Kĩ năng quản lí xung đột trong quan hệ bạn bè của học sinh Trung học Phổ thông

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Kĩ năng quản lí xung đột trong quan hệ bạn bè  
của học sinh trung học phổ thông  
Nguyễn Thanh Hùng  
TÓM TẮT: Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng kĩ năng quản lí xung đột  
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế  
32 Lê Lợi, thành phố Huế,  
trong quan hệ bạn bè của học sinh trung học phổ thông. Dữ liệu thu thập được  
từ 268 học sinh trung học phổ thông, tỉnh Thừa Thiên - Huế cho thấy kĩ năng  
này của học sinh trung học phổ thông đang còn hạn chế. Trên cơ sở kết quả  
nghiên cứu, một số kiến nghị đã được đề xuất nhằm hỗ trợ học sinh trung học  
phổ thông nâng cao kĩ năng quản lí xung đột.  
tỉnh Thừa Thiên - Huế, Việt Nam  
Email: tuanhung[email protected]  
TỪ KHÓA: Kĩ năng; quản lí xung đột; học sinh trung học phổ thông.  
Nhận bài 16/12/2018 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 10/01/2019 Duyệt đăng 25/01/2019.  
Các chiến lược được thể hiện rõ trong quy trình giải quyết  
1. Đặt vấn đề  
xung đột. Trên cơ sở cách tiếp cận đó, nghiên cứu đã sử  
dụng bảng hỏi của McClellan (1997) để đánh giá kĩ năng  
quản lí xung đột trong quan hệ bạn bè của HS THPT. Bảng  
hỏi bao gồm 40 item nhằm xác định 10 thành tố: (1) Nhìn  
nhận xung đột là quá trình tự nhiên và tích cực; (2) Thiết  
lập bầu không khí trước khi giải quyết xung đột; (3) Làm  
Ở lứa tuổi học sinh (HS) trung học phổ thông (THPT),  
quan hệ bạn bè chiếm vị trí quan trọng nhất đối với các em  
(Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, 1999).  
Các em có nhu cầu cao trong giao tiếp với bạn bè và chịu sự  
tác động lớn của bạn bè trên mọi phương diện. Tuy nhiên,  
cũng trong chính quan hệ này lại nảy sinh những xung đột  
xuất phát từ sự khác biệt về quan điểm, tính cách, hứng rõ vấn đề xung đột; (4) Tập trung vào nhu cầu chứ không  
thú..., và đòi hỏi các em phải biết cách quản lí xung đột phải điều mong muốn; (5) Giải quyết vấn đề trên cơ sở  
hợp lí. Các cách giải quyết xung đột HS học được trong bình đẳng quyền lực; (6) Tập trung vào tương lai và học  
quan hệ bạn bè có liên quan đến sự thành công trong các hỏi từ quá khứ; (7) Mở ra các phương án thay thế để đạt  
mối quan hệ dài hạn hay ngắn hạn của các em (Thayer, lợi ích song phương; (8) Phát triển những bước khả thi  
Updegraff & Delgado, 2008). Các nghiên cứu cho thấy kĩ có tính quyết định để hành động; (9) Lập thoả thuận đôi  
năng quản lí xung đột liên quan đến việc duy trì tình bạn bên cùng có lợi; và (10) Các yếu tố khác. Mỗi yếu tố bao  
ở tuổi vị thành niên (Hartup, 1993), sự thành công tại nơi gồm 4 item. Các item được đánh giá theo thang điểm: 1:  
làm việc (Tjosvold, 1998). Một số tác giả cho rằng kĩ năng Hầu như không bao giờ; 2: Thỉnh thoảng; 3: Khá thường  
quản lí xung đột là một trong những yếu tố quyết định quan xuyên; 4: Thường xuyên; 5: Hầu như luôn luôn. Bảng  
trọng nhất của chất lượng tình bạn (Crohan, 1992; Laursen hỏi có 12 item nghịch, đó là: 1, 3, 13, 18, 22, 24, 26, 27,  
& Collins 1994) và xung đột được xem là mối đe dọa lớn 31, 32, 33 và 35. Những item này cho điểm ngược lại: 5:  
nhất cho tình bạn (Selman, 1980; dẫn theo DeBates, 1999). Hầu như không bao giờ; 4: Thỉnh thoảng; 3: Khá thường  
Chính vì vậy, việc giáo dục cho HS trung học phổ thông kĩ xuyên; 2: Thường xuyên; 1: Rất thường xuyên. Tổng điểm  
năng quản lí xung đột là hết sức cần thiết.  
càng cao chứng tỏ kĩ năng giải quyết xung đột của HS  
Kĩ năng quản lí xung đột đóng vai trò rất quan trọng trong càng tốt.  
việc duy trì mối quan hệ giữa các cá nhân (Hartup, 1993,  
Bảng hỏi được tiến hành khảo sát trên 268 HS THPT,  
Laursen và Collins 1994). Lứa tuổi HS THPT là thời kì phát trong đó 89 em lớp 10, 90 em lớp 11 và 89 em lớp 12 của  
triển các kĩ năng xã hội trong các mối quan hệ bên ngoài  
gia đình, trong đó có kĩ năng quản lí xung đột. Cách HS  
giải quyết xung đột ở lứa tuổi này sẽ tác động lớn đến kĩ  
năng giải quyết xung đột ở lứa tuổi trưởng thành (DeBates,  
1999). Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã tiến hành  
nghiên cứu thực trạng kĩ năng quản lí xung đột trong quan  
hệ bạn bè của HS THPT, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến  
nghị nhằm nâng cao kĩ năng này cho HS.  
tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả khảo sát được xử lí bằng  
phần mềm SPSS 22.0. (Ghi chú: ĐTB: Điểm trung bình;  
ĐLC: Độ lệch chuẩn; R: item nghịch; Giá trị trung bình  
chung: 1 ≤ ĐTB ≤ 20).  
2.2. Thực trạng kĩ năng giải quyết xung đột trong quan hệ bạn  
bè của học sinh trung học phổ thông  
2.2.1. Đánh giá chung về kĩ năng giải quyết xung đột trong quan  
hệ bạn bè của học sinh trung học phổ thông  
Kết quả khảo sát ở Bảng 1 cho thấy nhìn chung các thành  
tố của kĩ năng giao tiếp ở mức trung bình, điểm số tập trung  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Khách thể và phương pháp nghiên cứu  
Trong nghiên cứu này, kĩ năng quản lí xung đột được vào phương án “Khá thường xuyên”. Điều này chứng tỏ  
hiểu là khả năng sử dụng các chiến lược khác nhau để kĩ năng giải quyết xung đột của HS THPT chưa cao (xem  
ngăn ngừa hoặc giải quyết xung đột một cách có hiệu quả. Bảng 1).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
60  
Nguyễn Thanh Hùng  
Durán, 2017; de Wied, Branje & Meeus, 2007).  
Bảng 1: Kĩ năng giải quyết xung đột trong quan hệ bạn bè của  
HS THPT  
Nghiên cứu cũng đã tìm hiểu kĩ năng giải quyết xung đột  
dưới lát cắt giới tính và khối học, song nhìn chung không  
có sự khác biết về mặt thống kê giữa HS nam và HS nữ  
(t=1.16; p>0.05), HS lớp 10, lớp 11 và lớp 12 (F=1.97;  
p>0.05). Như vậy, các đối tượng HS đều gặp khó khăn ở  
mức độ khá tương đồng ở kĩ năng giải quyết xung đột trong  
quan hệ bạn bè.  
STT  
Các thành tố của kĩ năng  
giải quyết xung đột  
ĐTB  
ĐLC  
2.71  
3.59  
Nhìn nhận xung đột là quá trình tự nhiên 13.81  
và tích cực  
1
Thiết lập bầu không khí trước khi giải 12.44  
quyết xung đột  
2
3
4
2.2.2. Các biểu hiện của kĩ năng giải quyết xung đột trong quan  
hệ bạn bè của học sinh trung học phổ thông  
Làm rõ vấn đề xung đột  
12.16  
3.71  
3.13  
a. Nhìn nhận về xung đột là quá trình tự nhiên và tích cực  
Khi xung đột xảy ra, việc nhìn nhận xung đột trong quan  
hệ bạn bè là quá trình tự nhiên và tích cực có thể giúp HS  
bình tĩnh và lựa chọn cách giải quyết xung đột hợp lí. Đây  
là thành tố đầu tiên cần có khi tiến hành giải quyết xung  
đột. Quá trình nhận thức sẽ định hướng cho việc đưa ra  
những cách giải quyết xung đột phù hợp. Tuy nhiên, dữ  
liệu ở Bảng 2 (cho thấy HS THPT vẫn còn hạn chế ở thành  
tố này. Điều này thể hiện ở các phương án lựa chọn ở các  
nhận định chủ yếu ở mức “Khá thường xuyên”. Vẫn còn  
khá nhiều HS “thường xuyên” và “rất thường xuyên” nhìn  
thấy “xung đột là một trải nghiệm tiêu cực” và “sợ đối đầu”  
(tỉ lệ phần trăm lần lượt là 30.9%, 24.2%). Bên cạnh đó,  
nhiều HS “hầu như không bao giờ” và “thỉnh thoảng” mới  
nhận thấy “Khi giải quyết xong vấn đề xung đột, mối quan  
hệ của tôi được cải thiện” và “Tôi cảm thấy xung đột sẽ  
khiến mọi người bị tổn thương” (tỉ lệ phần trăm lần lượt là  
44.0%, 31.7%) (xem Bảng 2).  
Tập trung vào nhu cầu chứ không phải 12.65  
điều mong muốn  
Giải quyết vấn đề trên cơ sở bình đẳng 12.62  
về quyền lực  
3.04  
2.88  
2.48  
2.76  
5
6
7
8
Tập trung vào tương lai và học hỏi từ 13.09  
quá khứ  
Mở ra các phương án thay thế để đạt lợi 13.16  
ích song phương  
Phát triển những bước khả thi có tính 12.07  
quyết định để hành động  
9
Lập thoả thuận đôi bên cùng có lợi  
Các yếu tố khác  
11.96  
11.36  
2.27  
3.39  
10  
Trong thời gian vừa qua, những vụ bạo lực học đường có  
xu hướng gia tăng. Các cuộc va chạm, đánh nhau của HS  
trong các trường học đang ở mức báo động. Theo Báo Pháp  
luật và Đời sống, dù chưa có thống kê đầy đủ về tỉ lệ bạo  
lực học đường nhưng theo khảo sát gần đây của Bộ Giáo  
dục và Đào tạo, cứ hơn 11.000 HS thì có một em bị buộc  
thôi học vì đánh nhau, cứ 9 trường thì có một trường có HS  
đánh nhau. Nạn bạo lực học đường đang gia tăng, đặc biệt  
trong nhóm HS trung học cơ sở và THPT. Một trong những  
nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là sự hạn chế của kĩ  
năng giải quyết xung đột. Chính vì vậy, các nhà trường cần  
có những biện pháp để nâng cao kĩ năng này cho HS THPT.  
Trong nghiên cứu này, kĩ năng giải quyết xung đột thể  
hiện rõ trong quá trình giải quyết xung đột. Khi hình thành  
kĩ năng giải quyết xung đột cho HS, cần chú ý đến đầy đủ  
các thành tố, từ việc giáo dục cách nhìn nhận tích cực về  
quá trình xung đột; cách thiết lập bầu không khí trước khi  
giải quyết xung đột; làm rõ vấn đề xung đột; tìm hiểu nhu  
cầu của hai bên; cách giải quyết hướng đến thoả mãn nhu  
cầu của hai bên và mối quan hệ lâu dài; giải quyết vấn đề  
trên cơ sở bình đẳng quyền lực, tính đến những phương án  
Bảng 2: Biểu hiện của thành tố nhìn nhận xung đột là quá trình  
tự nhiên và tích cực  
STT  
Biểu hiện  
ĐTB  
ĐLC  
1R  
Tôi thấy xung đột là một trải nghiệm tiêu 3.38  
cực.  
1.53  
2
Khi giải quyết xong vấn đề xung đột, mối 3.24  
quan hệ của tôi được cải thiện.  
1.46  
3R  
Tôi sợ đối đầu.  
3.66  
1.33  
1.44  
4
Tôi cảm thấy xung đột sẽ khiến mọi người 3.53  
bị tổn thương.  
Trung bình chung  
13.81  
2.71  
Trong giáo dục kĩ năng giải quyết xung đột cho HS THPT,  
cần tác động đến nhận thức của HS giúp HS thay đổi nhận  
thay thế và lập thoả thuận để đôi bên đều cảm giác “thắng”. thức về xung đột, nhìn nhận xung đột theo hướng tích cực:  
Mục tiêu của giải quyết xung đột không chỉ giải quyết được Xung đột không hẳn là trải nghiệm tiêu cực; khi giải quyết  
vấn đề xung khắc mà các mối quan hệ được thiết lập và duy xong vấn đề xung đột, các mối quan hệ sẽ được cải thiện  
trì bền vững, chính vì vậy, HS cần được dạy về các kĩ năng hơn vì đây là cơ hội để mọi người hiểu nhau hơn và điều  
cảm xúc - xã hội như: Quản lí cảm xúc, kĩ năng lắng nghe, chỉnh mọi hành vi của nhau cho phù hợp.  
kĩ năng đồng cảm, kĩ năng giao tiếp không bạo lực... Nhiều  
nghiên cứu đã cho thấy có mối quan hệ giữa các kĩ năng  
b. Thiết lập bầu không khí trước khi giải quyết xung đột  
Khởi đầu với việc tạo dựng bầu không khí có tác dụng  
này với kĩ năng giải quyết xung đột (Leung, 2010; Nose & thúc đẩy quan hệ đối tác và giải quyết vấn đề hiệu quả. Dữ  
Số 13 tháng 01/2019  
61  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Bảng 3: Biểu hiện của thành tố thiết lập bầu không khí trước khi Bảng 4: Biểu hiện của thành tố làm rõ vấn đề xung đột  
giải quyết xung đột  
STT Biểu hiện  
ĐTB  
ĐLC  
STT  
Biểu hiện  
ĐTB  
ĐLC  
1
2
Tôi thường nói rõ cảm xúc của mình khi 3.05  
giải quyết xung đột.  
1.49  
1
Trước một cuộc thảo luận về vấn đề 3.09  
xung đột, tôi thường cố gắng sắp xếp  
để cả hai bên đều thuận tiện về mặt  
thời gian và hoàn cảnh.  
1.45  
Khi xảy ra vấn đề xung đột, tôi thường 3.26  
đưa ra các câu hỏi để làm rõ những vấn  
đề mình chưa chắc chắn.  
1.37  
1.38  
2
3
Tôi cảm thấy nơi xung đột nảy sinh 2.85  
cũng rất quan trọng.  
1.39  
1.41  
3
Tôi thường cố nắm bắt việc nhìn nhận 3.16  
tiêu cực và tích cực của mình về chính  
bản thân có thể ảnh hưởng đến cách giải  
quyết xung đột của mình ra sao.  
Khi họp mặt để bàn bạc về vấn đề xung 3.29  
đột, tôi thường cố gắng làm mọi người  
cảm thấy thoải mái.  
4
Khi nảy sinh xung đột, phản ứng của tôi 2.69  
thường phụ thuộc vào việc tôi cho rằng  
bên còn lại nhìn nhận thế nào về mình.  
1.37  
3.71  
4
Khi bắt đầu một cuộc thảo luận về 3.21  
vấn đề xung đột với một bên khác,  
tôi thường lựa chọn lời phát biểu mở  
đầu thật cẩn thận nhằm thiết lập các kì  
vọng thực tế mang tính tích cực.  
1.42  
Trung bình chung  
12.16  
phương án để giải quyết. Tuy nhiên, thực tế khảo sát cho  
thấy còn khá nhiều HS gặp lúng túng trong việc xác định  
nguyên nhân của các xung đột, khi đối mặt với các xung đột  
các em vẫn còn những phản ứng tiêu cực. Rất nhiều HS cho  
rằng “Thường xuyên” “khi nảy sinh xung đột, phản ứng của  
tôi thường phụ thuộc vào việc tôi cho rằng bên còn lại nhìn  
nhận thế nào về mình”. Nguyên nhân của các xung đột có  
từ nhiều phía, tuy nhiên khi xảy ra xung đột, bản thân HS  
phải nhìn nhận lại chính mình.  
d. Tập trung vào nhu cầu chứ không phải điều mong muốn  
Ở trong bước này, cả hai bên cần nhận biết nhu cầu của  
nhau trong tình huống nảy sinh xung đột. Xung đột chỉ giải  
quyết hiệu quả khi đặt trọng tâm vào nhu cầu chứ không  
phải những đòi hỏi, ham muốn cá nhân. Thực tế, nhu cầu  
thật sự và mong muốn cá nhân trong giải quyết xung đột là  
khác nhau. Nếu tập trung vào những mong muốn cá nhân,  
con người có khuynh hướng đòi hỏi người khác phải đáp  
ứng. Trong thành tố này, HS hạn chế nhất ở biểu hiện: “Khi  
xảy ra xung đột, tôi thường cố phân biệt giữa nhu cầu chính  
yếu và mong muốn thứ yếu”. Chỉ có 37.6% HS “thường  
xuyên” và “rất thường xuyên” (xem Bảng 5).  
Ngoài ra, số liệu ở Bảng 5 cho thấy còn nhiều HS chưa  
thực hiện thường xuyên những hành động nhằm làm rõ nhu  
cầu của hai bên như: “Để không làm tổn hại mối quan hệ,  
tôi có thể tạm thời bỏ qua những ham muốn ít quan trọng  
của bản thân”, “Tôi thấy cần phải xem xét kĩ nhu cầu của  
mọi bên liên quan nếu muốn mối quan hệ được lâu dài”.  
Thậm chí, không ít HS chỉ tập trung vào nhu cầu của bản  
thân mà không coi trọng nhu cầu của bạn bè: “Tôi cảm thấy  
điều quan trọng duy nhất là nhu cầu của bản thân”.  
Trung bình chung  
12.44  
3.59  
liệu ở Bảng 3 cho thấy HS còn hạn chế về vấn đề này. Nhiều  
HS “hầu như không bao giờ” và “thỉnh thoảng” mới nhận  
thấy “Tôi cảm thấy nơi xung đột nảy sinh cũng rất quan  
trọng”, “Trước một cuộc thảo luận về vấn đề xung đột, tôi  
thường cố gắng sắp xếp để cả hai bên đều thuận tiện về mặt  
thời gian và hoàn cảnh”, “Khi họp mặt để bàn bạc về vấn  
đề xung đột, tôi thường cố gắng làm mọi người cảm thấy  
thoải mái” và “Khi bắt đầu một cuộc thảo luận về vấn đề  
xung đột với một bên khác, tôi thường lựa chọn lời phát  
biểu mở đầu thật cẩn thận nhằm thiết lập các kì vọng thực  
tế mang tính tích cực” (tỉ lệ phần trăm lần lượt là: 49.7%,  
43.6%, 38.1% và 34.7%) (xem Bảng 3).  
Giáo dục kĩ năng xung đột trong quan hệ bạn bè cần  
hướng dẫn cho các em biết cách lựa chọn không gian và  
thời gian phù hợp với hai bên, tạo không khí thoải mái và  
cân nhắc những lời mở đầu một cách cẩn thận để giảm thiểu  
căng thẳng cho hai bên.  
c. Làm rõ vấn đề xung đột  
Đặc trưng của thành tố này là khi giải quyết xung đột, HS  
có thể tách bản thân mình ra khỏi vấn đề xung đột để nhìn  
nhận vấn đề một cách thấu đáo, toàn diện cũng như chấp  
nhận các cảm xúc thực của mình trong tình huống (xem  
Bảng 4).  
Tương tự như ở các thành tố trên, thành tố “Làm rõ vấn  
đề xung đột” của HS còn hạn chế. 45.2% HS cho rằng “hầu  
như không bao giờ” và “thỉnh thoảng” “nói rõ cảm xúc của  
mình khi giải quyết xung đột”. Tỉ lệ phần trăm lựa chọn các  
phương án này ở các nhận định “Khi xảy ra vấn đề xung  
đột, tôi thường đưa ra các câu hỏi để làm rõ những vấn đề  
mình chưa chắc chắn”, “Tôi thường cố nắm bắt việc nhìn  
nhận tiêu cực và tích cực của mình về chính bản thân có thể  
ảnh hưởng đến cách giải quyết xung đột của mình ra sao”  
chiếm khá cao (36.2% và 37.3%). Trong giải quyết xung  
đột, nếu bản thân mỗi HS nhận thấy nguyên nhân dẫn đến  
e. Giải quyết vấn đề trên cơ sở bình đẳng quyền lực  
Thành tố này hướng tới tạo dựng quyền lực ngang hàng  
để mang lại quan hệ lâu dài, qua đó mở ra hướng giải quyết  
xung đột hiệu quả hơn. Nhìn một cách tổng quát, HS vẫn  
còn hạn chế nhiều ở thành tố này. Song nếu xét ở các biểu  
hiện cụ thể thì thu được kết quả đáng khích lệ: Khá nhiều  
xung đột là do đâu, thì rất thuận lợi trong việc tiếp cận các HS không cho rằng “Tôi cảm thấy việc chế ngự người khác  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
62  
Nguyễn Thanh Hùng  
Bảng 5: Biểu hiện của thành tố tập trung vào nhu cầu chứ không Bảng 7: Biểu hiện của thành tố tập trung vào mối quan hệ tương lai  
phải điều mong muốn  
STT  
Biểu hiện  
ĐTB  
ĐLC  
1.42  
1.31  
STT  
Biểu hiện  
ĐTB  
ĐLC  
1
Tôi dễ dàng tha thứ.  
3.12  
1R  
Tôi cảm thấy điều quan trọng duy nhất là 3.37  
nhu cầu của bản thân.  
1.35  
2R  
Tôi thường nhắc đến những vấn đề trong 3.50  
quá khứ khi xung đột xảy ra.  
2
3
4
Tôi thấy cần phải xem xét kĩ nhu cầu của 3.21  
mọi bên liên quan nếu muốn mối quan hệ  
được lâu dài.  
1.44  
1.44  
1.38  
3.13  
3
Khi giải quyết xung đột, tôi thường cân 2.91  
nhắc về tương lai của các mối quan hệ  
lâu dài.  
1.35  
Khi xảy ra xung đột, tôi thường cố phân 2.95  
biệt giữa nhu cầu chính yếu và mong  
muốn thứ yếu.  
4R  
Khi xảy ra xung đột, tôi thường cố lấn át 3.55  
bên còn lại.  
1.39  
2.88  
Trung bình chung  
13.09  
Để không làm tổn hại mối quan hệ, tôi có 3.12  
thể tạm thời bỏ qua những ham muốn ít  
quan trọng của bản thân.  
Bảng 8: Biểu hiện của thành tố mở ra các phương án thay thế để  
đạt lợi ích song phương  
Trung bình chung  
12.65  
STT  
Biểu hiện  
ĐTB  
ĐLC  
Bảng 6: Biểu hiện của thành tố giải quyết vấn đề trên cơ sở bình  
đẳng quyền lực  
1
Tôi thường sẵn sàng lắng nghe các 3.24  
phương án thay thế.  
1.40  
2R  
3R  
Tôi thường cảm thấy chỉ có duy nhất 3.63  
một cách để giải quyết vấn đề.  
1.33  
1.30  
STT  
Biểu hiện  
ĐTB  
ĐLC  
1
Tôi thường chia sẻ thái độ tích cực của 3.08  
mình với hi vọng người khác cũng sẽ làm  
tương tự.  
1.46  
Khi xử lí xung đột, thường có những 3.40  
định kiến về bên còn lại mà tôi không  
hề muốn xóa đi.  
2R  
3
Tôi cảm thấy việc chế ngự người khác để 3.84  
đạt được điều mình mong muốn là cần  
thiết.  
1.33  
1.26  
4
Tôi có thể chấp nhận chỉ trích từ các 2.88  
bên còn lại.  
1.35  
2.48  
Tôi hiểu được bên còn lại cũng cần cảm 2.59  
thấy rằng mình có khả năng kiểm soát  
xung đột.  
Trung bình chung  
13.16  
đến cách giải quyết hướng đến mối quan hệ trong tương lai.  
Điều này thể hiện ở dữ liệu: Số lượng HS lựa chọn phương  
án “hầu như không bao giờ” và “thỉnh thoảng” ở nhận định  
ở nhận định “Khi giải quyết xung đột, tôi thường cân nhắc  
về tương lai của các mối quan hệ lâu dài” và “Tôi dễ tha  
thứ” chiếm tỉ lệ khá nhá lớn, lần lượt là 44.8% và 42.2%  
(xem Bảng 7).  
Ngoài ra, một bộ phận HS vẫn còn “thường nhắc đến  
những vấn đề trong quá khứ khi xung đột xảy ra” và  
“thường cố lấn át bên còn lại” khi giải quyết xung đột.  
Học từ những kinh nghiệm trong quá khứ là điều cần thiết,  
tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc nhắc những  
chuyện cũ liên quan đến xung đột đã xảy ra. Điều này có  
thể khiến cho xung đột thêm trầm trọng. Thêm vào đó,  
thái độ lấn át bên còn lại có thể khiến đối phương phản  
ứng mạnh mẽ hơn.  
4
Tôi tin rằng không nên tồn tại khái niệm 3.11  
“người trên - kẻ dưới” trong xung đột.  
1.58  
3.04  
Trung bình chung  
12.62  
để đạt được điều mình mong muốn là cần thiết”. Điều này  
thể hiện qua dữ liệu 67.1% HS “hầu như không bao giờ” và  
“thỉnh thoảng” cảm thấy như vậy (xem Bảng 6).  
Tuy nhiên, vẫn còn không ít HS chưa tin tưởng rằng  
“không nên tồn tại khái niệm “người trên - kẻ dưới” trong  
xung đột” và “chia sẻ thái độ tích cực của mình với hi vọng  
người khác cũng sẽ làm tương tự”.  
Nhiều người cho rằng xung đột chỉ được giải quyết khi  
áp đảo được đối phương. Song thực tế cho thấy với phương  
cách này, mối quan hệ giữa hai bên sẽ không được bền  
vững. Mọi vấn đề sẽ giải quyết ổn thoả khi cả hai bên cảm  
thấy mình ngang bằng về mặt quyền lực và họ có thể nói  
rõ những cảm xúc, nhu cầu thực sự của bản thân cũng như  
g. Mở ra các phương án thay thế để đạt lợi ích song phương  
Đặc trưng của thành tố này là quá trình giải quyết xung  
các phương án giải quyết. Đây chính là cơ sở cho mối quan đột hướng tới nhiều phương án thay thế để đảm bảo lợi ích  
hệ lâu bền.  
f. Tập trung vào mối quan hệ tương lai  
của hai bên. Để đạt được điều này, đòi hỏi HS phải biết lắng  
nghe các phương án thay thế và thậm chí có thể chấp nhận  
Thành tố này nhấn mạnh nhu cầu học hỏi từ các sự kiện sự chỉ trích của bên còn lại về phương án của mình để từ  
trong quá khứ, đồng thời chú trọng các định hướng cho đó cùng nhau thảo luận, trao đổi để tìm ra phương án khả  
tương lai. Dữ liệu ở Bảng 7 cho thấy nhiều HS chưa nghĩ thi. Tuy nhiên, dữ liệu ở Bảng 8 chỉ ra rằng HS còn hạn chế  
Số 13 tháng 01/2019  
63  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Bảng 9: Biểu hiện của thành tố phát triển những bước khả thi có  
tính quyết định để hành động  
STT  
Biểu hiện  
ĐTB  
ĐLC  
1
Với tôi, thắng cả cuộc chiến quan trọng 2.94  
hơn nhiều so với thắng một trận đánh.  
1.50  
2
Tôi thường cố giải quyết vấn đề xung đột 3.11  
một cách triệt để và thực sự hơn là dàn  
xếp một thỏa thuận tạm thời.  
1.41  
1.43  
3R  
4R  
Khi đối phó với vấn đề xung đột, tôi 3.00  
thường có sẵn giải pháp để mang lại kết  
quả cần thiết.  
(Ghi chú: C.33. Với tôi, thành công nghĩa là “tôi  
thắng - anh thua”; C.34. Khi nảy sinh xung đột với người  
khác, tôi thường yêu cầu người đó giải thích về vị trí của họ  
để biết được những mối quan tâm của họ; C.35. Tôi thường  
mặc cả, đưa ra những đòi hỏi trong giải quyết xung đột;  
C.36. Khi xung đột sắp sửa được giải quyết, tôi thường quan  
tâm đến việc nhu cầu của bên còn lại cũng như của bản thân  
có được đáp ứng hay không)  
Tôi cảm thấy mình cần phải kiểm soát 3.02  
cuộc tranh luận.  
1.40  
2.76  
Trung bình chung  
12.07  
về những vấn đề này. 44.4% HS “hầu như không bao giờ”  
và “thỉnh thoảng” “chấp nhận chỉ trích từ các bên còn lại”.  
Một số HS chia sẻ rằng rất khó chấp nhận những lời góp ý,  
nhận xét của người khác bởi lúc đó lòng tự trọng của bản  
thân cao, muốn chứng tỏ cho người khác thấy phương án  
mình đưa ra là đúng và hợp lí. Thêm vào đó, khi người khác  
nhận xét, đánh giá không tốt về phương án của mình đưa ra,  
có cảm giác như bản thân đang bị người khác coi thường,  
hạ thấp. Vì thế, phản ứng phổ biến là cãi lại, cố gắng bảo vệ  
quan điểm của mình (xem Bảng 8).  
Biểu đồ 1: Biểu hiện của thành tố lập thoả thuận đôi bên  
cùng có lợi  
h. Phát triển những bước khả thi có tính quyết định để  
hành động  
Vấn đề cốt lõi ở thành tố này là hướng tới các mục tiêu  
thực tế để giải quyết vấn đề một cách triệt để, tối ưu chứ  
không phải là giải quyết tạm thời. Các mục tiêu này chỉ  
thiết lập tốt khi cả hai bên cùng ngồi lại, trao đổi với nhau.  
Bảng dữ liệu 9 dưới đây cho thấy rõ các biểu hiện của thành  
tố này (xem Bảng 9).  
(Ghi chú: C.37. Tôi thường bộc lộ cơn giận theo cách chỉ  
để thể hiện cảm xúc của tôi mà không đánh giá, phán xét  
đối phương; C.38. Khi gặp phải các vấn đề xung đột khó  
giải quyết, tôi sẽ cân nhắc việc yêu cầu người giúp đỡ từ  
một bên thứ ba; C.39. Tôi thường bỏ qua cơn giận của đối  
phương để nhằm tập trung vào các vấn đề thực tế đối với  
xung đột; C.40. Tôi thấy đôi khi các bên cần phải đồng  
thuận rằng quan điểm của nhau về các vấn đề cụ thể trong  
một vụ xung đột là trái ngược và việc tiếp tục tranh cãi sẽ  
chẳng đi đến đâu)  
i. Lập thoả thuận đôi bên cùng có lợi  
Kết thúc quá trình giải quyết xung đột là những thoả  
thuận được hình thành. Thoả thuận tốt nhất là thoả mãn nhu  
cầu của hai bên hay nói cách khác cả hai bên đều cảm thấy  
“thắng lợi”. Đây chính là cơ sở để xây dựng mối quan hệ  
lâu dài. Kết quả khảo sát ở Biểu đồ 1 cho thấy khá nhiều  
HS nhận thức được điều này. 66.1% HS “hầu như không  
bao giờ” và “thỉnh thoảng” quan niệm: “Với tôi, thành công  
nghĩa là “tôi thắng - anh thua” (xem Biểu đồ 1).  
Tuy nhiên, dữ liệu khảo sát cũng cho thấy HS còn những  
hạn chế trong thành tố này như: Nhiều HS vẫn “thường mặc  
cả, đưa ra những đòi hỏi trong giải quyết xung đột”; chưa  
thường xuyên “yêu cầu người đó giải thích về vị trí của họ  
để biết được những mối quan tâm của họ” và “quan tâm  
đến việc nhu cầu của bên còn lại cũng như của bản thân có  
được đáp ứng hay không”.  
Biểu đồ 2: Các yếu tố khác  
vào vấn đề cần giải quyết chứ không phải cảm xúc; chấp  
nhận sự khác biệt giữa hai bên; nhờ người thứ ba giúp đỡ  
khi cần thiết. Dữ liệu ở Biểu đồ 2 cho thấy HS còn hạn chế  
ở những khả năng này. Phần lớn điểm trung bình ở các nhận  
định đều dưới 3 điểm (Xem Biểu đồ 2).  
k. Các yếu tố khác  
Để giải quyết xung đột thành công và hướng tới mối quan  
hệ lâu dài, HS cần phải biết cách bộc lộ cơn giận phù hợp,  
3. Kết luận  
Kĩ năng quản lí xung đột tác động lớn đến tính chất các  
tránh phán xét, đánh giá đối phương khi tức giận; tập trung mối quan hệ bạn bè ở lứa tuổi HS THPT. Kết quả khát sát  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
64  
Nguyễn Thanh Hùng  
cho thấy nhìn chung kĩ năng mềm này của HS còn hạn chế, về tầm quan trọng và các thành tố cấu thành nên kĩ năng  
cần phải rèn luyện và cải thiện nhiều để có thể giải quyết quản lí xung đột; (2) Tập huấn kĩ năng quản lí xung đột  
hiệu quả các xung đột trong quan hệ bạn bè. Để nâng cao trong quan hệ bạn bè cho HS THPT dưới sự hướng dẫn của  
kĩ năng quản lí xung đột cho HS THPT, các nhà trường cần chuyên gia; (3) Phát triển các kĩ năng cảm xúc - xã hội liên  
lưu ý một số biện sau như: (1) Nâng cao nhận thức cho HS quan đến kĩ năng quản lí xung đột cho HS.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Crohan, S. E., (1992), Marital happiness and spousal  
consensus on beliefs about marital conflict:  
[7] Laursen, B., & Collins, W. A., (1994), Interpersonal  
conflict during adolescence, Psychological Bulletin, 115,  
197-209.  
[8] Leung, Y.F., (2010), Conflict management and emotional  
intelligence, DBA thesis, Southern Cross University,  
Lismore, NSW.  
[9] Nose, M. & Durán, M., (2017), Increasing Empathy  
and Confict Resolution Skills through Nonviolent  
Communication (NVC) Training in Latino Adults and  
Youth, Nursing and Health Professions Faculty Research  
nursing_fac/120  
[10] McClellan, J., (1997), Guideline for conflict resolution:  
Learning from the survey. Available from http://www.  
qvctc.commnet.edu/classes/ssci121/ lrnsrvy.html  
[11] Tjosvold, D., (1998), Cooperative and competitive  
goal approach to conflict: Accomplishments and  
challenges, Applied Psychology: An International  
Review, 47, 285-342.  
A
longitudinal investigation, Journal of Social and Personal  
Relationships, 9, 89-102.  
[2] DeBates, Debra Ann, (1999), Adolescents and conflict  
with peers: relationships between personality factors and  
conflict resolution strategies. Retrospective Theses and  
[3] de Wied, M., Branje, S. J.T., and Meeus, W. H.J., (2007),  
Empathy and Conflict Resolution in Friendship Relations  
Among Adolescents. Aggressive Behavior, 33, 48-55.  
[4] Đời sống và Pháp luật, Bạo lực học đường, Truy cập  
kien/538/bao-luc-hoc-duong.html  
[5] Hartup, W. W., (1993), Adolescents and their friends. In  
B. Laursen (Ed.), New directions for child development:  
Close friendships in adolescence (pp. 3-22), San  
Francisco: Jossey-Bass Publishers.  
[6] Lê Văn Hồng - Lê Ngọc Lan - Nguyễn Văn Thàng,  
(1999), Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm, NXB  
Đại học Quốc gia Hà Nội.  
CONFLICT MANAGEMENT SKILLS IN THE FRIENDSHIP OF HIGH SCHOOL  
STUDENTS  
Nguyen Thanh Hung  
Hue University of Education - Hue University  
33 Le Loi, Hue city, Thua Thien - Hue province, Vietnam  
Email: tuanhung[email protected]  
ABSTRACT:Thepurposeofthisstudywastoexaminetheconflictmanagement  
skills in the friendship of high school students. The data collected from 268  
high school students in Thua Thien Hue province showed that this skill  
of high school students was still limited. Based on the research results, a  
number of recommendations were also proposed to support high school  
students to improve their conflict management skills.  
KEYWORDS: Skills; conflict management; high school students.  
Số 13 tháng 01/2019  
65  
pdf 6 trang Thùy Anh 16420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kĩ năng quản lí xung đột trong quan hệ bạn bè của học sinh Trung học Phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfki_nang_quan_li_xung_dot_trong_quan_he_ban_be_cua_hoc_sinh_t.pdf