Hoàn thiện quy định tại khoản 2 điều 100 luật đất đai năm 2013

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 2 ĐIỀU 100 LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013  
Thân Văn Tài*  
Nguyễn Thị Phi Yến**  
*,** ThS. GV. Trường Đại học Luật, Đại học Huế  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trên cơ sở làm rõ việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy  
định tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 như là một cơ chế  
công nhận quyền sử dụng đất, có bản chất pháp lý khác biệt với việc cấp  
giấy chứng nhận theo điểm c khoản 1 Điều 99, bài viết đặt ra những yêu  
cầu trong việc giải quyết các tranh chấp về giao dịch quyền sử dụng đất  
trong trường hợp người nhận chuyển quyền là người được nêu trong điều  
khoản, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện điều khoản này trong  
thời gian tới.  
Từ khóa: Công nhận quyền sử  
dụng đất, nhận chuyển quyền sử  
dụng đất, hoàn thiện quy định tại  
khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai  
năm 2013.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 18/4/2021  
: 08/5/2021  
: 12/5/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
On the basis of clarification of certificate issuance of land use right  
as specified in clause 2, Article 100 of the Law on Land of 2013 as a  
mechanism to recognize land use rights, having a different legal nature  
from the issuance of certificates according to point c, clause 1, Article  
99, this article sets forth requirements in the settlement of disputes over  
land use right transactions in case the transferee is the person mentioned  
in this article. From this approach, the article also provides analysis of  
shortcomings in clause 2, Article 100 and a number of recommendations  
for the further improvements of this article in the coming time.  
Keywords: Recognition of  
land use rights; transfer of land  
use rights; improvements of  
provisions in clause 2, Article  
100 Law on Land of 2013.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 18 Apr. 2021  
: 08 May 2021  
: 12 May 2021  
Approved  
1. Bản chất pháp lý của việc cấp giấy  
chứng nhận tại khoản 2 Điều 100 Luật  
Đất đai năm 2013 và yêu cầu đặt ra đối  
với việc giải quyết yêu cầu tuyên bố giao  
dịch về quyền sử dụng đất vô hiệu  
trưꢍc ngày Luꢎt này có hiꢈu lꢏc thi hành  
chưa thꢏc hiꢈn thꢌ tꢂc chuyꢉn quyꢇn sử  
dꢂng đꢃt theo quy định cꢌa phꢁp luꢎt và đꢃt  
đó không có tranh chꢃp thì đưꢐc cꢃp Giꢃy  
chꢑng nhꢎn quyꢇn sử dꢂng đꢃt, quyꢇn sꢒ  
hꢊu nhà ꢒ và tài sꢆn khꢁc gꢓn liꢇn vꢍi đꢃt  
và không phꢆi nꢀp tiꢇn sử dꢂng đꢃt”.  
Khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm  
2013 quy định: “2. Hꢀ gia đình, cꢁ nhân  
đang sử dꢂng đꢃt có mꢀt trong cꢁc loꢄi giꢃy  
tꢅ quy định tꢄi khoꢆn 1 Điꢇu này mà trên  
giꢃy tꢅ đó ghi tên ngưꢅi khꢁc, kèm theo  
giꢃy tꢅ vꢇ viꢈc chuyꢉn quyꢇn sử dꢂng đꢃt có  
chꢊ kꢋ cꢌa cꢁc bên có liên quan, nhưng đến  
Về bản chất, việc cấp Giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất cho những người nêu tại  
khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013  
không đơn thuần là một hoạt động quản lý  
Số 13(437) - T7/2021  
33  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
hành chính, mà quan trọng hơn, nó là một  
cơ chế xác lập quyền đối với tài sản. Bởi  
lẽ, điều khoản này quy định về cấp Giấy  
chứng nhận quyền sử dụng đất cho những  
người đang sử dụng thực tế một diện tích  
đất ổn định, trong một khoảng thời gian đủ  
dài theo luật định.  
chuyển quyền sử dụng đất từ một giao dịch  
như người được quy định tại điểm c khoản 1  
Điều 99 Luật Đất đai năm 20132. Nói cách  
khác, người được cấp Giấy chứng nhận theo  
quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai  
năm 2013, tuy nhận chuyển quyền từ người  
được quy định ở khoản 1 Điều 100 Luật Đất  
đai năm 2013, nhưng họ được cấp giấy với  
tư cách là người “đang sử dụng đất” ổn định,  
lâu dài, không có tranh chấp. Do vậy, giao  
dịch mà họ tham gia nhận quyền sử dụng đất  
không cần hội đủ tất cả các điều kiện có hiệu  
lực như những người quy định tại điểm c  
khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013.  
Nội dung của khoản 2 Điều 100 Luật  
Đất đai năm 2013 cho thấy, người được quy  
định tại khoản này chính là người đã nhận  
chuyển quyền từ người được quy định ở  
khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013.  
Tuy vậy, yếu tố “nhận chuyển quyền” ở đây  
chỉ mang ý nghĩa xác định nguồn gốc đất  
mà “họ đang sử dụng”, trước khi chuyển  
quyền do một người sử dụng đất khác sử  
dụng, chứ không phải của Nhà nước. Chính  
vì đất mà họ đang sử dụng, có nguồn gốc  
từ một người sử dụng đất được quy định tại  
khoản 1 chuyển quyền từ một giao dịch, nên  
người được quy định ở khoản 2 đã được cấp  
giấy chứng nhận mà “không phải nộp tiền  
sử dụng đất”, khác hơn so với trường hợp  
đang sử dụng đất nhưng đất đang sử dụng  
không có nguồn gốc từ việc nhận chuyển  
quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 101  
Luật Đất đai năm 20131.  
Ở đây, một vấn đề đặt ra là khoản 2 Điều  
100 Luật Đất đai năm 2013 có sự tác động  
như thế nào đến hướng giải quyết các tranh  
chấp giao dịch, nếu giao dịch mà người  
được quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật  
Đất đai năm 2013 tham gia để nhận quyền  
sử dụng đất bị yêu cầu tuyên bố vô hiệu?  
Theo các tác giả, giao dịch mà người  
được quy định tại điều khoản này tham gia  
để nhận quyền sử dụng đất không bị vô  
hiệu, nếu người chuyển quyền nại ra một  
trong những lý do vô hiệu sau đây (không  
phải trường hợp nào cũng không vô hiệu):  
Vì việc nhận chuyển quyền sử dụng đất  
chỉ có ý nghĩa về nguồn gốc đất, nên người  
được quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật  
Đất đai năm 2013 mặc dù được cấp Giấy  
chứng nhận, nhưng không phải được cấp  
Giấy chứng nhận với tư cách là người nhận  
- Không vô hiꢈu vì lꢋ do đꢃt chuyꢉn quyꢇn  
chưa đưꢐc cꢃp giꢃy chꢑng nhꢎn: Trong  
giải quyết các tranh chấp hợp đồng, mà bên  
chuyển quyền viện dẫn lý do rằng, thời điểm  
giao dịch quyền sử dụng đất chưa được cấp  
Giấy chứng nhận, thì không thể tuyên bố vô  
1 Khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các  
giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và  
không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp,  
phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông  
thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.  
2 Điểm c khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng  
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây: (…) c) Người được  
chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền  
sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ”.  
34  
Số 13(437) - T7/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
hiệu giao dịch vì lý do này, nếu người nhận  
chuyển quyền hội đủ các điều kiện được  
công nhận quyền sử dụng đất tại khoản 2  
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013. Bởi như  
đã nêu, khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm  
2013 hàm ý rằng, người này đã nhận chuyển  
quyền sử dụng đất từ một người chưa có  
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tức đất  
đó chưa được đăng ký lần nào), vẫn được  
công nhận quyền sử dụng đất. Do đó, kể cả  
khi pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch  
đó có quy định, quyền sử dụng đất được cấp  
Giấy chứng nhận là một điều kiện có hiệu lực  
của giao dịch, thì cũng không thể tuyên bố là  
vô hiệu, nếu tại thời điểm chuyển quyền sử  
dụng đất, cá nhân, hộ gia đình đã có giấy tờ  
quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai  
năm 2013. Vì như vậy sẽ buộc người nhận  
chuyển quyền, tức người được nêu ở khoản 2  
Điều 100 phải trả lại quyền sử dụng đất và do  
đó, hướng giải quyết sẽ đi ngược lại với điều  
khoản này. Tất nhiên, điều khoản này chỉ tác  
động tới những giao dịch được xác lập trước  
ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, vì  
như vậy người nhận chuyển quyền sử dụng  
đất từ giao dịch đó mới được coi là người  
“đang sử dụng đất”.  
tranh chấp giao dịch đó, không nên xử lý vô  
hiệu giao dịch vì lý do trái pháp luật. Chẳng  
hạn, trước đây, Luật Đất đai năm 1987 cấm  
chuyển quyền sử dụng đất, nhưng người đã  
nhận chuyển quyền trước ngày 15/10/1993  
và họ sử dụng ổn định cho tới ngày Luật Đất  
đai năm 2013 có hiệu lực (01/07/2014) thì  
có tranh chấp. Ở đây cần lưu ý rằng, nếu thời  
điểm giải quyết tranh chấp này là từ ngày  
01/07/2014 trở về sau, thì không nên xử lý  
vô hiệu giao dịch này vì lý do vào thời điểm  
giao dịch, Luật Đất đai năm 1987 cấm giao  
dịch. Bởi lẽ, như đã phân tích ở trên, bản chất  
pháp lý của việc công nhận quyền sử dụng  
đất cho những người được quy định tại khoản  
2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 không  
phải là công nhận quyền cho những người có  
được quyền sử dụng đất do hiệu lực của một  
giao dịch đưa lại, mà do họ đã sử dụng thực  
tế, ổn định trong một thời gian đủ dài theo  
luật định. Do vậy, cả về phương diện lý luận  
và ngay chính sự thể hiện của khoản 2 Điều  
100 Luật Đất đai năm 2013 đều cho thấy,  
việc chuyển quyền sử dụng nếu có trái pháp  
luật tại thời điểm đó, thì cũng không phải là  
căn cứ để khước từ quyền được công nhận  
của họ. Do đó, không thể tuyên bố những  
giao dịch mà người đã nhận quyền sử dụng  
đất đáp ứng được các quy định của khoản 2  
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 vô hiệu vì  
lý do việc chuyển quyền trái pháp luật.  
- Không vô hiꢈu vì giao dịch không đưꢐc  
công chꢑng hoꢔc chꢑng thꢏc: Tương tự,  
khi khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm  
2013 quy định, người có giấy tờ quy định  
tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm  
2013 mang tên người khác, và “kèm theo  
giấy tờ về việc chuyển nhượng có chữ ký  
của các bên liên quan” sẽ được công nhận  
quyền sử dụng đất.  
- Phꢄm vi giao dịch bị tꢁc đꢀng: như đã  
phân tích, khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai  
năm 2013 đã tác động tới hướng giải quyết  
yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với 3 lý do. Bên  
cạnh đó, nếu dựa trên cơ sở thời điểm xác lập  
giao dịch, thì khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai  
năm 2013 chỉ tác động tới những giao dịch  
đã xác lập trước ngày điều khoản này có hiệu  
lực (tức trước ngày 01/07/2014) mà không  
thể tác động tới những giao dịch được xác  
lập từ ngày này trở đi. Bởi lẽ, người được  
nêu tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm  
- Không vô hiꢈu vì lꢋ do phꢁp luꢎt cꢃm  
chuyꢉn quyꢇn: Kể cả khi, người đang sử dụng  
đất quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất  
đai năm 2013 nhận chuyển quyền sử dụng  
đất tại thời điểm pháp luật nghiêm cấm việc  
chuyển quyền, thì trong quá trình giải quyết  
Số 13(437) - T7/2021  
35  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
2013 đang có tư cách là người “đang sử dụng  
đất” trong mối quan hệ với hiệu lực của điều  
khoản này. Do vậy, thời điểm bắt đầu sử dụng  
đất phải trước ngày điều khoản này có hiệu  
lực. Ngoài ra, sự tác động của khoản 2 Điều  
100 Luật Đất đai năm 2013 chỉ tác động tới  
hướng giải quyết đối với những giao dịch  
phát sinh tranh chấp từ ngày 01/7/2014. Đối  
với những tranh chấp giao dịch phát sinh từ  
ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014,  
tuy không thể viện dẫn khoản 2 Điều 100  
Luật Đất đai năm 2013, nhưng hướng xử  
lý cũng không thay đổi, vì thực ra khoản 2  
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 được tiếp  
tục duy trì từ khoản 2 Điều 50 Luật Đất đai  
năm 2003.  
cho thấy, trong giải quyết các tranh chấp về  
quyền sử dụng đất, các cấp tòa có nhận định  
khác nhau về quy định của khoản 2 Điều  
100 Luật Đất đai năm 2013, cụ thể như sau:  
Vụ việc thứ nhất: Nguyên đơn gồm: Ông  
H, Bà T, Bà S, Bà M, Bà L, Bà V, cùng trú  
tại thị trấn Phú Lộc, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.  
Bị đơn là Bà X, trú tại xã V, huyện T, tỉnh  
Sóc Trăng. Cha mẹ của các nguyên đơn  
là ông Q (chết năm 2010) và mẹ là bà H3  
(chết năm 2013). Lúc sinh thời, cha mẹ các  
nguyên đơn có phần đất trồng lúa diện tích  
11.661m2 thuộc thửa 255, tờ bản đồ số 01,  
tọa lạc ấp M, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng  
được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc  
Trăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng  
đất vào ngày 19/10/1992 do ông Q đứng tên.  
Vào tháng 6/1993, cha, mẹ các nguyên đơn  
chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 255 cho  
ông Q2 và bà X giá 03 chỉ vàng 24k. Khi  
chuyển nhượng có làm giấy tay có ông L2  
(là Trưởng ban nhân dân ấp) xác nhận nhưng  
không có đo đạc thực tế, sau khi chuyển  
nhượng, ông Q giao giấy chứng nhận quyền  
sử dụng đất cho vợ chồng bà X giữ. Vợ chồng  
bị đơn đã sử dụng ổn định phần đất này đến  
khi tranh chấp là hơn 20 năm. Năm 2017,  
các nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng  
chuyển nhượng giữa cha, mẹ của các nguyên  
đơn với bị đơn là ông Q2, bà X vô hiệu. Bị  
đơn không đồng ý với yêu cầu này và có yêu  
cầu phản tố đề nghị Tòa án công nhận hợp  
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã  
được xác lập ngày 19/10/1992.  
Bên cạnh đó, một số lý do tuyên bố vô  
hiệu hợp đồng có thể không nằm trong sự  
tác động của khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai  
năm 2013. Chẳng hạn, vô hiệu do giả tạo,  
vô hiệu do bị đe dọa,… hoặc việc sử dụng  
đất của người đang sử dụng đất đe dọa đến  
trật tự công cộng, như việc sử dụng đất để  
xây nhà kiên cố trên đất nông nghiệp,…  
2. Bất cập của quy định tại khoản 2 Điều  
100 Luật Đất đai năm 2013 và một số  
kiến nghị hoàn thiện  
2.1. Nhận chuyển quyền từ người đã được  
cấp Giấy chứng nhận bị tuyên bố vô hiệu  
Theo quy định của khoản 2 Điều 100  
Luật Đất đai năm 2013, người “có giấy tờ  
nêu ở khoản 1 Điều này, và kèm theo giấy  
tờ về việc chuyển quyền có chữ ký của các  
bên liên quan” sẽ được công nhận quyền sử  
dụng đất. Quy định này có thể được hiểu  
là, người đã nhận chuyển quyền từ những  
người chưa được cấp giấy chứng nhận, sẽ  
được công nhận quyền sử dụng đất. Như  
vậy, trường hợp nhận chuyển quyền sử  
dụng đất từ người đã đăng ký quyền đó thì  
có được công nhận quyền theo điều khoản  
này không? Thực tiễn xét xử của Tòa án  
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: “việc  
bị đơn X cho rằng, ngày 20/7/1993 vợ  
chồng bị đơn có thỏa thuận nhận chuyển  
nhượng của cha các nguyên đơn thửa đất số  
255 (…) với giá chuyển nhượng là 08 chỉ  
vàng 24k là có căn cứ. Tuy nhiên, tại thời  
điểm các bên xác lập việc chuyển nhượng  
quyền sử dụng đất ngày 20/7/1993 trên, thì  
36  
Số 13(437) - T7/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
theo quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm  
1987 có hiệu lực nghiêm cấm việc mua,  
bán phát canh thu tô chuyển nhượng đất  
đai dưới mọi hình thức. Do đó, về nguyên  
tắc chung, theo quy định tại điểm a khoản  
1 Điều 15 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm  
1991 thì hợp đồng chuyển nhượng quyền  
sử dụng đất xác lập ngày 20/7/1993 là hợp  
đồng trái pháp luật”.  
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, dẫn đến  
bà X không thể dẫn được điều luật nào nhằm  
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.  
Lưu ý rằng, thời điểm tranh chấp hợp đồng  
là năm 2017, khi Luật Đất đai năm 2013 đã  
có hiệu lực. Bà X, với tư cách là người nhận  
chuyển nhượng từ ông Q, đã sử dụng đất đó  
từ ngay sau khi xác lập hợp đồng (1992) với  
việc trồng lúa ổn định, phù hợp với mục đích  
sử dụng đất nông nghiệp trước đó.  
“Xét thấy, trên thực tế khi xác lập chuyển  
nhượng ngày 20/7/1993 đối với thửa đất số  
255trên,ôngQ(chacácnguyênđơn)đãđược  
Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất ngày 19/10/1992,  
từ khi nhận chuyển nhượng đến nay bị đơn  
X sử dụng đất để trồng lúa, tuy hợp đồng  
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được  
thực hiện, nhưng bên nhận chuyển nhượng  
(bị đơn X) không thực hiện thủ tục chuyển  
quyền và chưa được cấp Giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất và cũng chưa hoàn tất thủ  
tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng  
đất tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền. Do  
đó, đối với diện tích đất tranh chấp nêu trên,  
việc xác lập chuyển nhượng giữa vợ chồng  
bị đơn và ông Q (cha các nguyên đơn) ngày  
20/7/1993 là vô hiệu do vi phạm điều cấm  
của pháp luật được quy định tại Điều 5 Luật  
Đất đai năm 1987, điểm a khoản 1 Điều 15  
Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm …3.  
Trong vụ việc này, Tòa án nhận định lý do  
vô hiệu là do pháp luật tại thời điểm xác lập  
hợp đồng nghiêm cấm việc chuyển nhượng.  
Với lập luận như vậy, các tác giả nhận thấy  
không thuyết phục và không phù hợp với  
tinh thần của khoản 2 Điều 100 Luật Đất  
đai năm 2013. Theo các tác giả, Tòa án cần  
viện dẫn khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm  
2013 để áp dụng tương tự và giải quyết tranh  
chấp trên theo hướng công nhận hợp đồng để  
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên  
nhận chuyển nhượng, là bà X.  
Vụ việc thứ hai: Nguồn gốc đất tranh  
chấp theo Công văn số 113/UBND - TNMT  
ngày 03/7/2017 của Ủy ban nhân dân  
huyện G xác định diện tích đất 2.591m2  
thuộc thửa 281, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại  
ấp H, xã T, huyện G đã được xác lập trong  
sổ địa chính trước ngày 15/10/1993, tức là  
có giấy tờ tại điểm b khoản 1 Điều 100  
Luật Đất đai năm 2013. Diện tích đất do  
cha và mẹ ông khai phá và được sự thừa  
nhận của bên nguyên đơn và bị đơn. Cha  
ông đã chết năm 1978, chỉ còn mẹ ông Đ là  
bà K. Ngày 08/4/1993, ông Đ sang nhượng  
cho ông C 2.381m2 đất này với giá 04 chỉ  
vàng 24k. Việc sang nhượng viết tay và  
được Ban Lãnh đạo ấp Huỳnh Công Lực  
ký xác nhận để trả nợ ngân hàng, lúc làm  
giấy bán có mặt bà K và ông H chứng kiến  
nhưng không có ký tên vào giấy bán đất.  
Như vậy, trong vụ việc vừa nêu, bà X là  
bị đơn, người nhận chuyển nhượng quyền  
sử dụng đất từ người đã đăng ký quyền theo  
Luật Đất đai năm 1987 (ông Q đứng tên trên  
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được  
cấp ngày 19/10/1992). Bà X là người có  
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được  
cấp trước ngày 15/10/1993 nhưng mang tên  
ông Q; kèm theo giấy đó, có văn bản chuyển  
nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của ông  
Q, song bà X lại không được nêu tại khoản 2  
3
Bản án số 03/2018/DS-PT ngày 03/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng  
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.  
Số 13(437) - T7/2021  
37  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Ông Đ lấy tiền rồi giao đất và giấy bán đất  
cho ông C. Ngay sau khi mua xong đất,  
ông C chết, vợ ông C (bà T) khó khăn nên  
nhượng lại cho ông L và bà Ph và T giao  
luôn giấy tay sang bán với ông Đ cho vợ  
chồng ông L và Ph giữ đến nay. Năm 2017,  
ông Đ và ông H nại ra lý do mẹ ông là  
bà K không có ký vào giấy mua bán ngày  
08/4/1993 để khởi kiện yêu cầu Tòa án  
tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa  
ông Đ và ông C vô hiệu và yêu cầu ông L,  
bà Ph phải trả lại diện tích đất trên; ông Đ  
và ông C chấp nhận trả lại vàng. Sau khi  
xét xử sơ thẩm, ngày 25/8/2017 ông H và  
ông Đ có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án  
cấp phúc thẩm hủy hợp đồng mua bán bất  
hợp pháp của gia đình ông với ông C; hủy  
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng  
đất giữa bà T với vợ chồng ông L, bà Ph.  
đã cất nhà ở kiên cố ổn định, bên mua cũng  
không tranh chấp; do đó, cần công nhận việc  
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các  
bên, để giữ sự ổn định và không chấp nhận  
nội dung kháng cáo của ông Đ, H4.  
Trong 02 vụ việc nêu trên, Tòa án không  
áp dụng tương tự khoản 2 Điều 100 Luật  
Đất đai năm 2013 nhằm công nhận hợp  
đồng khi người nhận chuyển nhượng đã  
thỏa mãn có điều kiện giống như các trường  
hợp nêu tại khoản 2. Ở đây, sự khác biệt  
chỉ nằm ở chỗ, trong vụ việc thứ nhất, bị  
đơn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  
mang tên người khác; còn vụ việc thứ hai  
thì bị đơn nhận chuyển nhượng của người  
đã được ghi nhận trong sổ địa chính; tuy  
nhiên, hướng xử lý lại trái ngược nhau.  
Các tác giả cho rằng, việc Tòa án giải  
quyết theo hai hướng xử lý trái ngược nêu  
trên là do khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai  
năm 2013 chỉ nêu những trường hợp “có  
giꢃy tꢅ ꢒ khoꢆn 1 Điꢇu này nhưng mang tên  
ngưꢅi khꢁc” mà không đề cập đến trường  
hợp “có giꢃy chꢑng nhꢎn quyꢇn sử dꢂng  
đꢃt mang tên ngưꢅi khꢁc”. Mặc dù, trong  
trường hợp này, Tòa án vẫn cần áp dụng  
tương tự khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai  
năm 2013 để công nhận hợp đồng đối với  
tranh chấp ở vụ việc thứ nhất mới thực sự  
phù hợp với bản chất pháp lý của việc công  
nhận quyền sử dụng đất mà Luật Đất đai  
năm 2013 đã thể hiện. Tuy nhiên, đề bảo  
đảm điều luật được áp dụng một cách thống  
nhất, cần sửa đổi khoản 2 Điều 100 Luật Đất  
đai năm 2013 theo hướng bổ sung trường  
hợp người có giấy chứng nhận quyền sử  
dụng đất mang tên người khác, kèm theo  
giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất  
có chữ ký các bên liên quan mà không nên  
chỉ giữ nguyên các loại giấy tờ tại khoản 1  
như hiện nay.  
Tòa án cấp phúc thẩm lập luận: “Căn cứ  
giấy viết tay sang nhượng đất vườn lập ngày  
08/4/1993 thể hiện nội dung Đ sang nhượng  
cho C”; “Sau khi chuyển nhượng đất, bà K,  
ông Đ đã dỡ nhà giao đất cho vợ chồng ông  
C và khi ông C mất, bà T có hoàn cảnh khó  
khăn mới tiếp tục chuyển nhượng quyền sử  
dụng đất cho L (em ruột C) và sau này vợ  
chồng L, Ph về cất nhà ở trên phần đất này,  
lúc này không có ai tranh chấp. Xét giấy tay  
mua bán đất giữa Đ với C lập ngày 08/4/1993  
là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng  
đất trước ngày 15/10/1993 đã được các bên  
thừa nhận giao đất và thanh toán tiền xong,  
đến năm 2016 phía Đ mới phát sinh tranh  
chấp, cho nên” (…) “trong trường hợp hợp  
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất  
được lập thành văn bản, có chữ ký của các  
bên, bên bán đã nhận đủ tiền, bên mua tuy  
chưa ký tên nhưng là người giữ hợp đồng,  
quản lý sử dụng đất ổn định thời gian dài  
mà bên bán không tranh chấp, nay tiếp tục  
chuyển nhượng cho người khác và người này  
4
Xem thêm: Bản án dân sự phúc thẩm số 211/2017/DS-PT ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh  
Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.  
38  
Số 13(437) - T7/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
2.2. Cách thể hiện nội dung của khoản 2  
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 chưa phù  
hợp, dẫn đến đlều khoản này chưa được  
viện dẫn, áp dụng trong thực tế xét xử  
đạt này dễ gây ra sự nhầm lẫn giữa một người  
đang sử dụng đất được nêu tại khoản 2 Điều  
100 Luật Đất đai năm 2013 và người nhận  
chuyển quyền đích thực, đúng pháp luật được  
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 99 Luật Đất  
đai năm 2013 và do đó dẫn tới đặt ra các yêu  
cầu cao hơn luật định.  
Công nhận quyền sử dụng đất là một cơ chế  
xác lập quyền theo luật định. Tuy nhiên, khi  
điều chỉnh về quan hệ pháp luật này, khoản 2  
nói riêng và toàn bộ Điều 100 (cũng như các  
Điều 101, 102) Luật Đất đai năm 2013 đã sử  
dụng thuật ngữ “cꢃp giꢃy chꢑng nhꢎn quyꢇn  
sử dꢂng đꢃt cho ngưꢅi đang sử dꢂng đꢃt”.  
Việc sử dụng thuật ngữ như vậy, tuy có sự  
nhấn mạnh đến yếu tố “đang sử dụng” thực tế  
một diện tích đất, nhưng rất dễ bị hiểu rằng,  
đây là một quan hệ pháp luật hành chính đơn  
thuần giữa các cơ quan có thẩm quyền cấp  
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với người  
đề nghị cấp giấy. Vì vậy, Tòa án không viện  
dẫn khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013  
để áp dụng tương tự, khi giải quyết yêu cầu  
tuyên giao dịch vô hiệu, mặc dù người nhận  
chuyển quyền hoàn toàn hội đủ các điều kiện  
được công nhận quyền sử dụng đất như người  
được quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất  
đai năm 2013. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều  
100 Luật Đất đai năm 2013 dùng thuật ngữ  
“có chꢊ kꢋ cꢌa các bên có liên quan”, khiến  
người ta chỉ liên tưởng đến các hợp đồng mà  
không liên hệ tới các giao dịch không là hợp  
đồng nói chung và di chúc nói riêng, vì chúng  
chỉ có chữ ký của “một bên”. Ngoài ra, cụm  
từ “chưa thꢏc hiꢈn thꢌ tꢂc chuyꢉn quyꢇn sử  
dꢂng đꢃt theo quy định cꢌa phꢁp luꢎt” cũng  
chưa hợp lý. Bởi lẽ, người được công nhận  
quyền sử dụng đất là người được xác lập  
quyền đối với diện tích đất do họ chiếm hữu,  
sử dụng công khai, liên tục, ổn định mà có,  
chứ không phải do hiệu lực của giao dịch  
mang tới cho họ quyền đó. Mặt khác, khi  
chuyển quyền, quyền sử dụng đất chưa được  
đăng ký và cấp giấy chứng nhận mà chỉ có  
các giấy tờ quy định ở khoản 1, thì sao đặt ra  
vấn đề “thực hiện thủ tục chuyển quyền sử  
dụng đất” đối với trường hợp này? Cách diễn  
Để khắc phục bất cập nêu trên, cần sửa  
đổi khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm  
2013 theo hướng sau:  
- Thay cụm từ “cꢃp giꢃy chꢑng nhꢎn  
quyꢇn sử dꢂng đꢃt, quyꢇn sꢒ hꢊu nhà ꢒ và  
tài sꢆn khꢁc gꢓn liꢇn vꢍi đꢃt” bằng cụm từ  
“công nhꢎn quyꢇn sử dꢂng đꢃt”. Điều này  
nhấn mạnh một chính sách công nhận quyền  
sử dụng đất, một cơ chế xác lập quyền sử  
dụng đất và có thể được viện dẫn tại Tòa  
án trong giải quyết tranh chấp có liên quan.  
- Thay cụm từ “có chꢊ kꢋ cꢌa cꢁc bên  
liên quan” thành cụm từ “có chꢊ kꢋ cꢌa  
ngưꢅi chuyꢉn quyꢇn” nhằm mô tả sát với  
quan hệ pháp luật này hơn, đồng thời bao  
quát được cả trường hợp chuyển quyền  
không là hợp đồng;  
- Bỏ cụm từ “chưa thực hiện thủ tục  
chuyển quyền theo quy định của pháp luật”.  
2.3. Khó hiểu về điều kiện “không có  
tranh chấp”  
Khi quy định về điều kiện được công nhận  
quyền sử dụng đất, khoản 2 Điều 100 Luật  
Đất đai năm 2013 quy định “đꢃt đó không có  
tranh chꢃp” thì mới được công nhận quyền  
sử dụng đất. Điều khoản này được diễn đạt  
khá ngắn, dẫn đến rất khó hiểu. Ở đây, phải  
hiểu là đến ngày 01/7/2014, khi điều khoản  
này đã có hiệu lực, nhưng không có tranh  
chấp được coi là không có tranh chấp; hay  
phải hiểu là tại thời điểm người sử dụng đất đề  
nghị công nhận quyền sử dụng đất mà không  
có tranh chấp mới được coi là không có tranh  
chấp. Thực tiễn đang theo cách hiểu thứ hai.  
Tuy nhiên, điều kiện không có tranh chấp nên  
hiểu là đến trước ngày 01/7/2014 mà không  
Số 13(437) - T7/2021  
39  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
có tranh chấp thì đã hội đủ điều kiện “không  
có tranh chấp”. Bởi vì, người này đã chiếm  
hữu, sử dụng thực tế, ổn định trên một diện  
tích đất trong một thời gian dài theo luật định,  
thì đến ngày 01/7/2014 đã được coi là đủ thời  
hiệu để được công nhận quyền sử dụng đất.  
Khi đã đủ thời hiệu công nhận quyền, thì các  
tranh chấp phát sinh từ ngày 01/7/2014 không  
được xem là điều kiện để công nhận quyền sử  
dụng đất. Điều này cho phép chúng ta khẳng  
định rằng, nếu từ ngày 01/7/2014 có phát sinh  
tranh chấp, thì người được đề cập tại khoản 2  
Điều 100 Luật Đất đai hiện hành vẫn được  
công nhận quyền sử dụng đất.  
vẫn mang tinh thần coi hộ gia đình sử dụng  
đất là một chủ thể. Việc thừa nhận tư cách  
chủ thể cho hộ gia đình sử dụng đất không  
chỉ là vấn đề riêng của mối quan hệ giữa  
Nhà nước và người sử dụng đất trong việc  
công nhận quyền sử dụng đất, mà còn liên  
quan tới mối quan hệ giữa hộ gia đình đó  
với tất cả các chủ thể khác trong đời sống  
dân sự. Bởi vì, sau khi công nhận, quyền  
sử đất có thể được hộ gia đình chuyển  
giao cho chủ thể khác thông qua hợp đồng  
và vì vậy, hộ gia đình sẽ trở thành chủ thể  
của pháp luật dân sự. Do đó, một vấn đề  
đặt ra là tại sao Bộ luật Dân sự năm 2015  
không coi hộ gia đình là chủ thể trong  
lĩnh vực luật tư nói chung và trong quan  
hệ hợp đồng nói riêng, khoản 2 Điều 100  
Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đất đai  
năm 2013 nói chung lại đi theo một cách  
tiếp cận khác? Sự thiếu thống nhất như  
vậy khiến cho việc giải quyết các tranh  
chấp về giao dịch quyền sử dụng đất có  
một bên là hộ gia đình trở nên phức tạp  
và thậm chí trong một số trường hợp, ảnh  
hưởng đến tính ngay tình của người giao  
Theo các tác giả, nội dung này cần được  
viết lại như sau: “ (…) nhưng đến trưꢍc ngày  
Luꢎt này có hiꢈu lꢏc mà không có tranh chꢃp  
thì đưꢐc công nhꢎn quyꢇn sử dꢂng đꢃt mà  
không phꢆi nꢀp tiꢇn sử dꢂng đꢃt”.  
2.4. Chưa khẳng định rõ về thời gian  
bắt đầu sử dụng đất  
Với quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật  
Đất đai năm 2013, cũng như các văn bản  
hướng dẫn thi hành, chúng ta sẽ không có  
cơ sở xác định người đang được nói đến ở  
điều khoản này phải bắt đầu sử dụng đất tại  
thời điểm nào trước khi Luật Đất đai có hiệu  
lực, và do đó tạo sự lúng túng cho thực tiễn  
áp dụng tại các cơ quan hành chính trong  
cấp giấy chứng nhận, cũng như tại cơ quan  
tư pháp khi giải quyết tranh chấp về hợp  
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có  
vi phạm về hình thức). Theo các tác giả,  
cần xác định người nhận chuyển quyền sử  
dụng đất nêu tại khoản 2 Điều này là người  
sử dụng thực tế diện tích đất do đã nhận  
chuyển quyền trước ngày 01/7/2014.  
5
dịch với hộ gia đình . Dường như Luật  
Đất đai năm 2013 vẫn duy trì chủ thể này  
nhằm ngụ ý nói rằng, những thành viên  
của hộ đã trưởng thành khi sử dụng, định  
đoạt quyền sử dụng đất phải phục vụ lợi  
ích chung của cả hộ gia đình, trong đó có  
các thành viên chưa có năng lực hành vi  
dân sự đầy đủ. Tuy nhiên, theo các tác  
giả, đó là nhiệm vụ của Luật Hôn nhân và  
gia đình và các quy định về giám hộ trong  
pháp luật dân sự.  
Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống  
pháp luật, cần sửa đổi Luật Đất đai năm  
2013 theo hướng không xác định hộ gia  
đình là chủ thể của quyền sử dụng đất như  
2.5. Về chủ thể “hộ gia đình”  
Khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm  
2013, cũng như Luật Đất đai năm 2013  
hiện nay  
5 Thông tin đăng ký và thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên “chủ hộ” mà không ghi  
tên các thành viên của hộ gia đình, nhưng người giao dịch với hộ gia đình lại không được bảo vệ khi đã xác  
lập giao dịch với chủ hộ.  
40  
Số 13(437) - T7/2021  
pdf 8 trang Thùy Anh 11240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện quy định tại khoản 2 điều 100 luật đất đai năm 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_quy_dinh_tai_khoan_2_dieu_100_luat_dat_dai_nam_20.pdf