Định hướng giá trị trong việc lựa chọn bạn đời của sinh viên trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ TRONG VIỆC LỰA CHỌN BẠN ĐỜI CỦA SINH VIÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC, ĐẠI HỌC HUẾ HIỆN NAY  
Võ Nữ Hải Yến  
Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Ngày nhận bài: 28/11/2018; ngày hoàn thành phản biện: 21/12/2018; ngày duyệt đăng: 02/7/2019  
TÓM TẮT  
Bài viết này là một phần của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Cơ sở “Định hướng giá  
trị về tình yêu và hôn nhân của sinh viên trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay”  
được thực hiện trong năm 2018. Bài viết tập trung phân tích quan niệm của sinh  
viên về độ tuổi kết hôn phù hợp và người sẽ quyết định cuộc hôn nhân; những  
định hướng về tiêu chuẩn cụ thể của người bạn đời tương lai như: hoàn cảnh gia  
đình, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, ngoại hình, tích cách và phẩm chất  
đạo đức. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên Trường Đại học Khoa học hiện  
nay đã có những định hướng khá rõ ràng về các giá trị trong việc lựa chọn người  
bạn đời tương lai, sự định hướng này có một số khác biệt đáng kể theo giới tính.  
Bên cạnh những nhận thức mới, quan điểm mới của thế hệ trẻ về tình yêu, hôn  
nhân và gia đình, nghiên cứu cũng chỉ ra được một số giá trị truyền thống vẫn  
được duy trì cho tới hiện tại nhằm xây dựng một hệ tiêu chuẩn phù hợp với mỗi cá  
nhân sinh viên trong quan niệm về lựa chọn người bạn đời tương lai.  
Từ khóa: định hướng giá trị, hôn nhân, sinh viên  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học phát triển, tuổi sinh viên là  
thời kỳ mà con người phát triển tích cực các loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ,  
tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mĩ. Họ bắt đầu khao khát và quan tâm đặc biệt đến  
sự thành đạt trong sự nghiệp, xác định vị thế xã hội, tình yêu và xây dựng cuộc sống  
gia đình trong tương lai. Do đó, những định hướng trong tình yêu, hôn nhân của lứa  
tuổi sinh viên có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hạnh phúc gia  
đình sau này vì định hướng giá trị là sơ sở của hành vi, quyết định lối sống của con  
người. Do đó, việc tìm hiểu định hướng giá trị trong tình yêu và hôn nhân trên khách  
thể sinh viên - những công dân sắp bước vào đời sống gia đình là điều cần thiết, nó  
giúp gia đình, nhà trường và cộng đồng nhìn nhận đầy đủ hơn về cuộc sống của nhóm  
201  
Định hướng giá trị trong việc lựa chọn bạn đời của sinh viên Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay  
xã hội này, từ đó, có sự quan tâm đúng mức, góp phần giúp sinh viên có nhận thức,  
thái độ và hành vi phù hợp để đạt được hạnh phúc trong mối quan hệ cá nhân lẫn đời  
sống gia đình sau này và góp phần đạt được những thành công khác trong cuộc sống.  
Dựa trên kết quả khảo sát của đề tài nghiên cứu khoa học cấp sơ sở “Định  
hướng giá trị trong tình yêu và hôn nhân của sinh viên Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
hiện nay” được thực hiện từ tháng 1/2018 đến tháng 12/2018, bài viết này tập trung  
trình bày định hướng giá trị trong hôn nhân của sinh viên ở một số khía cạnh sau:  
quan niệm của sinh viên về độ tuổi kết hôn và người quyết định hôn nhân; sự định  
hướng của sinh viên về những tiêu chuẩn của người bạn đời tương lai. Bằng phương  
pháp thu thập thông tin chính như: phân tích tài liệu, phỏng vấn bán cấu trúc và  
phỏng vấn sâu trong nghiên cứu xã hội học, đề tài này đã tiến hành khảo sát trên 233  
sinh viên của năm thứ 1 và năm thứ 4 thuộc 4 khoa: Xã hội học, Công tác xã hội, Công  
nghệ thông tin và Khoa học môi trường.  
2. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
2.1. Quan niệm của sinh viên về độ tuổi kết hôn và người quyết định hôn nhân  
Đo lường độ tuổi kết hôn là một chỉ báo quan trọng giúp người nghiên cứu  
đánh giá khách quan về định hướng hôn nhân của sinh viên Trường Đại học Khoa học  
hiện nay. Tại điều 5, chương II của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định  
điều kiện kết hôn, trong đó tuổi được cho phép kết hôn đối với nam là từ 20 trở lên, nữ  
từ 18 tuổi trở lên. Vậy, trên thực tế, sinh viên Trường Đại học Khoa học quan niệm như  
thế nào về độ tuổi kết hôn phù hợp hiện nay?  
Bảng 1. Quan niệm của sinh viên về độ tuổi kết hôn phù hợp (đơn vị: tuổi)  
Nam  
27,3  
18  
Nữ  
24,3  
16  
Tuổi trung bình  
Tuổi nhỏ nhất  
Tuổi lớn nhất  
37  
32  
Kết quả xử lý số liệu ở bảng 1 cho thấy, sinh viên Trường Đại học Khoa học cho  
rằng, độ tuổi trung bình phù hợp để kết hôn hiện nay là 27,3 tuổi đối với nam và 24,3  
đối với nữ. Tuổi cao nhất để có thể kết hôn mà sinh viên đưa ra đối với nữ là 32 và đối  
với nam là 37; tuổi thấp nhất đối với nữ là 16 và đối với nam là 18 (thấp hơn 2 tuổi so  
với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình). Yếu tố giới cũng ảnh hưởng khá rõ  
trong quan niệm về độ tuổi kết hôn khi đa số đều cho rằng nam giới sẽ kết hôn muộn  
hơn nữ giới từ 3-5 tuổi. Như vậy, phần lớn sinh viên đều xác định sẽ kết hôn vào thời  
điểm sau khi ra trường khoảng 2-3 năm đối với nữ và 5-6 năm đối với nam. Điều này  
thể hiện quan điểm rất thực tế của sinh viên về hôn nhân, vì lúc đó, bản thân sinh viên  
đã phát triển đầy đủ và trưởng thành về mặt sinh lý cũng như tâm lý, lại ra trường  
202  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
được một thời gian nhất định để có thể ổn định được công việc và đảm bảo được kinh  
tế - một hành trang cơ bản cho sự bền vững cho cuộc sống gia đình sau này.  
Bên cạnh định hướng về độ tuổi kết hôn, trong nghiên cứu này, sinh viên còn  
thể hiện rõ quan điểm của mình về người quyết định cuộc hôn nhân trong tương lai.  
Nếu trong xã hội Việt Nam truyền thống, việc hôn nhân là do cha mẹ sắp đặt, “cha mẹ  
đặt đâu, con ngồi đấy” vì “Áo mặc sao qua khỏi đầu”, con cái không có tiếng nói trong việc  
quyết định cuộc hôn nhân của mình, thì ngày nay, quan niệm này ở thế hệ trẻ đã thay  
đổi như thế nào?  
Bản thân bạn quyết định hoàn toàn  
42,1%  
Bạn quyết định nhưng có sự tham khảo ý  
kiến của bố mẹ  
49,4%  
Bố mẹ quyết định nhưng có sự tham khảo ý  
kiến của bạn  
7,3%  
10  
Bố mẹ quyết định hoàn toàn  
1,3%  
0
20  
30  
40  
50  
60  
Hình 1. Quan niệm của sinh viên về người quyết định cuộc hôn nhân trong tương lai  
Số liệu thống kê ở hình 1 cho thấy, có đến 42,1% sinh viên cho rằng bản thân họ  
sẽ quyết định hoàn toàn cuộc hôn nhân trong tương lai, bố mẹ chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ  
trong việc quyết định đời sống lứa đôi của họ. Nhưng đáng chú ý là có đến gần một  
nửa (49,4%) số sinh viên được hỏi trả lời rằng họ sẽ quyết định cuộc hôn nhân trong  
tương lai của mình nhưng có sự tham khảo ý kiến của bố mẹ. Đây là một nét đặc trưng  
trong việc sắp xếp hôn nhân của giới trẻ hiện nay, đó là sự tăng lên vai trò chủ động  
của các cá nhân trong việc quyết định cuộc sống gia đình của họ. Ngày nay, xu hướng  
chung là đại đa số các trường hợp con cái tự lựa chọn người làm vợ, làm chồng sau đó  
về báo cáo với cha mẹ. Sự tham gia bàn bạc của cha mẹ chủ yếu có tính chất tư vấn chứ  
không mang ý nghĩa ép buộc. Đó là phương án tốt nhất kết hợp được lợi ích cá nhân  
và sự mong muốn của gia đình trong việc hình thành gia đình mới để trong khi đảm  
bảo sự tự do cá nhân nhưng vẫn duy trì được mối quan hệ mật thiết với gia đình lớn  
[5, tr.10]. Thông tin thu được từ phỏng vấn sâu cũng cho thấy rõ:“Sau này lấy ai thì chắc  
chắn em phải là người tự lựa chọn. Hạnh phúc của mình phải do mình tự quyết định. Tuy  
nhiên, em cũng sẽ tham khảo thêm ý kiến của ba mẹ về người vợ mà mình chọn” (Sinh viên  
nam, năm 4, Công nghệ thông tin).  
2.2. Sự định hướng của sinh viên về những tiêu chuẩn cụ thể của người bạn đời  
tương lai  
Để tìm hiểu định hướng của sinh viên về những tiêu chuẩn cụ thể của người  
bạn đời tương lai, tác giả đã tiến hành đo lường qua 5 chỉ báo: ngoại hình, trình độ học  
203  
Định hướng giá trị trong việc lựa chọn bạn đời của sinh viên Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay  
vấn, nghề nghiệp và thu nhập, gia đình, tính cách và phẩm chất đạo đức mà sinh viên  
mong muốn, kỳ vọng về người vợ/chồng trong tương lai.  
* Tiêu chuẩn về tính cách và phẩm chất đạo đức  
Trong xã hội trước đây, phần lớn các cuộc hôn nhân thường do cha mẹ sắp đặt,  
việc lựa chọn bạn đời cũng phải do gia đình hai bên quyết định. Do đó, sự lựa chọn  
trong hôn nhân thực chất là chọn con dâu, con rể theo một số tiêu chí của cha mẹ như  
“dâu hiền, rể thảo”. Trong quan hệ vợ chồng, vai trò giới truyền thống cũng rất được kỳ  
vọng: người chồng được mong đợi là một người chủ gia đình, gương mẫu, có sức  
khỏe, năng động, quyết đoán, làm kinh tế giỏi; còn người phụ nữ được mong đợi là  
người diụ dàng, hiền thục, nết na, đảm đang tháo vát việc nhà, biết hy sinh cho chồng  
con< [1, tr. 63]. Vậy liệu những mong đợi về vai trò truyền thống của người vợ, người  
chồng như vậy có còn tồn tại trong sinh viên - một bộ phận giới trẻ hiện nay hay  
không?  
Bảng 2. Tiêu chuẩn của sinh viên về tính cách và phẩm chất đạo đức  
của người bạn đời tương lai  
Tính cách và phẩm chất đạo đức  
Nam  
Nữ  
Chung  
Tỉ lệ (%) Thứ tự Tỉ lệ (%) Thứ tự Tỉ lệ (%) Thứ tự  
Tâm lý, biết quan tâm, chia sẻ  
Có lòng bao dung, vị tha  
Có lý tưởng, ý chí phấn đấu  
Chân thành, chung thủy  
Chín chắn, điềm đạm  
Lạc quan, có tính hài hước  
Hiền lành, chăm chỉ  
Có trách nhiệm với gia đình  
Có cá tính  
Có đức hy sinh  
87,2  
49,5  
35,8  
79,8  
22,9  
26,6  
46,8  
73,4  
15,6  
23,9  
1
4
6
2
9
7
5
3
10  
84,7  
41,1  
58,9  
71  
33,1  
28,2  
30,6  
76,6  
9,7  
1
5
4
3
6
8
7
2
10  
85,8  
45,1  
48,1  
75,1  
28,3  
27,5  
38,2  
75,1  
12,4  
17,2  
1
4
3
2
6
7
5
2
9
8
8
11,3  
9
Kết quả phân tích định lượng bảng 2 đã cho thấy, ba tính cách và phẩm chất  
đạo đức được sinh viên lựa chọn nhiều nhất ở người bạn đời tương lai là: “tâm lý, biết  
quan tâm, chia sẻ”(85,8%); “chân thành, chung thủy” (75,1%), và “có trách nhiệm với gia  
đình” (75,1%). Đây là những phẩm chất tốt, rất cần thiết của cả người vợ lẫn người  
chồng để đảm bảo hạnh phúc của hôn nhân và sự bền vững của cuộc sống gia đình sau  
này. Sự lựa chọn này ở sinh viên nam và sinh viên nữ hầu như không có sự khác biệt  
đáng kể khi xử lý theo nhóm giới tính. Như vậy, phân tích những giá trị về tính cách  
và phẩm chất đạo đức nằm trong định hướng hôn nhân của sinh viên cho thấy, sinh  
viên Trường Đại học Khoa học đã xác định được những giá trị cần có ở người bạn đời  
khá rõ ràng. Họ đề cao và coi trọng những phẩm chất tốt đẹp của người vợ, người  
chồng tương lai nhằm hướng đến sự cam kết tình yêu giữa hai người và cũng là những  
nhân tố rất cơ bản tạo nên tính bền vững của một cuộc hôn nhân hạnh phúc.  
204  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
* Tiêu chuẩn về nghề nghiệp và thu nhập  
`
Để đảm bảo một cuộc hôn nhân bền vững, ngoài việc chú ý đến những đặc  
điểm về tính cách và phẩm chất đạo đức, sinh viên còn rất quan tâm đến nghề nghiệp  
và thu nhập của người bạn đời tương lai.  
Bảng 3. Tiêu chuẩn của sinh viên về nghề nghiệp và thu nhập  
của người bạn đời tương lai ( đơn vị %)  
Nam  
1,8  
2,8  
Nữ  
3,2  
1,6  
Chung  
2,6  
2,1  
Nghề  
nghiệp  
Cùng nghề nghiệp với bạn  
Có liên quan đến nghề nghiệp với bạn  
Khác nghề nghiệp với bạn  
Nghề nghiệp ổn định  
Không quan tâm đến nghề nghiệp  
Thu nhập nhiều hơn bạn  
Thu nhập bằng bạn  
4,6  
1,6  
3
65,2  
25,7  
13,8  
27,5  
4,6  
81,5  
12,1  
80,6  
4,8  
73,8  
18,5  
49,4  
15,5  
2,6  
Thu  
nhập  
Thu nhập ít hơn bạn  
0,8  
Không quan tâm đến thu nhập  
54,1  
100  
13,7  
100  
32,6  
100  
Tổng  
Số liệu ở bảng 3 cho thấy, đa số sinh viên coi trọng tính chất ổn định của công việc  
(73,8%) và mức thu nhập nhiều hơn mình của người bạn đời tương lai (49,4%). Rõ ràng,  
khi lấy nhau, nếu cả vợ và chồng có công ăn việc làm ổn định, thu nhập khá là một yếu  
tố rất thuận lợi để đảm bảo và duy trì cuộc sống gia đình, nhất là trong bối cảnh hiện  
nay nhiều mâu thuẫn, xích mích giữa vợ chồng, thậm chí dẫn đến ly hôn có nguyên  
nhân xuất phát từ những khó khăn về kinh tế. Khi phân theo giới tính đã cho thấy có  
sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ sinh viên về những tiêu chuẩn liên quan đến  
nghề nghiệp và thu nhập. Đối với sinh viên nữ, có đến 81,3% ý kiến cho rằng, nghề  
nghiệp ổn định là điều kiện rất quan trọng cần có ở người chồng tương lai và cũng có  
đến 80,6% đồng ý rằng, họ sẽ chọn người bạn đời tương lai có thu nhập nhiều hơn  
mình. Với sinh viên nam thì kỳ vọng về người vợ tương lai có khác biệt chút ít, có  
65,2% nam mong muốn người bạn đời có nghề nghiệp ổn định nhưng chỉ có 13,8% đặt  
ra tiêu chuẩn thu nhập cao hơn mình đối với người vợ tương lai. Rõ ràng, quan niệm  
giới truyền thống về đàn ông phải là người trụ cột gia đình, chồng phải biết kiếm tiền  
giỏi hơn vợ vẫn còn ảnh hưởng phần nào trong quan niệm chọn vợ, chọn chồng của  
sinh viên hiện nay. Sinh viên nam có xu hướng không đặt nặng vai trò kinh tế lên  
người vợ vì họ coi đó là trách nhiệm của bản thân, cùng với đó, hầu hết sinh viên nữ  
đều muốn tìm cho mình một người chồng tương lai không những tâm lý, chung thủy,  
có trách nhiệm với gia đình mà còn biết kiếm tiền để là chỗ dựa về kinh tế cho vợ, con  
sau này. “Em mong muốn người chồng tương lai của em sau này có một công việc dù bận rộn  
cũng được nhưng thu nhập cao hơn em để có thể gánh vác kinh tế của gia đình, còn em thu  
205  
Định hướng giá trị trong việc lựa chọn bạn đời của sinh viên Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay  
nhập có thể sẽ ít hơn nhưng em lại có thời gian để chăm sóc cho gia đình” (Sinh viên nữ, năm  
1, Công tác xã hội)  
* Tiêu chuẩn về trình độ học vấn  
Trình độ học vấn cũng là một trong số những tiêu chuẩn quan trọng được tác  
giả đưa ra để đo lường sự quan tâm từ phía sinh viên khi họ lựa chọn người bạn đời  
tương lai.  
Bảng 4. Tiêu chuẩn của sinh viên về trình độ học vấn của người bạn đời tương lai  
Nam  
Số lượng  
(người)  
Nữ  
Chung  
Trình độ học vấn  
Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ  
(%)  
(người)  
(%)  
(người)  
(%)  
Bằng trình độ học vấn của  
bạn  
25  
22,9  
35  
28,2  
60  
25,8  
Có thể thấp hơn trình độ  
học vấn của bạn  
Cao hơn trình độ học vấn  
của bạn  
Không quan tâm đến trình  
độ học vấn  
20  
8
18,3  
7,3  
6
4,8  
30,6  
36,3  
100  
26  
46  
11,2  
19,7  
43,3  
100  
38  
56  
109  
51,4  
100  
45  
161  
233  
Tổng  
124  
Kết quả xử lý số liệu ở bảng 4 cho thấy, có 43,3% sinh viên trả lời là “không quan  
tâm đến trình độ học vấn của người bạn đời tương lai” và 25,8% cho rằng họ sẽ lựa chọn  
“người bạn đời tương lai phải có trình độ học vấn ngang bằng với mình”. Tỷ lệ lựa chọn  
trình độ học vấn cao hơn và thấp hơn lần lượt là 19,7% và 11,2%. Điều này đã cho thấy  
một sự thay đổi trong tiêu chuẩn về trình độ học vấn, các bạn trẻ hiện nay dường như  
không đặt nặng nhiều đến học vấn, bằng cấp mà chú ý nhiều đến hiệu quả công việc,  
bởi phải chăng họ xác định rằng, trình độ thể hiện qua bằng cấp không đồng nghĩa với  
có một công việc ổn định, mức thu nhập khá để có thể trang trải cho cuộc sống gia  
đình sau này. Khi phân tích theo giới tính đã cho thấy có sự khác nhau rất rõ giữa sinh  
viên nam và nữ trong việc đánh giá trình độ học vấn của người bạn đời tương lai. Có  
36,3% các bạn nữ sinh viên cho rằng họ không quan tâm đến trình độ học vấn của  
người bạn đời tương lai nhưng con số này ở nam sinh viên lại lên đến 51,4%. Đặc biệt,  
có đến 30,6% các bạn nữ sinh viên muốn tìm một người chồng tương lai có trình độ  
học vấn cao hơn mình nhưng con số này ở nam sinh viên chỉ có 7,3%. Rõ ràng, xét dưới  
khía cạnh tương quan giới cho thấy, sinh viên nữ đánh giá cao về tiêu chuẩn học vấn ở  
người bạn đời nhiều hơn là sinh viên nam. Ở đây cũng đã cho thấy quan niệm truyền  
thống “đàn ông phải hơn vợ một cái đầu” dường như vẫn còn có ảnh hưởng nhất định  
đến xu hướng lựa chọn bạn đời tương lai trong sinh viên.  
* Tiêu chuẩn về ngoại hình  
206  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
Song song với những giá trị bên trong thì tiêu chuẩn về hình thức bên ngoài  
cũng chiếm một tỉ lệ khá lớn trong định hướng của sinh viên về người bạn đời tương  
lai.  
68.8  
80  
60  
40  
20  
0
51.6  
59.7  
Nam  
Nữ  
30.6  
16.5  
24  
10.1  
9.7  
6.5  
8.2  
6.9  
3.7  
1.6  
1.3  
0.9  
Chung  
Rất đẹp  
Đẹp  
Ưa nhìn  
Bình  
thường  
Không quan  
tâm  
Hình 2. Tiêu chuẩn của sinh viên về ngoại hình của người bạn đời tương lai (đơn vị %)  
Tình yêu thường bắt đầu từ những cảm xúc về mặt giới tính. Vì vậy, ngoại hình  
cũng luôn là một trong những tiêu chí quan trọng để lựa chọn người bạn đời. Số liệu ở  
hình 2 cho thấy, sinh viên có thể hiện sự quan tâm đến ngoại hình của người bạn đời:  
hầu hết họ muốn người bạn đời của mình có vẻ bề ngoại ưa nhìn (59,7%), cũng có tới  
24% người mong muốn bạn đời của mình có ngoại hình bình thường, không cần phải  
thật đẹp hay thu hút, có 9,5% sinh viên có xu hướng lựa chọn người bạn đời xinh đẹp,  
quyến rũ và chỉ có 6,9% người là không hề quan tâm đến ngoại hình bên ngoài, chỉ cần  
hai người yêu nhau là được. Như vậy, có thể khẳng định, tiêu chuẩn về ngoại hình của  
người vợ hay người chồng tương lai được sinh viên khá đề cao. Rõ ràng, trong bối  
cảnh giới trẻ ngày càng được tự do tìm hiểu và lựa chọn trong hôn nhân, có điều kiện  
bộc lộ tình yêu và tình cảm cá nhân thì sắc đẹp là một trong những yếu tố có sức hấp  
dẫn đối với số đông thanh niên. Lý giải cho điều này, ta có thể quay trở lại với nhận  
định rằng: tình yêu xuất phát từ cảm xúc về mặt giới tính. Bất cứ ai cũng đều mong  
muốn người yêu, người bạn đời của mình có ngoại hình ưa nhìn, dễ mến để mọi người  
xung quanh chú ý tới và có thiện cảm. Tuy nhiên, đánh giá tiêu chuẩn này theo giới  
tính lại cho thấy một số điểm khác biệt khá thú vị giữa nam và nữ sinh viên. Trong khi  
có đến 11% nam sinh viên cho rằng phải lựa chọn bạn đời có hình thức bề ngoại xinh  
đẹp, cuốn hút và 68,8% lựa chọn ngoại hình ưa nhìn thì chỉ có 8,1% nữ sinh viên chọn  
bạn đời có ngoại hình đẹp và 51,6% có bề ngoài ưa nhìn. Trong xã hội truyền thống,  
cha mẹ vẫn là người lựa chọn hôn nhân cho con cái, cưới vợ cho con phải là người có  
khả năng duy trì nề nếp, gia phong của gia đình, nên tiêu chuẩn đặt ra là người phải có  
đủ “công, dung, ngôn, hạnh”. Khi xã hội biến đổi, hình thức tự do lựa chọn và tìm hiểu  
ngày càng phổ biến nhưng nam giới vẫn chủ động chọn một người phụ nữ có dung  
nhan, vẻ đẹp bên ngoài để kết hôn. Vì lẽ đó, mà đa phần nam thanh niên đều mong  
chọn được một người “vừa đẹp người, vừa đẹp nết” về làm vợ, như vậy sẽ thuận lợi cho  
cả việc gia đình lẫn việc xã hội [6,tr. 29]. Ở đây có thể thấy, quan niệm truyền thống  
207  
Định hướng giá trị trong việc lựa chọn bạn đời của sinh viên Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay  
“gái tham tài, trai tham sắc” hay “gái yêu bằng tai, trai yêu bằng mắt” vẫn còn duy trì phần  
nào trong ý thức của sinh viên trong lựa chọn người bạn đời mà họ sẽ chung sống.  
*Tiêu chuẩn về gia đình  
Bên cạnh những định hướng về giá trị cá nhân, nghiên cứu còn muốn tìm hiểu  
thêm những tiêu chuẩn về gia đình người bạn đời tương lai của sinh viên Trường Đại  
học Khoa học.  
Bảng 5. Tiêu chuẩn của sinh viên về gia đình của người bạn đời tương lai  
Đặc điểm gia đình  
Nam  
Nữ  
Chung  
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ  
(người)  
(%)  
22,9  
3,7  
(người)  
(%)  
21,0  
7,3  
(người)  
51  
(%)  
21,9  
5,6  
Gia đình nề nếp, gia giáo  
Gia đình khá giả  
25  
4
26  
9
13  
Gia đình có địa vị xã hội cao  
Gia đình có lối sống tự do,  
thoải mái, ít lễ nghi  
2
27  
1,8  
24,8  
4
41  
3,2  
33,1  
0,6  
6,8  
2,6  
29,2  
Gia cảnh tương đồng với gia  
đình bạn  
Không quan tâm về gia đình  
của người bạn đời tương lai  
Tổng  
37  
14  
33,9  
12,8  
100  
33  
11  
26,6  
8,9  
70  
25  
30  
10,7  
100  
109  
124  
100  
233  
Kết quả xử lý số liệu định lượng ở bảng 5 cho thấy, gia đình của người bạn đời  
tương lai cũng là một tiêu chuẩn khá quan trọng trong định hướng hôn nhân của sinh  
viên Trường Đại học Khoa học. Trong đó, sinh viên mong muốn gia đình của người  
bạn đời tương lai có sự tương đồng với gia đình mình chiếm tỷ lệ cao nhất (30%); tiếp đến  
là “gia đình tự do, thoải mái, ít lễ nghi” (29,2%) và thứ ba là “gia đình nề nếp, gia giáo”  
(21,9%). Những tiêu chuẩn về gia đình khá giả và gia đình có địa vị xã hội cao ít được  
sinh viên lựa chọn. Như vậy, trong những tiêu chuẩn về gia đình của người bạn đời,  
đa số sinh viên đều hướng đến sự tương đồng về gia cảnh và những chuẩn mực, phép  
tắc hơn là yếu tố kinh tế, vị thế của gia đình người bạn đời tương lai. Ở đây, có một  
điều cho thấy quan niệm truyền thống về “môn đăng hộ đối” vẫn còn có ý nghĩa trong  
sự cân nhắc hôn nhân của sinh viên. Người xưa cho rằng, khi trai gái đến với nhau,  
điều kiện kinh tế, địa vị xã hội của hai bên có sự tương đồng, thì hôn nhân mới phù  
hợp, hạnh phúc. Ngày nay, “môn đăng hộ đối” không chỉ là địa vị, tiền tài mà còn là suy  
nghĩ, nếp sống, học thức< của hai gia đình. Quan niệm này hiện vẫn có những điểm  
hợp lý bởi vì khi kết hôn với những người có hoàn cảnh giống với gia đình mình thì  
các cặp vợ chồng sẽ dễ tìm tiếng nói chung, dể hiểu và thông cảm cho nhau hơn, bớt đi  
những mâu thuẫn, xích mích do khác biệt về nhân sinh quan, về văn hóa, lối sống  
mang lại. So sánh tỷ lệ nam và nữ sinh viên lựa chọn các tiêu chuẩn liên quan đến gia  
đình người bạn đời cho thấy một số khác biệt. Cụ thể, sinh viên nam mong muốn  
208  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
người bạn đời tương lai có gia cảnh tương đồng với gia đình mình chiếm tỷ lệ cao nhất  
(33,7%), tuy nhiên, sinh viên nữ lại mong muốn tìm một người bạn đời tương lai mà  
gia đình có lối sống tự do, thoải mái, ít lễ nghi chiếm tỷ lệ cao nhất (33,1%). Với truyền  
thống của văn hóa Việt Nam, sau khi kết hôn, người con gái thường chung sống lâu  
dài với gia đình nhà chồng, còn nếu ở riêng thì cũng được kỳ vọng phải làm tròn bổn  
phận dâu, con trong gia đình chồng. Do đó, sinh viên nữ khi lựa chọn người bạn đời  
tương lai thường kỳ vọng gia đình chồng có lối sống thoải mái, tự do để hạn chế nảy  
sinh những mâu thuẫn, xung đột trong quá trình chung sống về sau. “Lấy chồng thì phải  
có mối quan hệ với gia đình nhà chồng nên em mong muốn sau này gia đình người chồng  
tương lai của em ít đặt ra các chuẩn mực, phép tắc, không xét nét con dâu để mọi người có được  
sự thoải mái trong cuộc sống, chứ sống như kiểu mẹ chồng trong phim “Mẹ chồng nàng dâu”  
mới chiếu trên tivi đó chắc em sống không nổi quá (cười)”(Sinh viên nữ, năm 4, Khoa học  
môi trường).  
3. KẾT LUẬN  
Các bạn trẻ - sinh viên khi bước vào tuổi yêu và tuổi kết hôn không phải bao  
giờ cũng có ngay một bảng tiêu chuẩn rõ ràng và cứng nhắc cho sự lựa chọn bạn đời  
của mình. Rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên cũng với những đặc điểm tâm lý trong tình yêu  
chi phối sự lựa chọn của họ, song không vì thế việc nhân duyên là do số phận và hoàn  
toàn là sự tình cờ. Những số liệu và minh chứng trên đây đã chỉ ra rằng, sinh viên  
Trường Đại học Khoa học luôn có những định hướng giá trị trong lĩnh vực hôn nhân,  
họ thực sự suy nghĩ, đắn đo và lựa chọn, định hướng đó được xây dựng trên nhiều yếu  
tố liên quan. Sinh viên cho rằng độ tuổi trung bình phù hợp để kết hôn ở nam giới là  
27,3 và nữ giới là 24,3. Mô hình quyết định hôn nhân phổ biến là cha mẹ và con cái  
cùng quyết định dưới hình thức “con cái quyết định có sự tham khảo ý kiến của bố mẹ”. Về  
những định hướng cụ thể liên quan đến người bạn đời tương lai, nghiên cứu cũng đã  
cho thấy có đến hơn một nửa số sinh viên không quan tâm lắm đến trình độ học vấn  
của người bạn đời tương lai, tuy nhiên, tỷ lệ khá cao sinh viên khi được hỏi đều mong  
muốn người bạn đời tương lai của mình có công việc ổn định và gần một nửa sinh viên  
kỳ vọng mức thu nhập của người vợ/chồng tương lai cao hơn họ. Về tích cách và phẩm  
chất đạo đức của người bạn đời tương lai, hầu hết sinh viên đều mong muốn người  
vợ/chồng tương lai của mình có được ba phẩm chất quan trọng, đó là “tâm lý, biết quan  
tâm, chia sẻ”, “chung thủy” và “có trách nhiệm với gia đình”. Bên cạnh đó, phần lớn sinh  
viên đều mong muốn người bạn đời tương lai có ngoại hình không cần quá xinh đẹp  
nhưng phải ưa nhìn. Ngoài ra, sự tương đồng trong văn hóa, lối sống, hoàn cảnh gia  
đình cũng là một tiêu chuẩn mà sinh viên cũng khá lưu tâm đến khi lựa chọn bạn đời  
tương lai.  
209  
Định hướng giá trị trong việc lựa chọn bạn đời của sinh viên Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay  
Tóm lại, dưới tác động mạnh mẽ của bối cảnh mới, trong xu thế tự chủ, quan  
niệm của thanh niên - sinh viên về hôn nhân đã có sự thay đổi theo hướng tích cực,  
chủ động và tự chịu trách nhiệm, đặc điểm cá nhân ngày càng được quan tâm hơn  
trong các lựa chọn. Tuy nhiên, yếu tố gia đình và một số những quan niệm hôn nhân  
truyền thống vẫn còn được bảo lưu và ảnh hưởng đến những định hướng về hôn nhân  
của sinh viên. Điều này cũng đã cho thấy những điểm hợp lý, đúng mức, gắn với lối  
sống và bối cảnh xã hội nước ta hiện nay.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Mai Kim Châu (1983), Những giá trị định hướng việc hôn nhân của thanh niên, Tạp chí Xã  
hội học, số 4-1983, tr. 62 – 69  
[2]. Hà Thị Minh Khương (2010), Thanh thiếu niên và các giá trị về tình yêu, hôn nhân và cách  
ứng xử trong cuộc sống, Tạp chí nghiên cứu Gia đình và giới, Số 3-2010, tr. 54 – 67  
[3]. Nguyễn Hữu Minh (2008), Khuôn mẫu lựa chọn bạn đời ở Việt Nam: truyền thống và biến  
đổi, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, Hà Nội, tr. 440 – 462.  
[4]. Nguyễn Đình Nghiệp (2016), “Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên nông thôn hiện  
nay và các nhân tố ảnh hưởng (nghiên cứu trường hợp tại xã Nam Chính, huyện Nam  
Sách, tỉnh Hải Dương)”, Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Xã hội học, Học viện Khoa học  
Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.  
[5]. Lê Thi (2009), Hoàn cảnh tìm hiểu bạn đời và kết hôn của thế hệ trẻ hiện nay,Tạp chí Nghiên  
cứu Gia đình và giới, Số 3-2009, tr. 3 - 11  
[6]. Lê Ngọc Văn (2007), Mô hình tìm hiểu và quyết định hôn nhân ở nông thôn Việt Nam thời  
kỳ đổi mới, Tạp chí Xã hội học, số 3-2007, tr. 24 – 36  
210  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
STUDENT’S VALUE PREFERENCE TOWARDS LOVE AND MARRIAGE AT  
UNIVERSITY OF SCIENCES, HUE UNIVERSITY  
Vo Nu Hai Yen  
Faculty of Sociology, University of Sciences, Hue University  
ABSTRACT  
As a part of the research project "Students’ value preference towards love and  
marriage at University of Science, Hue University ", conducted in 2018, the paper  
focuses on analyzing the student's perception of marriageable age and the actors  
mainly deciding a marriage; preferences towards particular criteria of future  
fiancés/fiancées such as socioeconomic status of household, level of education,  
occupations, income, appearance, morals and personality. The results show that  
students of the university have obvious value preferences towards their future  
partner, which differs in terms of gender. In addition to the novel perceptions of on  
love, marriage, and family, the study also points out that traditional values of love  
and marriage have been remaining among the students, on which a suitable  
system of values of future partners are built.  
Keywords: marriage, students, value preferences.  
Võ Nữ Hải Yến sinh ngày 25/4/1984 tại Quảng Trị. Bà nhận bằng cử nhân  
Xã hội học năm 2008 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,  
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và bằng thạc sĩ Xã hội học năm  
2014 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia  
Hà Nội. Hiện bà đang công tác tại Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Lịch sử Xã hội học; Xã hội học Gia đình; Xã hội học  
Giới và phát triển.  
211  
pdf 12 trang Thùy Anh 12040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Định hướng giá trị trong việc lựa chọn bạn đời của sinh viên trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdinh_huong_gia_tri_trong_viec_lua_chon_ban_doi_cua_sinh_vien.pdf