riêng. Ngược lại, từ phía người dân, ý thức  
công dân cũng như các quyền của mình vẫn còn chưa cao. Trong  
tâm lý của người dân vẫn còn tồn tại tư duy trọng tình hơn trọng  
lý, “lệ làng hơn phép nước”. Những yếu tố này đã tạo nên hạn chế  
trong thiết lập mối quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa nhà nước với  
công dân, đồng thời, tạo rào cản cho chính người dân khi sử dụng  
các công cụ pháp lý như tố quyền làm vũ khí bảo vệ các quyền,  
lợi ích chính đáng của mình.  
Về thiết chế, thiết chế tòa án: bên cạnh nguyên tắc độc lập  
xét xử, một số nguyên tắc tố tụng chưa thật rõ về nội hàm và  
còn thiếu các biện pháp bảo đảm thực thi hiệu quả như: nguyên  
tắc tranh tụng trong xét xử, nguyên tắc về quyền im lặng... Chất  
lượng hoạt động của cơ quan tư pháp còn bất cập, án tồn đọng,  
án oan sai chưa được khắc phục triệt để; thiết chế dân nguyện ở  
Việt Nam hiện nay cũng chưa phát huy hết vai trò, mới chỉ dừng  
ở mức tiếp nhận và chuyển đơn thư kiến nghị, phản ánh, khiếu  
nại, tố cáo; thiết chế giám sát và bảo vệ Hiến pháp vẫn chưa thật  
sự hiệu quả do chưa có một cơ quan chuyên trách đảm nhiệm vai  
trò tài phán Hiến pháp. Cách thức thực hiện kiểm tra, giám sát  
Hiến pháp hiện nay là: “Hiến pháp giao cho Quốc hội quyền ban  
hành, sửa đổi Hiến pháp và các đạo luật, giám sát việc thực hiện  
Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, cả Hiến pháp và pháp luật đều  
không quy định trách nhiệm phát sinh từ các đạo luật vi hiến mà  
Quốc hội đã ban hành hoặc có sai sót trong quá trình biểu quyết  
thông qua” [2].  
Nguyên nhân liên quan đến nền tảng hiến định của bảo  
đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN, về mặt kỹ thuật  
lập pháp  
Hiến pháp Việt Nam không có hiệu lực trực tiếp, trong khi đó,  
nền tảng cho bảo đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN  
chính là Hiến pháp. Hiến pháp không được viện dẫn, hoặc được  
viện dẫn nhưng không được dùng để chống lại những quyết định  
sai trái. Hơn nữa, chúng ta không có cơ chế giải thích Hiến pháp  
một cách hữu hiệu, cũng như không có cơ chế bảo vệ Hiến pháp  
một cách độc lập. Việc kiểm tra, làm rõ các giới hạn Hiến pháp  
trong quá trình can thiệp quyền vẫn chưa được quan tâm đúng  
mức. Đây là nguyên nhân quan trọng khiến cho việc ban hành  
các quy định xâm phạm quyền cơ bản của công dân vẫn còn xảy  
ra khá nhiều trên thực tế (ví dụ như các quyết định: một người chỉ  
được sở hữu, đăng ký một xe máy, hạn chế nhập cư...). Bên cạnh  
đó, thể chế pháp luật nói chung và thể chế bảo đảm pháp lý cho  
Các thiết chế về xã hội dân sự: các thiết chế này ở Việt Nam  
vẫn còn dè dặt, chưa có hành lang pháp lý vững chắc làm cơ  
sở phát triển và ràng buộc hoạt động của các tổ chức này trong  
khuôn khổ pháp luật.  
Về phương thức: chưa xây dựng được hai cấp độ bảo đảm  
pháp lý một cách đầy đủ và hoàn chỉnh. Hệ thống tố quyền vẫn công dân ở Việt Nam nói riêng chưa thật sự thống nhất, đồng bộ.  
còn nhiều yếu kém, bất cập do những hạn chế về thủ tục tố tụng Về mặt nội dung, hệ thống pháp luật về QCN, QCD cũng như về  
và thực tiễn thực hiện. Bên cạnh đó, chúng ta chưa xây dựng hệ thống tố quyền ở Việt Nam còn chưa thật sự hoàn thiện.  
25  
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Về kỹ thuật lập pháp, chúng ta vẫn chưa làm rõ được những quốc gia nào cũng đều phải nhận thức được vị trí trung tâm của  
quy định nào của Hiến pháp có hiệu lực áp dụng trực tiếp, những con người trong mục tiêu, chiến lược phát triển xã hội của mình.  
quy định nào bắt buộc phải có luật quy định chi tiết thi hành. Yêu cầu bảo đảm QCN, QCD ngày càng trở nên bức thiết. Mối  
Việc thiếu vắng một thiết chế tài phán hiến pháp lại càng khiến quan hệ giữa Nhà nước và công dân, vì thế, cũng cần phải được  
cho vướng mắc này khó được giải quyết một cách minh bạch, chăm lo hoàn thiện, để thật sự trở thành mối quan hệ pháp lý hợp  
rạch ròi.  
tác, sòng phẳng, bình đẳng.  
Các thiết chế nhà nước chưa thật sự được tổ chức và hoạt  
động hiệu quả  
Yêu cầu về bảo đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN  
còn cho thấy tính chính đáng, tính chịu trách nhiệm của Nhà  
nước một cách toàn diện. Để bảo đảm tính chính đáng, tính chịu  
trách nhiệm ấy, Nhà nước phải kiến tạo một nền tảng pháp lý để  
bảo đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN trong những  
trường hợp, hoàn cảnh cụ thể khi các biện pháp, trình tự pháp lý  
thông thường không thể giải quyết. Đây cũng là căn cứ pháp lý  
cuối cùng để định biên giữa khả năng tác động, can thiệp của Nhà  
nước với quyền tự chủ (tự do, độc lập) của công dân.  
Nguyên tắc phân công, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan  
thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đã được khẳng  
định trong Hiến pháp và cụ thể hóa trong pháp luật, tuy nhiên, cơ  
chế phân công, phân nhiệm trong bộ máy nhà nước vẫn còn nhiều  
vướng mắc. Đặc biệt, cách thức tổ chức và hoạt động của tòa án  
hiện nay chưa thật sự đem lại sự độc lập cho thiết chế này cũng  
như chưa tạo ra được cơ chế giám sát hữu hiệu hoạt động của các  
CQHCNN. Các yếu tố bảo đảm như kinh tế - văn hóa - xã hội  
chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo  
đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN ở Việt Nam  
Hai là, thống nhất nhận thức về quyền cơ bản của công dân:  
trong nhận thức về quyền cơ bản, vẫn còn một số vấn đề cần  
làm rõ quyền cơ bản của công dân là những QCD được quy định  
trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước (Hiến  
pháp), được ghi nhận và bảo vệ bằng cơ chế bảo vệ Hiến pháp,  
mọi trường hợp can thiệp quyền đều phải dựa trên cơ sở Hiến  
pháp. Bên cạnh đó, quyền cơ bản của công dân được phân biệt  
với các quyền khác thông qua các tiêu chí chính sau: chủ thể  
hưởng quyền cơ bản, nội dung hưởng quyền cơ bản, các căn cứ  
Hiến pháp cho các trường hợp/giới hạn can thiệp của Nhà nước  
vào quyền cơ bản.  
Để hoạt động bảo đảm QCD trong hoạt động của các  
CQHCNN được nâng cao và hoàn thiện, việc xây dựng các yếu  
tố bảo đảm cũng quan trọng không kém. Tuy vậy, các yếu tố bảo  
đảm này hiện nay vẫn còn yếu và thiếu. Cụ thể là liên quan đến  
yếu tố kinh tế, cơ sở vật chất, hạ tầng và ngân sách cho hoạt động  
bảo đảm QCD của chúng ta còn hạn chế. Liên quan đến yếu tố  
văn hóa, ý thức pháp luật, ý thức chính trị của mỗi chủ thể về vai  
trò của mình trong xã hội và trong mối quan hệ giữa Nhà nước và  
công dân còn chưa cao. Liên quan đến yếu tố xã hội: sự phát triển  
của các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam còn hạn chế.  
Ba là, tiếp thu và hoàn thiện lý luận về vai trò, chức năng của  
Nhà nước trong Nhà nước pháp quyền, trong thời kỳ mới; về mối  
quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong xã hội hiện đại: việc  
xây dựng mối quan hệ hợp tác tích cực giữa Nhà nước và công  
dân phải dựa trên sự đồng thuận của toàn xã hội. Tức là sự thay  
đổi tích cực không chỉ đòi hỏi ở một phía Nhà nước mà còn được  
đặt ra đối với người dân.  
Một số giải pháp nhằm bảo đảm QCD trong hoạt động của CQHCNN  
ở Việt Nam hiện nay  
Giải pháp cơ bản  
Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về QCD: xây dựng  
cơ chế bảo đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN phải  
đặt trong tổng thể mối liên hệ với các chủ trương xây dựng và  
phát triển đất nước (xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, hoàn  
thiện thể chế kinh tế thị trường, phát huy dân chủ XHCN; xây  
dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm QCD trong hoạt động của các  
CQHCNN phải đặt trong sự tương thích với công cuộc cải cách  
hành chính, Chiến lược cải cách tư pháp và Chiến lược xây dựng  
và hoàn thiện hệ thống pháp luật; các tố quyền là hạt nhân của của  
cơ chế bảo đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN; đảm  
bảo sự thống nhất, đồng bộ, gắn kết chặt chẽ, thống nhất giữa  
các thành tố của cơ chế, tạo sự vận hành khoa học, hiệu quả của  
hoạt động bảo đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN).  
Bên cạnh đó, cần đổi mới tổ chức, hoạt động của CQHCNN theo  
hướng bảo đảm QCD; từng bước hoàn thiện cơ chế, thiết chế bảo  
đảm QCD trong hoạt động của CQHCNN ở Việt Nam.  
Nhóm giải pháp tăng cường năng lực sử dụng quyền của  
người dân  
Một là, nâng cao dân trí và ý thức pháp luật cho người dân:  
việc này cần được tiến hành đồng bộ và thực hiện tốt các biện  
pháp như: đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, giải thích  
pháp luật; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp  
lý, cán bộ hành chính nhà nước; đưa việc giảng dạy pháp luật  
vào các trường đào tạo cán bộ của Nhà nước, của các tổ chức xã  
hội; mở rộng công khai, dân chủ trong hoạt động của bộ máy nhà  
nước, thu hút nhân dân tham gia đông đảo vào việc xây dựng các  
dự án pháp luật.  
Hai là, xây dựng ý thức về vai trò tích cực, chủ động của  
công dân trong mối quan hệ với Nhà nước: trong xã hội hiện đại,  
yêu cầu về tính chính đáng của Nhà nước là một tiêu chí cơ bản  
để bảo đảm sự vững bền của Nhà nước đó. Tính chính đáng đòi  
hỏi Nhà nước phải đáp ứng được các kỳ vọng và tiêu chuẩn của  
Nhóm giải pháp về nhận thức  
Một là, đổi mới tư duy, nhận thức về bảo hộ công dân và cơ người dân đối với chính quyền của mình. Ngược lại, phía công  
chế pháp lý về bảo hộ công dân: trong thế giới hiện đại, bất kỳ dân cũng cần có thái độ hợp tác tích cực trong ý thức về trách  
63(4) 4.2021  
26  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
nhiệm và nghĩa vụ công dân. Đồng thời, tính chính đáng cũng đòi riêng, yêu cầu tiếp tục cải cách và hoàn thiện hệ thống thủ tục  
về bảo hộ pháp lý cho công dân vẫn mang tính thời sự cấp thiết.  
hỏi Nhà nước phải bảo đảm việc thực thi và bảo vệ các quyền hợp  
pháp của công dân một cách chủ động, hữu hiệu nhất.  
Ba là, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các thiết chế bảo hộ pháp  
lý đối với công dân: trong pháp luật về tổ chức và hoạt động bộ  
máy quyền lực nhà nước, cần bảo đảm nguyên tắc phân công,  
phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện các chức năng  
lập pháp, hành pháp, tư pháp. Hơn nữa cần xác định rõ phạm vi  
quyền hạn và nhiệm vụ của các thiết chế có nhiệm vụ bảo đảm  
pháp lý cho công dân trong hoạt động của các CQHCNN hiện  
nay. Bên cạnh đó, thiết lập và nâng cao năng lực của các thiết chế  
đặc thù trong hệ thống các thiết chế bảo đảm pháp lý cho công  
dân trong hoạt động của các CQHCNN hiện có. Đồng thời hoàn  
thiện các thiết chế bảo hộ pháp lý cho công dân theo hướng đề  
cao tính độc lập về tổ chức và hoạt động của các thiết chế này.  
Một yếu tố quan trọng để giúp người dân có thái độ tích cực  
trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, đó là việc xây  
dựng, nâng cao ý thức công dân trong mỗi cá nhân. Việc xây  
dựng và nâng cao ý thức công dân ở Việt Nam hiện nay vẫn còn  
nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để ý thức công  
dân có được nền tảng vững chắc thì việc tạo lập một cơ chế đảm  
bảo quyền dân chủ và sự bình đẳng trước pháp luật cho các thành  
viên trong xã hội là yêu cầu tất yếu.  
Ba là, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân:  
để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, một trong  
những tiêu chí hàng đầu là phải bảo đảm cho người dân được chủ  
động tiếp cận và được đáp ứng các yêu cầu chính đáng về thông  
tin. Đồng thời, nội dung này còn đòi hỏi sự chủ động minh bạch,  
công khai hóa các thông tin từ phía các cơ quan công quyền, trừ  
khi có một lợi ích công cộng khác quan trọng hơn buộc phải được  
giữ bí mật.  
Xây dựng và vận hành các thiết chế cụ thể  
Một là, đề cao vai trò của hệ thống tòa án trong việc bảo hộ  
pháp lý cho công dân: trong trật tự nhà nước pháp quyền, tòa án  
là cơ quan có vai trò hàng đầu trong việc bảo vệ công lý. Về bảo  
đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN, hệ thống cơ quan  
tòa án có vai trò trung tâm, thực hiện vai trò giám sát đối với hoạt  
động của các thiết chế khác. Do đó, một trong những nội dung  
trọng tâm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các cơ chế bảo  
đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN là phải kiện toàn  
hệ thống cơ quan tòa án, cả về tổ chức và hoạt động.  
Nhóm giải pháp về xây dựng và hoàn thiện thể chế  
Một là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm  
QCN, quyền tự do, dân chủ của công dân: đánh giá thực trạng  
hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung, lĩnh vực QCN nói  
riêng, có thể thấy hệ thống pháp luật nước ta trong hơn hai thập  
kỷ qua đã có sự phát triển mạnh mẽ, với nhiều thành tựu to lớn.  
Tuy nhiên, còn tồn tại một số hạn chế trong hệ thống pháp luật  
như: khá cồng kềnh; thiếu ổn định, thường xuyên thay đổi; rất  
nhiều văn bản pháp luật có tính quy phạm thấp, dẫn đến chậm  
trễ thi hành, chờ văn bản hướng dẫn của các cấp khác nhau, làm  
nảy sinh không ít mâu thuẫn giữa văn bản hướng dẫn và văn bản  
được hướng dẫn thi hành; tính minh bạch, hệ thống của hệ thống  
pháp luật còn hạn chế; xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý  
thi hành pháp luật, do đó, thiếu tính dự báo và tính khả thi [3].  
Hai là, tiếp tục hoàn thiện và phát huy chức năng của các  
thiết chế bảo đảm đối với công dân đang vận hành: 1) Đối với  
thiết chế dân nguyện: tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thiết chế  
này theo hướng chuyên nghiệp, khoa học và hiệu quả. Ủy ban  
dân nguyện hay Thanh tra Quốc hội (Ombudsman) là những gợi  
ý khá hữu ích cho việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thiết  
chế dân nguyện ở Việt Nam; 2) Đối với thiết chế TGPL: tăng  
cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ thực hiện  
TGPL, thành lập các quỹ hỗ trợ TGPL để nâng cao chất lượng  
và hiệu quả hoạt động của thiết chế này, nhằm bảo đảm quyền  
tiếp cận công lý của người dân; 3) Đối với thiết chế BTNN: tăng  
cường đội ngũ cán bộ chuyên trách về BTNN. Khắc phục tình  
trạng thiếu khách quan do việc tổ chức thẩm quyền giải quyết  
bồi thường theo mô hình phân tán theo hướng giao cho một cơ  
quan làm đầu mối tiếp nhận và thay mặt Nhà nước giải quyết bồi  
thường cho tổ chức, công dân bị thiệt hại.  
Hai là, hoàn thiện thủ tục thực hiện bảo hộ pháp lý cho công  
dân theo hướng đảm bảo tính công khai, minh bạch và kịp thời,  
trong đó trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tố quyền: để đảm  
bảo chất lượng và hiệu quả thực hiện việc bảo hộ pháp lý cho  
công dân thì yêu cầu hàng đầu là phải thiết lập một nền tảng pháp  
lý về trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động này một cách hợp lý,  
khoa học, công khai, minh bạch và kịp thời. Nhất là yêu cầu công  
khai minh bạch có ý nghĩa đảm bảo sự giám sát trực tiếp của  
công dân, các tổ chức liên quan đến hoạt động đó, góp phần hạn  
chế những biểu hiện thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ  
cũng như hạn chế những hoạt động vượt ra ngoài phạm vi pháp  
luật cho phép.  
Ba là, thành lập các “Quỹ bảo hộ pháp lý cho công dân”  
và quy định trách nhiệm thực hiện của các thiết chế được giao  
nhiệm vụ quản lý, sử dụng các Quỹ này: trong những năm gần  
đây, ở nước ta đã hình thành phương thức bảo đảm pháp lý cho  
công dân dưới hình thức TGPL cho người nghèo. Có thể nhận  
thấy, đây là những hình thức hỗ trợ để nâng cao năng lực bảo vệ  
các quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Tuy nhiên, những  
hình thức bảo hộ có tính chất trợ giúp này mới chỉ bước đầu hình  
thành và được thực hiện trong những phạm vi đối tượng hẹp -  
trong một số ít lĩnh vực và đối với một số đối tượng. Cần nghiên  
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành công cuộc cải cách hành  
chính, cải cách tư pháp và đã thu được những kết quả đáng khích  
lệ, như cơ chế “một cửa một dấu” trong hành chính hay chủ  
trương áp dụng thủ tục xét xử rút gọn cho một số vụ án. Tuy  
nhiên, để phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà cứu, chuẩn bị và thiết lập hình thức bảo hộ này rộng hơn như đối  
nước nói chung, hoạt động bảo hộ pháp lý đối với công dân nói với những người bị thất nghiệp, đối với nạn nhân của những hiểm  
27  
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
họa thiên nhiên - với tính chất là sự bảo hộ thuộc về trách nhiệm hành hiệu quả, nhịp nhàng, bảo đảm sự minh bạch, công khai và  
của Nhà nước chứ không phải chỉ là sự kêu gọi mang tính chất  
sự vụ như hiện nay.  
tính chính đáng của Nhà nước trong các hoạt động của mình, tiếp  
thu các ý kiến phản hồi từ dư luận xã hội, phản biện xã hội, cũng  
như nắm bắt được các thông tin liên quan đến hoạt động bảo hộ  
được nhanh chóng, hiệu quả, kịp thời, chính xác. Đối với chủ thể  
được bảo đảm (công dân), việc được tiếp cận đầy đủ thông tin  
chính là cách thức bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, giúp trang  
bị cho họ vũ khí căn bản nhưng hết sức mạnh mẽ để tự bảo vệ  
quyền của mình.  
Bốn là, xây dựng và hoàn thiện các tổ chức xã hội dân sự:  
việc bảo đảm QCD trong hoạt động của các CQHCNN không thể  
không kể đến vai trò của các tổ chức xã hội dân sự. Do đó, cần tạo  
dựng cơ sở pháp lý vững chắc, tạo môi trường hoạt động và phát  
triển các tổ chức dân sự trong khuôn khổ pháp luật, theo đó: tạo  
cơ sở pháp lý để các cá nhân có thể tự do tham gia, thành lập, sinh  
hoạt trong các tổ chức xã hội dân sự; tạo cơ sở pháp lý để các tổ  
chức tự quản hoạt động tuân thủ pháp luật, phát huy được vai trò  
của các tổ chức này trong quản lý xã hội, đồng thời, trong khuôn  
khổ pháp luật, các tổ chức xã hội phải đề cao vai trò của mình  
nhằm hỗ trợ công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện  
tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, vai trò là đại diện hợp  
pháp bảo vệ quyền, lợi ích cho các thành viên, hướng các thành  
viên của họ trong đời sống thường ngày biết tuân thủ pháp luật,  
các quy tắc đạo đức, xây dựng xã hội lành mạnh; cần sớm ban  
hành Luật về Hội nhằm bảo đảm việc sử dụng và thực thi quyền  
tự do lập hội của người dân một cách hiệu quả, thúc đẩy, tạo môi  
trường hoạt động và phản biện của các tổ chức thuộc xã hội dân  
sự, đồng thời thống nhất quản lý nhà nước về hội.  
Hai là, trang bị phương tiện làm việc hiện đại và đảm bảo tốt  
vấn đề kinh phí: trong thời đại kỹ thuật công nghệ cao như hiện  
nay, chúng ta không thể không chú ý đến việc trang bị đầy đủ  
những phương tiện làm việc hiện đại, chất lượng, đồng thời, phải  
bảo đảm tốt vấn đề kinh phí phục vụ cho hoạt động này. Có như  
vậy, chúng ta mới nâng cao chất lượng bảo đảm QCD trong hoạt  
động của các CQHCNN. Một nội dung đáng lưu ý về kinh phí là  
ngân sách cho hoạt động của tòa án. Cần có một cơ chế phân bổ  
ngân sách hợp lý nhằm tăng cường sự độc lập tư pháp. Các giải  
pháp cần hướng tới hạn chế sự phụ thuộc ngân sách của tòa án  
vào Chính phủ, bảo đảm chế độ lương của thẩm phán tương xứng  
với vai trò của tòa án (cơ quan bảo vệ công lý).  
Năm là, thiết lập cơ chế tài phán Hiến pháp: tài phán Hiến  
pháp là một hình thức bảo hiến. Tuy nhiên, khi nhắc đến tài phán  
Hiến pháp là muốn nhấn mạnh đến vai trò của tư pháp trong việc  
giám sát, bảo vệ việc tuân thủ Hiến pháp trong hoạt động của các  
cơ quan nhà nước. Bảo vệ Hiến pháp cũng là bảo vệ các QCN,  
quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Các  
QCD được ghi nhận trong Hiến pháp có thể bị xâm hại trực tiếp  
bởi những hành vi của các chủ thể trong xã hội, bao gồm các  
cơ quan nhà nước trong quá trình thực thi quyền lập pháp, hành  
pháp, tư pháp hoặc các chủ thể xã hội khác. Trong đó, sự vi phạm  
hiến pháp trong hoạt động lập pháp có thể tạo nên sự tước đoạt  
hoặc hạn chế một quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp  
của tất cả các công dân trong một quốc gia. Hiện nay, Quốc hội  
vẫn là cơ quan giám sát tối cao đối với các hoạt động của các cơ  
quan nhà nước, đối với việc thi hành và tuân thủ Hiến pháp. Tức  
là ở nước ta chưa có một cơ chế để giám sát hiệu quả hoạt động  
của Quốc hội mà mới chỉ có chính Quốc hội giám sát hoạt động  
của mình. Cách thức vận hành này có thể tạo nên những nguy cơ  
vi hiến mà chúng tôi đã đề cập ở trên. Do vậy, để bảo hộ QCD  
được ghi nhận trong Hiến pháp một cách hữu hiệu, cần phải có  
một cơ chế bảo hiến độc lập.  
Ba là, nâng cao năng lực nguồn nhân lực: nâng cao năng lực  
và trau dồi nhận thức, đạo đức của các cán bộ, nhân viên thuộc  
bộ máy công quyền, đặc biệt là nhóm cơ quan hành chính và tư  
pháp. Bên cạnh đó, cần nâng cao tính độc lập và tính chịu trách  
nhiệm (chính trị, pháp lý) trong các cơ quan nhà nước thực hiện  
hoạt động bảo hộ pháp lý đối với công dân. Chỉ khi hoạt động  
tương đối độc lập, đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp, người có thẩm  
quyền thực hiện bảo hộ pháp lý đối với công dân mới thật sự  
công tâm, khách quan trong hoạt động của mình.  
Kết luận  
Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá một cách khái quát và hệ  
thống về thực trạng pháp luật và thực tiễn vận hành cơ chế bảo  
đảm QCD trong hoạt động của CQHCNN ở Việt Nam, lý giải  
nguyên nhân dẫn đến những bất cập, hạn chế trong thực trạng  
bảo hộ pháp lý đối với công dân ở Việt Nam, đề xuất các giải  
pháp về nâng cao hoạt động bảo đảm QCD trong hoạt động của  
CQHCNN trong nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện  
nay.  
Mặt khác, để bảo đảm tính chuyên trách, độc lập, đủ năng lực  
thực hiện vai trò bảo vệ Hiến pháp nói chung và bảo vệ chế độ  
pháp lý của công dân (là những quyền hiến định của công dân),  
chúng tôi kiến nghị việc thiết lập cơ chế bảo hiến với thiết chế là  
Tòa án Hiến pháp. Kiến nghị này xuất phát từ những ưu điểm đã  
được thừa nhận chung của Toà án Hiến pháp trong việc bảo đảm  
QCD trong hoạt động của các CQHCNN.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[2]Phạm Hữu Nghị (2010), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tổ  
chức và kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước trong quá trình xây dựng và  
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đề tài cấp bộ do Viện Nhà  
nước và Pháp luật chủ trì, tr121.  
[3] Hà Hùng Cường (2009), “Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu  
cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp,  
18(139+140), tr17-21.  
Nhóm giải pháp hỗ trợ  
Một là, trang bị đầy đủ thông tin: việc này giúp cơ chế vận  
63(4) 4.2021  
28  
pdf 6 trang Thùy Anh 17100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm quyền công dân trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_quyen_cong_dan_trong_hoat_dong_cua_cac_co_quan_hanh.pdf