Khảo sát thực trạng stress, rối loạn lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ và các trị liệu được sử dụng trên đối tượng sinh viên Hutech

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG STRESS, RỐI LOẠN LO ÂU,  
TRẦM CẢM, RỐI LOẠN GIẤC NGỦ VÀ CÁC TRỊ LIỆU  
ĐƯỢC SỬ DỤNG TRÊN ĐỐI TƯỢNG SINH VIÊN HUTECH  
Phan Quang Trường, Lê Thị Mỹ Duyên, Vương Đình Thúy Hiền*  
Khoa Dược, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Phương Trang  
TÓM TẮT  
Tình trạng stress, lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ ngày càng gia tăng trong xã hội hiện đại.  
Đặc biệt, tỷ lệ này ngày càng tăng   những người trẻ tuổi, đặc biệt là học sinh, sinh viên.  
Khảo sát về thực trạng stress, rối loạn lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ và các trị liệu được  
sử dụng thực hiện bằng nghiên cứu mô tả cắt ngang   sinh viên khoa Dược và khoa Quản  
trị kinh doanh, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH) tháng 3-4/2021, sử  
dụng thang đánh giá DASS 21 và thang đo PSQI. Kết quả   501 sinh viên, tỷ lệ lo âu, trầm  
cảm và stress lần lượt là 57.09%, 50.9%, 48.5%. Đặc biệt, sinh viên nữ mắc stress nhiều  
hơn sinh viên nam   mức độ nặng và rất nặng. Về chất lượng giấc ngủ của 211 sinh viên, có  
đến 73% kém và 27% tốt. Do đó  cần có phương án hướng dẫn sinh viên cách đối phó với  
áp lực trong học tập, cuộc sống và thêm nhiều nghiên cứu khác nhằm nâng cao sức khỏe  
tâm thần của sinh viên HUTECH.  
Từ khóa: lo âu, rối loạn giấc ngủ, sinh viên khoa Dược - khoa Quản trị Kinh doanh  
HUTECH, stress, trầm cảm.  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Với sự phát triển không ngừng của xã hội, áp lực đến từ nhiều khía cạnh khác nhau gây  
nên những vấn đề về sức khỏe tâm thần như stress, rối loạn lo âu, trầm cảm. Bên cạnh  
đó  chất lượng giấc ngủ cũng giảm sút. Đáng chú ý, nhiều nghiên cứu thực hiện   các  
trường đại học cho thấy tỷ lệ này ngày càng tăng   sinh viên, nhất là   các khối ngành Y,  
Dược [1,2,3,7,8,11]. Tuy vậy, đến nay chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh nào về thực trạng  
sức khỏe tâm thần của sinh viên chính quy của trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ  
Chí Minh (HUTECH), nhất là của khoa Dược và khoa Quản trị kinh doanh (QTKD) được  
công bố. Do đó  đề tài: “Khảo sát thực trạng stress, rối loạn lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc  
ngủ và các trị liệu được sử dụng trên đối tượng sinh viên HUTECH” được thực hiện   sinh  
viên hai khoa này với mục tiêu: Đánh giá mức độ và phân tích những yếu tố liên quan về  
stress, lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ cũng như các biện pháp trị liệu   các sinh viên  
tham gia khảo sát.  
647  
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1 Đối tượng nghiên cứu  
Sinh viên năm nhất và năm cuối thuộc khoa Dược, khoa Quản trị Kinh doanh – ĐH.  
HUTECH TP.HCM năm học 2020 – 2021.  
2.2 Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang qua khảo sát bằng bảng hỏi, được tiến hành  
từ tháng 03-04/2021.  
2.3 Công cụ nghiên cứu: Bảng hỏi gồm:  
Câu hỏi khảo sát về thông tin cá nhân.  
Thang đo DASS 21 (Depression Anxiety Stress Scale 21): 21 câu hỏi, đánh giá mức độ  
trầm cảm,lo âu, stress [9] theo bảng dưới đâ :  
Bảng 1. Thang đo DASS 21 (Depression Anxiety Stress Scale 21)  
Mức độ  
Bình thường  
Nhẹ  
Trầm cảm  
0 – 9  
Lo âu  
0 – 7  
Stress  
0 – 14  
15 – 18  
19 – 25  
26 – 33  
≥34  
10 – 13  
14 – 20  
21 – 27  
≥2  
8 – 9  
Vừa  
10 – 14  
15 – 19  
≥20  
Nặng  
Rất nặng  
Thang đo PSQI: để đánh giá chất lượng giấc ngủ, số điểm dao động từ 0-21 điểm, chất  
lượng giấc ngủ kém nếu tổng điểm PSQI > 5 [10].  
2.4 Biến số  
Biến phụ thuộc: tình trạng lo âu, trầm cảm, stress theo thang đo DASS21; tình trạng chất  
lượng giấc ngủ theo thang đo PSQI.  
Biến độc lập: tuổi, giới tính, khoa/viện, năm học của sinh viên, nơi   hiện tại.  
2.5 Phương pháp phân tích số liệu:  
Xử lý số liệu bằng Excel và Minitab 19. Phương pháp chi bình phương được thực hiện để so  
sánh tỷ lệ phổ biến có ý nghĩa lâm sàng (P-value < 0.05) các triệu chứng stress,lo âu, trầm  
cảm và rối loạn giấc ngủ giữa các nhóm.  
2.6 Vấn đề y đức  
Nghiên cứu không ảnh hư ng đến sức khỏe, tài chính và riêng tư của sinh viên. Thông tin  
của phiếu khảo sát được giữ bí mật. Sinh viên được cung cấp rõ ràng, đầy đủ thông tin liên  
quan đến mục tiêu và nội dung nghiên cứu.  
648  
3 KẾT QUẢ  
3.1 Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm  
Kết quả khảo sát 501 sinh viên HUTECH của khoa Dược và khoa QTKD, trong đó nam: 150  
(29,94%), nữ: 351(70,06%), tuổi từ 18 đến 43, cho thấy, có 50,9% sinh viên biểu hiện trầm  
cảm 5,09% sinh viên biểu hiện lo âu và 48,5% sinh viên biểu hiện stress (Bảng 2).  
Bảng 2. Tỷ lệ và mức độ rối loạn  
Mức độ  
Trầm cảm  
Lo âu  
Stress  
Bình thường  
246(49,1%)  
215(42,91%)  
258 (51,5%)  
Rối loạn:  
Nhẹ  
255(50,9%)  
73 (14,57%)  
102 (20,36%)  
33 (6,58%)  
47 (9,38%)  
286(57,09%)  
46(9,18%)  
243 (48,5%  
47 (9,38%)  
88 (17,56%)  
64 (12,57%)  
44 (8,78%)  
Vừa  
117(23,35%)  
55 (10,98%)  
68 (13,57%)  
Nặng  
Rất nặng  
Tổng  
501(100%)  
501(100%)  
501(100%)  
Bảng 3. Liên quan giữa Stress và giới tính, nơi  , năm học, khoa  
Mức độ Stress  
Bình  
Rối  
Rất  
nặng  
Nhẹ Vừa Nặng  
Tổng  
thường loạn  
Yếu tố ảnh hưởng  
Nam  
Giới tính  
Nữ  
69  
81  
14  
32  
24  
34  
83  
47  
17  
38  
40  
16  
52  
17  
150  
351  
281  
146  
153  
205  
128  
Nhà trọ, ktx, khác  
Nơi ở  
Gia đình, người  
thân  
105  
115  
23  
14  
24  
27  
220  
Năm 1  
Năm cuối  
Dược  
108  
150  
172  
86  
89  
154  
173  
70  
19  
28  
29  
18  
37  
51  
61  
27  
22  
42  
51  
13  
11  
33  
32  
12  
197  
304  
345  
156  
Năm học  
Khoa  
QTKD  
Nhận xét: sinh viên nữ mắc Stress nhiều hơn nam có ý nghĩa thống kê P = 0,045 < 0,05; đặc  
biệt là   mức độ nặng và rất nặng P = 0,013. Không có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa  
các mức độ Stress và nơi  , năm học, khoa với giá trị P lần lượt là: 0,145; 0,339; 0,308.  
649  
Bảng 4. Liên quan giữa rối loạn lo âu và giới tính, nơi  , năm học, khoa  
Mức độ Stress  
Bình  
Rối  
Rất  
Nhẹ Vừa Nặng  
Tổng  
thường loạn  
nặng  
Yếu tố ảnh hưởng  
Nam  
Giới tính  
Nữ  
94  
56  
11  
36  
24  
22  
66  
64  
19  
45  
30  
4
150  
351  
281  
164  
130  
187  
151  
40  
33  
Nhà trọ, ktx, khác  
Nơi ở  
Gia đình, người  
thân  
85  
81  
135  
116  
170  
197  
89  
22  
20  
26  
28  
18  
53  
45  
72  
86  
31  
25  
22  
33  
35  
20  
35  
29  
39  
48  
20  
220  
197  
304  
345  
156  
Năm 1  
Năm cuối  
Dược  
Năm học  
134  
148  
67  
Khoa  
QTKD  
Nhận xét: không có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức độ rối loạn lo âu và nơi  ,  
giới tính, năm học, khoa với giá trị P lần lượt là: 0,819; 0,863; 0,960; 0,502.  
Bảng 5. Liên quan giữa trầm cảm và giới tính, nơi  , năm học, khoa  
Mức độ Stress  
Bình  
thường loạn  
Rối  
Rất  
nặng  
Nhẹ Vừa Nặng  
Tổng  
Yếu tố ảnh hưởng  
Nam  
Giới tính  
Nữ  
79  
71  
24  
49  
43  
30  
72  
54  
7
10  
37  
25  
150  
351  
281  
167  
142  
184  
139  
26  
17  
Nhà trọ, ktx, khác  
Nơi ở  
Gia đình, người  
104  
116  
30  
48  
16  
22  
220  
thân  
Năm 1  
Năm cuối  
Dược  
99  
147  
163  
83  
98  
157  
182  
73  
32  
41  
47  
26  
37  
65  
80  
22  
11  
22  
21  
12  
18  
29  
34  
13  
197  
304  
345  
156  
Năm học  
Khoa  
QTKD  
Nhận xét: sinh viên   nhà trọ, ktx và những nơi khác mắc trầm cảm cao hơn sinh viên sống  
cùng gia đình và người thân có ý nghĩa thống kê P = 0,027. Không có khác biệt có ý nghĩa  
thống kê giữa các mức độ trầm cảm và giới tính, năm học, khoa với giá trị P lần lượt là  
0,549; 0,824; 0,235.  
650  
3.2 Các biện pháp, trị liệu được sử dụng ở sinh viên  
Khảo sát   501 sinh viên HUTECH về các biện pháp điều trị được sinh viên áp dụng khi có  
các dấu hiệu của stress, lo âu, trầm cảm. Sinh viên được lựa chọn nhiều biện pháp cùng lúc.  
Bảng 6. Các biện pháp, trị liệu được sử dụng khi có dấu hiệu của stress, lo âu, trầm cảm  
Có can thiệp y tế  
Không can thiệp y tế  
Các biện  
pháp thư  
giãn  
Biện  
Gặp  
Dùng  
Tâm  ự với  
bạn bè,  
Dùng  
Nghe Xem  
Đi  
Mua  
pháp  
bác  ĩ  
thảo  
th ốc  
nhạc phim  
chơi  
 ắm  
tâm lý  
dược  
người thân  
khác  
Số  
lượng  
8
28  
69  
422  
366  
330  
258  
172  
111  
Nhận xét: hầu hết sinh viên không can thiệp y tế khi có các dấu hiệu của stress, lo âu, trầm  
cảm. Nghe nhạc là phương pháp không can thiệp y tế được nhiều sinh viên ư  tiên sử dụng  
nhất (422 lựa chọn /501 SV). Dùng các loại thảo dược là biện pháp được sinh viên sử dụng  
nhiều nhất (69 lựa chọn) trong nhóm can thiệp y tế trong khi chỉ có 8 lựa chọn đi gặp bác  ĩ  
tâm lý hoặc 28 lựa chọn dùng thuốc. Các thuốc, thảo dược, thực phẩm chức năng thường  
được sinh viên sử dụng qua khảo sát là: Melatonin, Mimosa, Tanakan, neurobion,  
ginkobiloba, rotundin, amitriptilin, diazepam, Panadol.  
3.3 Thực trạng chất lượng giấc ngủ  
Kết quả khảo sát của 211 sinh viên HUTECH (58 nam, 153 nữ) về chất lượng giấc ngủ : chỉ  
có 27,02% sinh viên có chất lượng giấc ngủ tốt trong khi 72,98% sinh viên có chất lượng  
giấc ngủ kém.  
Bảng 7. Liên quan giữa chất lượng giấc ngủ và giới tính, năm học, khoa, nơi  , tuổi  
Chất lượng giấc ngủ  
Đặc điểm cá nhân  
P-value  
0,899  
0,493  
0,873  
0,116  
Kém  
41  
Tỷ lệ (%)  
19,43  
53,55  
27,96  
45,02  
52,61  
20,38  
36,97  
36,02  
27,01  
11,85  
34,12  
72,98  
Tốt  
17  
40  
27  
30  
39  
18  
38  
19  
26  
6
Tỷ lệ (%)  
8,06  
Nam  
Giới tính  
Năm học  
Khoa  
Nữ  
113  
59  
18,96  
12,8  
Năm 1  
Năm cuối  
95  
14,22  
18,48  
8,53  
Dược  
111  
43  
QTKD  
Nhà trọ, ktx, khác  
78  
18,01  
9,00  
Nơi ở  
Gia đình, người thân  
76  
18-20  
21-23  
>23  
57  
12,32  
2,84  
Tuổi  
25  
0,619  
72  
25  
57  
11,85  
27,02  
Tổng  
154  
651  
Nhận xét: không có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa chất lượng giấc ngủ và giới, năm  
học, khoa, nơi  , tuổi, với giá trị P lần lượt là 0,899; 0,493; 0,873; 0,116; 0,619.  
4 BÀN LUẬN  
Nhiều nghiên cứu công bố trong và ngoài nước đều báo động tình trạng sinh viên stress, rối  
loạn lo âu, trầm cảm khá cao. Shamsuddin và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 506 sinh viên  
của 4 trường đại học   Malaysia cho thấy tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress mức độ nặng lần lượt  
là 9,7%, 29%, 5,1%, tỷ lệ này cao hơn   những người sống   nông thôn và có tuổi lớn hơn  
[8]. Nghiên cứu về 700 sinh viên Ai Cập (2017) cũng có tỷ lệ lo âu (73%), trầm cảm (65%) và  
stress (59,9%), tỷ lệ này cao hơn khi kết quả học tập thấp hơn so với nhóm còn lại, giới tính  
nữ có liên quan đáng kể đến tỷ lệ stress [1].  
Tại Việt Nam, nghiên cứu tại ĐHYD TP.HCM (2012) khảo sát 483 sinh viên năm thứ 2 khoa  
y và răng hàm mặt với tỷ lệ stress, trầm cảm, lo âu lần lượt là 71,4%, 28,8% và 22,4%, trong  
đó 52,8% sinh viên có cả 3 dạng rối loạn trên. Các biểu hiện đa số   mức độ nhẹ và vừa, tỷ  
lệ trầm cảm mức độ nặng   nam cao hơn   nữ [11].  
Trong khi đó  nghiên cứu này của nhóm tác giả   sinh viên khoa Dược và khoa Quản trị kinh  
doanh của Đại học HUTECH năm học 2020 -2021 có tỷ lệ lo âu, trầm cảm và stress lần lượt  
là 57.09%, 50.9%, 48.5%. Đặc biệt, sinh viên nữ mắc stress nhiều hơn sinh viên nam   mức  
độ nặng và rất nặng, không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về tỷ lệ stress, lo âu,  
trầm cảm giữa sinh viên năm 1 và năm cuối, cũng như giữa 2 khoa được khảo sát. Riêng tỷ  
lệ trầm cảm có sự khác biệt về nơi  , sinh viên   nhà trọ, kí túc xá và những nơi khác mắc  
trầm cảm cao hơn sinh viên sống cùng gia đình và người thân, có thể lý giải rằng các sinh  
viên này ít có cơ hội tâm sự giãi bày cùng gia đình cũng như đối mặt với nhiều khó khăn hơn  
khi sống tự lập.  
Một nghiên cứu khác   143 sinh viên năm cuối ngành Dược Đồng Nai (2020), tỷ lệ stress, lo  
âu, trầm cảm lần lượt là 16,4% , 29,8%, 38,8%. Các tác giả lý giải các yếu tố ảnh hư ng đến  
sức khỏe tinh thần sinh viên bao gồm: học tập, quan hệ trong gia đình  dự định nghề nghiệp  
[5]. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác cho thấy có sự khác nhau về tỷ lệ, mức độ giữa các  
khối ngành, đặc biệt là   những năm học cuối. Các tình trạng lo âu, trầm cảm, stress   sinh  
viên giai đoạn chuẩn bị tốt nghiệp có thể được kích hoạt b i áp lực học tập [7].  
Về chất lượng giấc ngủ, qua khảo sát 211 sinh viên HUTECH, đáng báo động khi có đến  
73% sinh viên được khảo sát có chất lượng giấc ngủ kém, so với một nghiên cứu về chất  
lượng giấc ngủ   sinh viên điều dưỡng Trường đại học Duy Tân – Đà Nẵng, tỷ lệ này chỉ có  
35,4% [6]. Chất lượng giấc ngủ ảnh hư ng lớn đến đời sống và kết quả học tập của sinh  
viên. Nghiên cứu của Maheshwari và cộng sự (2019) về tác động của chất lượng giấc ngủ  
kém đến kết quả học tập của sinh viên y khoa cho thấy có 64,24% sinh viên có chất lượng  
giấc ngủ kém và GPA trung bình là 2,92 ± 1,09, thấp hơn đáng kể so với sinh viên có giấc  
ngủ tốt [4].  
5 KẾT LUẬN  
Qua khảo sát năm 2021 của nghiên cứu này cho thấy sinh viên Đại học HUTECH có tỷ lệ  
stress, lo âu, trầm cảm tương đối cao, đặc biệt là stress   sinh viên nữ. Thực trạng giấc ngủ  
của sinh viên đáng báo động khi có đến 73% sinh viên được khảo sát có chất lượng giấc  
ngủ kém. Trầm cảm, rối loạn lo âu, stress, rối loạn giấc ngủ không những có tác động xấu  
652  
đến cá nhân mà còn ảnh hư ng xấu đến những người xung quanh và xã hội. Vì vậy cần có  
những biện pháp phù hợp từ nhà trường, gia đình và tự thân sinh viên, tăng cường các  
chương trình kỹ năng mềm giúp sinh viên có khả năng ứng phó với các tác động tâm lý lên  
đời sống. Đồng thời, cần có thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu về vấn để này để nâng cao  
sức khỏe tâm thần của sinh viên.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Fawzy M, Hamed SA. Prevalence of psychological stress, depression and anxiety  
among medical students in Egypt. Psychiatry Res. 2017 Sep; 255:186-194. doi:  
10.1016/j.psychres.2017.05.027.  
[2] Lê Minh Thuận (2011) Sức khỏe tâm lý của sinh viên: Nghiên cứu cắt ngang. Tạp chí  
Y học Thực hành (774), số 7, tr 72-75.  
[3] Kieu T.T.T. (2019) Depression, Anxiety and Stress among students in Ho Chi Minh city.  
Mental Health Literacy in Schools and the Community: Proceedings from the 5th  
International Conference on Child Mental Health in Vietnam, Vietnam National  
University Press, Hanoi, pp. 98-104.  
[4] Maheshwari G, Shaukat F. (2019) Impact of Poor Sleep Quality on the Academic  
Performance of Medical Students. Cureus Apr 1;11(4): e4357. doi:  
10.7759/cureus.4357. PMID: 31192062; PMCID: PMC6550515.  
[5] Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Thị Bích Tuyền. (2020) Các yếu tố ảnh hư ng đến  
stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai. Tạp chí  
Khoa học và công nghệ- Đại học Đà Nẵng, Vol.18, No.10  
[6] Nguyễn Thị Bích Trâm (2020). Nhận thức về chất lượng giấc ngủ của sinh viên điều  
dưỡng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân, tr.86.  
[7] SA Kristina, Anna Wahyuni Widayanti, IP Sari. (2020) Investigating perceived stress  
among final-year pharmacy students in Indonesia. Int J Pharm Res, 12 (2), pp. 439-  
445.  
[8] Shamsuddin, Khadijah, et al. (2013) Correlates of depression, anxiety and stress  
among Malaysian university students. Asian journal of psychiatry 6.4 :318-323.  
[9] Thang đánh giá Lo âu - Trầm cảm - Stress (DASS 21) http://nimh.gov.vn/thang-danh-  
gia-lo-au-tram-cam-stress-dass-21/. Truy cập tháng 02/2021  
[10] Thang đánh giá Chất lượng giấc ngủ PITTSBURGH (PSQI) http://nimh.gov.vn/chi-bao-  
chat-luong-giac-ngu-pittsburgh-psqi/ Truy cập tháng 02/2021  
[11] Trần Kim Trang (2012). Stress, lo âu và trầm cảm   sinh viên y khoa. Tạp chí Nghiên  
cứu Y học, 16 (1), tr. 356-362.  
653  
pdf 7 trang Thùy Anh 14900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát thực trạng stress, rối loạn lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ và các trị liệu được sử dụng trên đối tượng sinh viên Hutech", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_thuc_trang_stress_roi_loan_lo_au_tram_cam_roi_loan.pdf