Hoàn thiện quy định tại khoản 2 điều 100 luật đất đai năm 2013
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 2 ĐIỀU 100 LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013
Thân Văn Tài*
Nguyễn Thị Phi Yến**
*,** ThS. GV. Trường Đại học Luật, Đại học Huế
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Trên cơ sở làm rõ việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy
định tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 như là một cơ chế
công nhận quyền sử dụng đất, có bản chất pháp lý khác biệt với việc cấp
giấy chứng nhận theo điểm c khoản 1 Điều 99, bài viết đặt ra những yêu
cầu trong việc giải quyết các tranh chấp về giao dịch quyền sử dụng đất
trong trường hợp người nhận chuyển quyền là người được nêu trong điều
khoản, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện điều khoản này trong
thời gian tới.
Từ khóa: Công nhận quyền sử
dụng đất, nhận chuyển quyền sử
dụng đất, hoàn thiện quy định tại
khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai
năm 2013.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 18/4/2021
: 08/5/2021
: 12/5/2021
Article Infomation:
Abstract:
On the basis of clarification of certificate issuance of land use right
as specified in clause 2, Article 100 of the Law on Land of 2013 as a
mechanism to recognize land use rights, having a different legal nature
from the issuance of certificates according to point c, clause 1, Article
99, this article sets forth requirements in the settlement of disputes over
land use right transactions in case the transferee is the person mentioned
in this article. From this approach, the article also provides analysis of
shortcomings in clause 2, Article 100 and a number of recommendations
for the further improvements of this article in the coming time.
Keywords: Recognition of
land use rights; transfer of land
use rights; improvements of
provisions in clause 2, Article
100 Law on Land of 2013.
Article History:
Received
Edited
: 18 Apr. 2021
: 08 May 2021
: 12 May 2021
Approved
1. Bản chất pháp lý của việc cấp giấy
chứng nhận tại khoản 2 Điều 100 Luật
Đất đai năm 2013 và yêu cầu đặt ra đối
với việc giải quyết yêu cầu tuyên bố giao
dịch về quyền sử dụng đất vô hiệu
trưꢍc ngày Luꢎt này có hiꢈu lꢏc thi hành
chưa thꢏc hiꢈn thꢌ tꢂc chuyꢉn quyꢇn sử
dꢂng đꢃt theo quy định cꢌa phꢁp luꢎt và đꢃt
đó không có tranh chꢃp thì đưꢐc cꢃp Giꢃy
chꢑng nhꢎn quyꢇn sử dꢂng đꢃt, quyꢇn sꢒ
hꢊu nhà ꢒ và tài sꢆn khꢁc gꢓn liꢇn vꢍi đꢃt
và không phꢆi nꢀp tiꢇn sử dꢂng đꢃt”.
Khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm
2013 quy định: “2. Hꢀ gia đình, cꢁ nhân
đang sử dꢂng đꢃt có mꢀt trong cꢁc loꢄi giꢃy
tꢅ quy định tꢄi khoꢆn 1 Điꢇu này mà trên
giꢃy tꢅ đó ghi tên ngưꢅi khꢁc, kèm theo
giꢃy tꢅ vꢇ viꢈc chuyꢉn quyꢇn sử dꢂng đꢃt có
chꢊ kꢋ cꢌa cꢁc bên có liên quan, nhưng đến
Về bản chất, việc cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho những người nêu tại
khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013
không đơn thuần là một hoạt động quản lý
Số 13(437) - T7/2021
33
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
hành chính, mà quan trọng hơn, nó là một
cơ chế xác lập quyền đối với tài sản. Bởi
lẽ, điều khoản này quy định về cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho những
người đang sử dụng thực tế một diện tích
đất ổn định, trong một khoảng thời gian đủ
dài theo luật định.
chuyển quyền sử dụng đất từ một giao dịch
như người được quy định tại điểm c khoản 1
Điều 99 Luật Đất đai năm 20132. Nói cách
khác, người được cấp Giấy chứng nhận theo
quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai
năm 2013, tuy nhận chuyển quyền từ người
được quy định ở khoản 1 Điều 100 Luật Đất
đai năm 2013, nhưng họ được cấp giấy với
tư cách là người “đang sử dụng đất” ổn định,
lâu dài, không có tranh chấp. Do vậy, giao
dịch mà họ tham gia nhận quyền sử dụng đất
không cần hội đủ tất cả các điều kiện có hiệu
lực như những người quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013.
Nội dung của khoản 2 Điều 100 Luật
Đất đai năm 2013 cho thấy, người được quy
định tại khoản này chính là người đã nhận
chuyển quyền từ người được quy định ở
khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013.
Tuy vậy, yếu tố “nhận chuyển quyền” ở đây
chỉ mang ý nghĩa xác định nguồn gốc đất
mà “họ đang sử dụng”, trước khi chuyển
quyền do một người sử dụng đất khác sử
dụng, chứ không phải của Nhà nước. Chính
vì đất mà họ đang sử dụng, có nguồn gốc
từ một người sử dụng đất được quy định tại
khoản 1 chuyển quyền từ một giao dịch, nên
người được quy định ở khoản 2 đã được cấp
giấy chứng nhận mà “không phải nộp tiền
sử dụng đất”, khác hơn so với trường hợp
đang sử dụng đất nhưng đất đang sử dụng
không có nguồn gốc từ việc nhận chuyển
quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 101
Luật Đất đai năm 20131.
Ở đây, một vấn đề đặt ra là khoản 2 Điều
100 Luật Đất đai năm 2013 có sự tác động
như thế nào đến hướng giải quyết các tranh
chấp giao dịch, nếu giao dịch mà người
được quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật
Đất đai năm 2013 tham gia để nhận quyền
sử dụng đất bị yêu cầu tuyên bố vô hiệu?
Theo các tác giả, giao dịch mà người
được quy định tại điều khoản này tham gia
để nhận quyền sử dụng đất không bị vô
hiệu, nếu người chuyển quyền nại ra một
trong những lý do vô hiệu sau đây (không
phải trường hợp nào cũng không vô hiệu):
Vì việc nhận chuyển quyền sử dụng đất
chỉ có ý nghĩa về nguồn gốc đất, nên người
được quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật
Đất đai năm 2013 mặc dù được cấp Giấy
chứng nhận, nhưng không phải được cấp
Giấy chứng nhận với tư cách là người nhận
- Không vô hiꢈu vì lꢋ do đꢃt chuyꢉn quyꢇn
chưa đưꢐc cꢃp giꢃy chꢑng nhꢎn: Trong
giải quyết các tranh chấp hợp đồng, mà bên
chuyển quyền viện dẫn lý do rằng, thời điểm
giao dịch quyền sử dụng đất chưa được cấp
Giấy chứng nhận, thì không thể tuyên bố vô
1 Khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các
giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và
không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp,
phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông
thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
2 Điểm c khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây: (…) c) Người được
chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền
sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ”.
34
Số 13(437) - T7/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
hiệu giao dịch vì lý do này, nếu người nhận
chuyển quyền hội đủ các điều kiện được
công nhận quyền sử dụng đất tại khoản 2
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013. Bởi như
đã nêu, khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm
2013 hàm ý rằng, người này đã nhận chuyển
quyền sử dụng đất từ một người chưa có
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tức đất
đó chưa được đăng ký lần nào), vẫn được
công nhận quyền sử dụng đất. Do đó, kể cả
khi pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch
đó có quy định, quyền sử dụng đất được cấp
Giấy chứng nhận là một điều kiện có hiệu lực
của giao dịch, thì cũng không thể tuyên bố là
vô hiệu, nếu tại thời điểm chuyển quyền sử
dụng đất, cá nhân, hộ gia đình đã có giấy tờ
quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai
năm 2013. Vì như vậy sẽ buộc người nhận
chuyển quyền, tức người được nêu ở khoản 2
Điều 100 phải trả lại quyền sử dụng đất và do
đó, hướng giải quyết sẽ đi ngược lại với điều
khoản này. Tất nhiên, điều khoản này chỉ tác
động tới những giao dịch được xác lập trước
ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, vì
như vậy người nhận chuyển quyền sử dụng
đất từ giao dịch đó mới được coi là người
“đang sử dụng đất”.
tranh chấp giao dịch đó, không nên xử lý vô
hiệu giao dịch vì lý do trái pháp luật. Chẳng
hạn, trước đây, Luật Đất đai năm 1987 cấm
chuyển quyền sử dụng đất, nhưng người đã
nhận chuyển quyền trước ngày 15/10/1993
và họ sử dụng ổn định cho tới ngày Luật Đất
đai năm 2013 có hiệu lực (01/07/2014) thì
có tranh chấp. Ở đây cần lưu ý rằng, nếu thời
điểm giải quyết tranh chấp này là từ ngày
01/07/2014 trở về sau, thì không nên xử lý
vô hiệu giao dịch này vì lý do vào thời điểm
giao dịch, Luật Đất đai năm 1987 cấm giao
dịch. Bởi lẽ, như đã phân tích ở trên, bản chất
pháp lý của việc công nhận quyền sử dụng
đất cho những người được quy định tại khoản
2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 không
phải là công nhận quyền cho những người có
được quyền sử dụng đất do hiệu lực của một
giao dịch đưa lại, mà do họ đã sử dụng thực
tế, ổn định trong một thời gian đủ dài theo
luật định. Do vậy, cả về phương diện lý luận
và ngay chính sự thể hiện của khoản 2 Điều
100 Luật Đất đai năm 2013 đều cho thấy,
việc chuyển quyền sử dụng nếu có trái pháp
luật tại thời điểm đó, thì cũng không phải là
căn cứ để khước từ quyền được công nhận
của họ. Do đó, không thể tuyên bố những
giao dịch mà người đã nhận quyền sử dụng
đất đáp ứng được các quy định của khoản 2
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 vô hiệu vì
lý do việc chuyển quyền trái pháp luật.
- Không vô hiꢈu vì giao dịch không đưꢐc
công chꢑng hoꢔc chꢑng thꢏc: Tương tự,
khi khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm
2013 quy định, người có giấy tờ quy định
tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm
2013 mang tên người khác, và “kèm theo
giấy tờ về việc chuyển nhượng có chữ ký
của các bên liên quan” sẽ được công nhận
quyền sử dụng đất.
- Phꢄm vi giao dịch bị tꢁc đꢀng: như đã
phân tích, khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai
năm 2013 đã tác động tới hướng giải quyết
yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với 3 lý do. Bên
cạnh đó, nếu dựa trên cơ sở thời điểm xác lập
giao dịch, thì khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai
năm 2013 chỉ tác động tới những giao dịch
đã xác lập trước ngày điều khoản này có hiệu
lực (tức trước ngày 01/07/2014) mà không
thể tác động tới những giao dịch được xác
lập từ ngày này trở đi. Bởi lẽ, người được
nêu tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm
- Không vô hiꢈu vì lꢋ do phꢁp luꢎt cꢃm
chuyꢉn quyꢇn: Kể cả khi, người đang sử dụng
đất quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất
đai năm 2013 nhận chuyển quyền sử dụng
đất tại thời điểm pháp luật nghiêm cấm việc
chuyển quyền, thì trong quá trình giải quyết
Số 13(437) - T7/2021
35
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
2013 đang có tư cách là người “đang sử dụng
đất” trong mối quan hệ với hiệu lực của điều
khoản này. Do vậy, thời điểm bắt đầu sử dụng
đất phải trước ngày điều khoản này có hiệu
lực. Ngoài ra, sự tác động của khoản 2 Điều
100 Luật Đất đai năm 2013 chỉ tác động tới
hướng giải quyết đối với những giao dịch
phát sinh tranh chấp từ ngày 01/7/2014. Đối
với những tranh chấp giao dịch phát sinh từ
ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014,
tuy không thể viện dẫn khoản 2 Điều 100
Luật Đất đai năm 2013, nhưng hướng xử
lý cũng không thay đổi, vì thực ra khoản 2
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 được tiếp
tục duy trì từ khoản 2 Điều 50 Luật Đất đai
năm 2003.
cho thấy, trong giải quyết các tranh chấp về
quyền sử dụng đất, các cấp tòa có nhận định
khác nhau về quy định của khoản 2 Điều
100 Luật Đất đai năm 2013, cụ thể như sau:
Vụ việc thứ nhất: Nguyên đơn gồm: Ông
H, Bà T, Bà S, Bà M, Bà L, Bà V, cùng trú
tại thị trấn Phú Lộc, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Bị đơn là Bà X, trú tại xã V, huyện T, tỉnh
Sóc Trăng. Cha mẹ của các nguyên đơn
là ông Q (chết năm 2010) và mẹ là bà H3
(chết năm 2013). Lúc sinh thời, cha mẹ các
nguyên đơn có phần đất trồng lúa diện tích
11.661m2 thuộc thửa 255, tờ bản đồ số 01,
tọa lạc ấp M, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng
được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc
Trăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất vào ngày 19/10/1992 do ông Q đứng tên.
Vào tháng 6/1993, cha, mẹ các nguyên đơn
chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 255 cho
ông Q2 và bà X giá 03 chỉ vàng 24k. Khi
chuyển nhượng có làm giấy tay có ông L2
(là Trưởng ban nhân dân ấp) xác nhận nhưng
không có đo đạc thực tế, sau khi chuyển
nhượng, ông Q giao giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho vợ chồng bà X giữ. Vợ chồng
bị đơn đã sử dụng ổn định phần đất này đến
khi tranh chấp là hơn 20 năm. Năm 2017,
các nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng giữa cha, mẹ của các nguyên
đơn với bị đơn là ông Q2, bà X vô hiệu. Bị
đơn không đồng ý với yêu cầu này và có yêu
cầu phản tố đề nghị Tòa án công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã
được xác lập ngày 19/10/1992.
Bên cạnh đó, một số lý do tuyên bố vô
hiệu hợp đồng có thể không nằm trong sự
tác động của khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai
năm 2013. Chẳng hạn, vô hiệu do giả tạo,
vô hiệu do bị đe dọa,… hoặc việc sử dụng
đất của người đang sử dụng đất đe dọa đến
trật tự công cộng, như việc sử dụng đất để
xây nhà kiên cố trên đất nông nghiệp,…
2. Bất cập của quy định tại khoản 2 Điều
100 Luật Đất đai năm 2013 và một số
kiến nghị hoàn thiện
2.1. Nhận chuyển quyền từ người đã được
cấp Giấy chứng nhận bị tuyên bố vô hiệu
Theo quy định của khoản 2 Điều 100
Luật Đất đai năm 2013, người “có giấy tờ
nêu ở khoản 1 Điều này, và kèm theo giấy
tờ về việc chuyển quyền có chữ ký của các
bên liên quan” sẽ được công nhận quyền sử
dụng đất. Quy định này có thể được hiểu
là, người đã nhận chuyển quyền từ những
người chưa được cấp giấy chứng nhận, sẽ
được công nhận quyền sử dụng đất. Như
vậy, trường hợp nhận chuyển quyền sử
dụng đất từ người đã đăng ký quyền đó thì
có được công nhận quyền theo điều khoản
này không? Thực tiễn xét xử của Tòa án
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: “việc
bị đơn X cho rằng, ngày 20/7/1993 vợ
chồng bị đơn có thỏa thuận nhận chuyển
nhượng của cha các nguyên đơn thửa đất số
255 (…) với giá chuyển nhượng là 08 chỉ
vàng 24k là có căn cứ. Tuy nhiên, tại thời
điểm các bên xác lập việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 20/7/1993 trên, thì
36
Số 13(437) - T7/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
theo quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm
1987 có hiệu lực nghiêm cấm việc mua,
bán phát canh thu tô chuyển nhượng đất
đai dưới mọi hình thức. Do đó, về nguyên
tắc chung, theo quy định tại điểm a khoản
1 Điều 15 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm
1991 thì hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất xác lập ngày 20/7/1993 là hợp
đồng trái pháp luật”.
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, dẫn đến
bà X không thể dẫn được điều luật nào nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Lưu ý rằng, thời điểm tranh chấp hợp đồng
là năm 2017, khi Luật Đất đai năm 2013 đã
có hiệu lực. Bà X, với tư cách là người nhận
chuyển nhượng từ ông Q, đã sử dụng đất đó
từ ngay sau khi xác lập hợp đồng (1992) với
việc trồng lúa ổn định, phù hợp với mục đích
sử dụng đất nông nghiệp trước đó.
“Xét thấy, trên thực tế khi xác lập chuyển
nhượng ngày 20/7/1993 đối với thửa đất số
255trên,ôngQ(chacácnguyênđơn)đãđược
Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ngày 19/10/1992,
từ khi nhận chuyển nhượng đến nay bị đơn
X sử dụng đất để trồng lúa, tuy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được
thực hiện, nhưng bên nhận chuyển nhượng
(bị đơn X) không thực hiện thủ tục chuyển
quyền và chưa được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và cũng chưa hoàn tất thủ
tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền. Do
đó, đối với diện tích đất tranh chấp nêu trên,
việc xác lập chuyển nhượng giữa vợ chồng
bị đơn và ông Q (cha các nguyên đơn) ngày
20/7/1993 là vô hiệu do vi phạm điều cấm
của pháp luật được quy định tại Điều 5 Luật
Đất đai năm 1987, điểm a khoản 1 Điều 15
Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm …3.
Trong vụ việc này, Tòa án nhận định lý do
vô hiệu là do pháp luật tại thời điểm xác lập
hợp đồng nghiêm cấm việc chuyển nhượng.
Với lập luận như vậy, các tác giả nhận thấy
không thuyết phục và không phù hợp với
tinh thần của khoản 2 Điều 100 Luật Đất
đai năm 2013. Theo các tác giả, Tòa án cần
viện dẫn khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm
2013 để áp dụng tương tự và giải quyết tranh
chấp trên theo hướng công nhận hợp đồng để
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên
nhận chuyển nhượng, là bà X.
Vụ việc thứ hai: Nguồn gốc đất tranh
chấp theo Công văn số 113/UBND - TNMT
ngày 03/7/2017 của Ủy ban nhân dân
huyện G xác định diện tích đất 2.591m2
thuộc thửa 281, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại
ấp H, xã T, huyện G đã được xác lập trong
sổ địa chính trước ngày 15/10/1993, tức là
có giấy tờ tại điểm b khoản 1 Điều 100
Luật Đất đai năm 2013. Diện tích đất do
cha và mẹ ông khai phá và được sự thừa
nhận của bên nguyên đơn và bị đơn. Cha
ông đã chết năm 1978, chỉ còn mẹ ông Đ là
bà K. Ngày 08/4/1993, ông Đ sang nhượng
cho ông C 2.381m2 đất này với giá 04 chỉ
vàng 24k. Việc sang nhượng viết tay và
được Ban Lãnh đạo ấp Huỳnh Công Lực
ký xác nhận để trả nợ ngân hàng, lúc làm
giấy bán có mặt bà K và ông H chứng kiến
nhưng không có ký tên vào giấy bán đất.
Như vậy, trong vụ việc vừa nêu, bà X là
bị đơn, người nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất từ người đã đăng ký quyền theo
Luật Đất đai năm 1987 (ông Q đứng tên trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
cấp ngày 19/10/1992). Bà X là người có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
cấp trước ngày 15/10/1993 nhưng mang tên
ông Q; kèm theo giấy đó, có văn bản chuyển
nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của ông
Q, song bà X lại không được nêu tại khoản 2
3
Bản án số 03/2018/DS-PT ngày 03/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Số 13(437) - T7/2021
37
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Ông Đ lấy tiền rồi giao đất và giấy bán đất
cho ông C. Ngay sau khi mua xong đất,
ông C chết, vợ ông C (bà T) khó khăn nên
nhượng lại cho ông L và bà Ph và T giao
luôn giấy tay sang bán với ông Đ cho vợ
chồng ông L và Ph giữ đến nay. Năm 2017,
ông Đ và ông H nại ra lý do mẹ ông là
bà K không có ký vào giấy mua bán ngày
08/4/1993 để khởi kiện yêu cầu Tòa án
tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa
ông Đ và ông C vô hiệu và yêu cầu ông L,
bà Ph phải trả lại diện tích đất trên; ông Đ
và ông C chấp nhận trả lại vàng. Sau khi
xét xử sơ thẩm, ngày 25/8/2017 ông H và
ông Đ có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm hủy hợp đồng mua bán bất
hợp pháp của gia đình ông với ông C; hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa bà T với vợ chồng ông L, bà Ph.
đã cất nhà ở kiên cố ổn định, bên mua cũng
không tranh chấp; do đó, cần công nhận việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các
bên, để giữ sự ổn định và không chấp nhận
nội dung kháng cáo của ông Đ, H4.
Trong 02 vụ việc nêu trên, Tòa án không
áp dụng tương tự khoản 2 Điều 100 Luật
Đất đai năm 2013 nhằm công nhận hợp
đồng khi người nhận chuyển nhượng đã
thỏa mãn có điều kiện giống như các trường
hợp nêu tại khoản 2. Ở đây, sự khác biệt
chỉ nằm ở chỗ, trong vụ việc thứ nhất, bị
đơn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
mang tên người khác; còn vụ việc thứ hai
thì bị đơn nhận chuyển nhượng của người
đã được ghi nhận trong sổ địa chính; tuy
nhiên, hướng xử lý lại trái ngược nhau.
Các tác giả cho rằng, việc Tòa án giải
quyết theo hai hướng xử lý trái ngược nêu
trên là do khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai
năm 2013 chỉ nêu những trường hợp “có
giꢃy tꢅ ꢒ khoꢆn 1 Điꢇu này nhưng mang tên
ngưꢅi khꢁc” mà không đề cập đến trường
hợp “có giꢃy chꢑng nhꢎn quyꢇn sử dꢂng
đꢃt mang tên ngưꢅi khꢁc”. Mặc dù, trong
trường hợp này, Tòa án vẫn cần áp dụng
tương tự khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai
năm 2013 để công nhận hợp đồng đối với
tranh chấp ở vụ việc thứ nhất mới thực sự
phù hợp với bản chất pháp lý của việc công
nhận quyền sử dụng đất mà Luật Đất đai
năm 2013 đã thể hiện. Tuy nhiên, đề bảo
đảm điều luật được áp dụng một cách thống
nhất, cần sửa đổi khoản 2 Điều 100 Luật Đất
đai năm 2013 theo hướng bổ sung trường
hợp người có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên người khác, kèm theo
giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất
có chữ ký các bên liên quan mà không nên
chỉ giữ nguyên các loại giấy tờ tại khoản 1
như hiện nay.
Tòa án cấp phúc thẩm lập luận: “Căn cứ
giấy viết tay sang nhượng đất vườn lập ngày
08/4/1993 thể hiện nội dung Đ sang nhượng
cho C”; “Sau khi chuyển nhượng đất, bà K,
ông Đ đã dỡ nhà giao đất cho vợ chồng ông
C và khi ông C mất, bà T có hoàn cảnh khó
khăn mới tiếp tục chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho L (em ruột C) và sau này vợ
chồng L, Ph về cất nhà ở trên phần đất này,
lúc này không có ai tranh chấp. Xét giấy tay
mua bán đất giữa Đ với C lập ngày 08/4/1993
là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất trước ngày 15/10/1993 đã được các bên
thừa nhận giao đất và thanh toán tiền xong,
đến năm 2016 phía Đ mới phát sinh tranh
chấp, cho nên” (…) “trong trường hợp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được lập thành văn bản, có chữ ký của các
bên, bên bán đã nhận đủ tiền, bên mua tuy
chưa ký tên nhưng là người giữ hợp đồng,
quản lý sử dụng đất ổn định thời gian dài
mà bên bán không tranh chấp, nay tiếp tục
chuyển nhượng cho người khác và người này
4
Xem thêm: Bản án dân sự phúc thẩm số 211/2017/DS-PT ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh
Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
38
Số 13(437) - T7/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
2.2. Cách thể hiện nội dung của khoản 2
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 chưa phù
hợp, dẫn đến đlều khoản này chưa được
viện dẫn, áp dụng trong thực tế xét xử
đạt này dễ gây ra sự nhầm lẫn giữa một người
đang sử dụng đất được nêu tại khoản 2 Điều
100 Luật Đất đai năm 2013 và người nhận
chuyển quyền đích thực, đúng pháp luật được
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 99 Luật Đất
đai năm 2013 và do đó dẫn tới đặt ra các yêu
cầu cao hơn luật định.
Công nhận quyền sử dụng đất là một cơ chế
xác lập quyền theo luật định. Tuy nhiên, khi
điều chỉnh về quan hệ pháp luật này, khoản 2
nói riêng và toàn bộ Điều 100 (cũng như các
Điều 101, 102) Luật Đất đai năm 2013 đã sử
dụng thuật ngữ “cꢃp giꢃy chꢑng nhꢎn quyꢇn
sử dꢂng đꢃt cho ngưꢅi đang sử dꢂng đꢃt”.
Việc sử dụng thuật ngữ như vậy, tuy có sự
nhấn mạnh đến yếu tố “đang sử dụng” thực tế
một diện tích đất, nhưng rất dễ bị hiểu rằng,
đây là một quan hệ pháp luật hành chính đơn
thuần giữa các cơ quan có thẩm quyền cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với người
đề nghị cấp giấy. Vì vậy, Tòa án không viện
dẫn khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013
để áp dụng tương tự, khi giải quyết yêu cầu
tuyên giao dịch vô hiệu, mặc dù người nhận
chuyển quyền hoàn toàn hội đủ các điều kiện
được công nhận quyền sử dụng đất như người
được quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất
đai năm 2013. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều
100 Luật Đất đai năm 2013 dùng thuật ngữ
“có chꢊ kꢋ cꢌa các bên có liên quan”, khiến
người ta chỉ liên tưởng đến các hợp đồng mà
không liên hệ tới các giao dịch không là hợp
đồng nói chung và di chúc nói riêng, vì chúng
chỉ có chữ ký của “một bên”. Ngoài ra, cụm
từ “chưa thꢏc hiꢈn thꢌ tꢂc chuyꢉn quyꢇn sử
dꢂng đꢃt theo quy định cꢌa phꢁp luꢎt” cũng
chưa hợp lý. Bởi lẽ, người được công nhận
quyền sử dụng đất là người được xác lập
quyền đối với diện tích đất do họ chiếm hữu,
sử dụng công khai, liên tục, ổn định mà có,
chứ không phải do hiệu lực của giao dịch
mang tới cho họ quyền đó. Mặt khác, khi
chuyển quyền, quyền sử dụng đất chưa được
đăng ký và cấp giấy chứng nhận mà chỉ có
các giấy tờ quy định ở khoản 1, thì sao đặt ra
vấn đề “thực hiện thủ tục chuyển quyền sử
dụng đất” đối với trường hợp này? Cách diễn
Để khắc phục bất cập nêu trên, cần sửa
đổi khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm
2013 theo hướng sau:
- Thay cụm từ “cꢃp giꢃy chꢑng nhꢎn
quyꢇn sử dꢂng đꢃt, quyꢇn sꢒ hꢊu nhà ꢒ và
tài sꢆn khꢁc gꢓn liꢇn vꢍi đꢃt” bằng cụm từ
“công nhꢎn quyꢇn sử dꢂng đꢃt”. Điều này
nhấn mạnh một chính sách công nhận quyền
sử dụng đất, một cơ chế xác lập quyền sử
dụng đất và có thể được viện dẫn tại Tòa
án trong giải quyết tranh chấp có liên quan.
- Thay cụm từ “có chꢊ kꢋ cꢌa cꢁc bên
liên quan” thành cụm từ “có chꢊ kꢋ cꢌa
ngưꢅi chuyꢉn quyꢇn” nhằm mô tả sát với
quan hệ pháp luật này hơn, đồng thời bao
quát được cả trường hợp chuyển quyền
không là hợp đồng;
- Bỏ cụm từ “chưa thực hiện thủ tục
chuyển quyền theo quy định của pháp luật”.
2.3. Khó hiểu về điều kiện “không có
tranh chấp”
Khi quy định về điều kiện được công nhận
quyền sử dụng đất, khoản 2 Điều 100 Luật
Đất đai năm 2013 quy định “đꢃt đó không có
tranh chꢃp” thì mới được công nhận quyền
sử dụng đất. Điều khoản này được diễn đạt
khá ngắn, dẫn đến rất khó hiểu. Ở đây, phải
hiểu là đến ngày 01/7/2014, khi điều khoản
này đã có hiệu lực, nhưng không có tranh
chấp được coi là không có tranh chấp; hay
phải hiểu là tại thời điểm người sử dụng đất đề
nghị công nhận quyền sử dụng đất mà không
có tranh chấp mới được coi là không có tranh
chấp. Thực tiễn đang theo cách hiểu thứ hai.
Tuy nhiên, điều kiện không có tranh chấp nên
hiểu là đến trước ngày 01/7/2014 mà không
Số 13(437) - T7/2021
39
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
có tranh chấp thì đã hội đủ điều kiện “không
có tranh chấp”. Bởi vì, người này đã chiếm
hữu, sử dụng thực tế, ổn định trên một diện
tích đất trong một thời gian dài theo luật định,
thì đến ngày 01/7/2014 đã được coi là đủ thời
hiệu để được công nhận quyền sử dụng đất.
Khi đã đủ thời hiệu công nhận quyền, thì các
tranh chấp phát sinh từ ngày 01/7/2014 không
được xem là điều kiện để công nhận quyền sử
dụng đất. Điều này cho phép chúng ta khẳng
định rằng, nếu từ ngày 01/7/2014 có phát sinh
tranh chấp, thì người được đề cập tại khoản 2
Điều 100 Luật Đất đai hiện hành vẫn được
công nhận quyền sử dụng đất.
vẫn mang tinh thần coi hộ gia đình sử dụng
đất là một chủ thể. Việc thừa nhận tư cách
chủ thể cho hộ gia đình sử dụng đất không
chỉ là vấn đề riêng của mối quan hệ giữa
Nhà nước và người sử dụng đất trong việc
công nhận quyền sử dụng đất, mà còn liên
quan tới mối quan hệ giữa hộ gia đình đó
với tất cả các chủ thể khác trong đời sống
dân sự. Bởi vì, sau khi công nhận, quyền
sử đất có thể được hộ gia đình chuyển
giao cho chủ thể khác thông qua hợp đồng
và vì vậy, hộ gia đình sẽ trở thành chủ thể
của pháp luật dân sự. Do đó, một vấn đề
đặt ra là tại sao Bộ luật Dân sự năm 2015
không coi hộ gia đình là chủ thể trong
lĩnh vực luật tư nói chung và trong quan
hệ hợp đồng nói riêng, khoản 2 Điều 100
Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đất đai
năm 2013 nói chung lại đi theo một cách
tiếp cận khác? Sự thiếu thống nhất như
vậy khiến cho việc giải quyết các tranh
chấp về giao dịch quyền sử dụng đất có
một bên là hộ gia đình trở nên phức tạp
và thậm chí trong một số trường hợp, ảnh
hưởng đến tính ngay tình của người giao
Theo các tác giả, nội dung này cần được
viết lại như sau: “ (…) nhưng đến trưꢍc ngày
Luꢎt này có hiꢈu lꢏc mà không có tranh chꢃp
thì đưꢐc công nhꢎn quyꢇn sử dꢂng đꢃt mà
không phꢆi nꢀp tiꢇn sử dꢂng đꢃt”.
2.4. Chưa khẳng định rõ về thời gian
bắt đầu sử dụng đất
Với quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật
Đất đai năm 2013, cũng như các văn bản
hướng dẫn thi hành, chúng ta sẽ không có
cơ sở xác định người đang được nói đến ở
điều khoản này phải bắt đầu sử dụng đất tại
thời điểm nào trước khi Luật Đất đai có hiệu
lực, và do đó tạo sự lúng túng cho thực tiễn
áp dụng tại các cơ quan hành chính trong
cấp giấy chứng nhận, cũng như tại cơ quan
tư pháp khi giải quyết tranh chấp về hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có
vi phạm về hình thức). Theo các tác giả,
cần xác định người nhận chuyển quyền sử
dụng đất nêu tại khoản 2 Điều này là người
sử dụng thực tế diện tích đất do đã nhận
chuyển quyền trước ngày 01/7/2014.
5
dịch với hộ gia đình . Dường như Luật
Đất đai năm 2013 vẫn duy trì chủ thể này
nhằm ngụ ý nói rằng, những thành viên
của hộ đã trưởng thành khi sử dụng, định
đoạt quyền sử dụng đất phải phục vụ lợi
ích chung của cả hộ gia đình, trong đó có
các thành viên chưa có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ. Tuy nhiên, theo các tác
giả, đó là nhiệm vụ của Luật Hôn nhân và
gia đình và các quy định về giám hộ trong
pháp luật dân sự.
Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống
pháp luật, cần sửa đổi Luật Đất đai năm
2013 theo hướng không xác định hộ gia
đình là chủ thể của quyền sử dụng đất như
2.5. Về chủ thể “hộ gia đình”
Khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai năm
2013, cũng như Luật Đất đai năm 2013
hiện nay
5 Thông tin đăng ký và thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên “chủ hộ” mà không ghi
tên các thành viên của hộ gia đình, nhưng người giao dịch với hộ gia đình lại không được bảo vệ khi đã xác
lập giao dịch với chủ hộ.
40
Số 13(437) - T7/2021
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện quy định tại khoản 2 điều 100 luật đất đai năm 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_quy_dinh_tai_khoan_2_dieu_100_luat_dat_dai_nam_20.pdf

