Pháp luật về khai thác thương mại đối với sáng chế của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ  
CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM  
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ  
TRADE MINING LAW FOR INVESTMENT OF VIETNAM ENTERPRISES IN  
THE INTEGRATION CONTEXT INTERNATIONAL ECONOMY  
NCS. Lê Đức Hiền1  
Tóm tắt – Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc nâng cao  
năng lực cạnh tranh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp  
nước ta, đặc biệt là cạnh tranh trong việc đổi mới công nghệ hiện đại thông qua  
các tài sản trí tuệ, trong đó có sáng chế. Chính vì vậy, việc cải tiến, đổi mới cũng  
như khai thác thương mại đối với sáng chế cần phải được hoạt động hiệu quả  
hơn. Thông qua bài viết này, trên cơ sở phân tích quy định của pháp luật Việt  
Nam về khai thác thương mại đối với sáng chế, thực tiễn áp dụng và đề xuất một  
số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác thương mại đối với  
sáng chế của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.  
Từ khóa: doanh nghiệp Việt Nam; khai thác thương mại đối với sáng chế,  
sáng chế.  
1.  
KHÁI NIỆM KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ  
Sáng chế là giải pháp kĩ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải  
quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên [1]. Sáng chế  
là sản phẩm hay quy trình do con người tạo ra chứ không phải là những gì đã tồn  
tại trong tự nhiên được con người phát hiện ra.  
Sử dụng sáng chế là việc thực hiện các hành vi sau đây: sản xuất sản phẩm  
được bảo hộ; áp dụng quy trình được bảo hộ; khai thác công dụng của sản phẩm  
được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ; lưu thông,  
quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm và nhập khẩu sản phẩm [1].  
Luật Thương mại 2005 quy định: ‘Hoạt động thương mại là hoạt động sinh  
lợi, bao gồm mua bán, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt  
động nhằm mục đích sinh lợi khác’ [2].  
1 Trường Đại học Quy Nhơn; Email: duchiendhqn@gmail.com  
365  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Để khai thác thương mại đối với sáng chế, trước tiên, sáng chế phải được  
bảo hộ. Nếu sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế  
thì nó phải đáp ứng các điều kiện: có tính mới, có trình độ sáng tạo, có khả năng  
áp dụng công nghiệp. Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển  
công nghệ là hoạt động khai thác, hoàn thiện, ứng dụng, chuyển giao, hoạt động  
khác có liên quan đến kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ nhằm  
mục đích thu lợi nhuận [3].  
Như vậy, pháp luật sở hữu trí tuệ chưa có quy định cụ thể khái niệm khai  
thác thương mại đối với sáng chế. Tuy nhiên, căn cứ các quy định của pháp luật  
liên quan đã nêu ở trên, có thể hiểukhai thác thương mại đối với sáng chế là hoạt  
động khai thác các khía cạnh thương mại của sáng chế sau khi được bảo hộ thông  
qua các hình thức như chủ sở hữu tự mình khai thác sáng chế, chuyển nhượng  
quyền sở hữu sáng chế, chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, chủ sở hữu thế  
chấp, góp vốn để kinh doanh, thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công  
nghiệp đối với sáng chế nhằm mục đích thu lợi nhuận.  
2.  
THỰC TRẠNG KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ  
CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH  
TẾ QUỐC TẾ  
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị  
trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do  
hóa và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương. Hội nhập  
thực chất là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa [4].  
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam  
không ngừng nỗ lực đổi mới, nâng cao sức cạnh tranh thông qua việc cải tiến chất  
lượng sản phẩm. Tức là, cần phải đầu tư nhiều công nghệ kĩ thuật hiện đại qua  
việc nghiên cứu và sáng tạo để có nhiều sáng chế nhằm tạo ra những sản phẩm  
chất lượng, đủ sức cạnh tranh trên thị trường Việt Nam cũng như quốc tế và đáp  
ứng yêu cầu hội nhập. Tuy nhiên, nếu chỉ có sáng chế mà không thực hiện việc  
đăng kí bảo hộ thì tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ từ việc “lấy cắp”  
công nghệ là rất lớn. Vì vậy, để khuyến khích cũng như thúc đẩy hoạt động sáng  
tạo và giúp các doanh nghiệp trong việc đăng kí bảo hộ sáng chế thì cơ chế bảo hộ  
sáng chế cần được hoạt động hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần  
đẩy mạnh việc khai thác thương mại đối với sáng chế nhằm mang lại lợi nhuận.  
Ngày 22 tháng 8 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 1068/QĐ-  
TTg phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030, khẳng định chính sách sở  
hữu trí tuệ là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược, chính sách phát  
triển kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia và các ngành, lĩnh vực. Chiến lược đã  
đánh dấu một bước phát triển mới trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, xác định rõ hoạt  
động sở hữu trí tuệ có sự tham gia tích cực của tất cả các chủ thể trong xã hội,  
trong đó, viện nghiên cứu, trường đại học, các cá nhân hoạt động sáng tạo, các  
366  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra và khai thác tài sản trí tuệ góp  
phần vào phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững.  
Theo số liệu thống kê của Cục Sở hữu Trí tuệ, năm 2019, Việt Nam có  
1.128 đơn sáng chế được đăng kí, tăng 42% so với cùng kì năm 2018 [5]. Một số  
doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thấy được vài trò của việc bảo hộ và khai thác  
thương mại đối với sáng chế. Nhiều sáng chế được khai thác hiệu quả và đạt được  
một số kết quả. Chẳng hạn, giải pháp công nghệ “thiết bị xử lí khí thải XLKT-  
HB0005GPCN” của Hoàng Hữu Bình, “thiết bị thu hồi và tái chế chất thải nguy  
hại trong công nghiệp” của Trần Bá Phước Anh, và “máy xử lí rác đa năng và  
công nghệ xử lí rác thải HKM” của tác giả sáng chế Ngô Thái Nguyên. Đây là các  
sáng chế điển hình liên quan đến công nghệ xử lí khí thải, chất thải công nghiệp  
độc hại và rác thải đã được áp dụng trên thực tiễn [6].  
Sáng chế của Đỗ Chí Lệ (giải thưởng Tự học thành tài – Nhân tài đất Việt  
năm 2019) nhằm biến rác thải sinh hoạt thành nguồn tài nguyên có lợi. Đỗ Chí Lệ  
đã thành công với ý tưởng dùng nước và tác động lực cơ học để phân loại, chế tạo  
ra hệ thống góp phần xử lí triệt để, biến rác thải sinh hoạt thành hàng hóa, đồng  
thời, tận dụng tối đa nguồn tài nguyên rác thải để chế biến thành phân vi sinh, sản  
xuất hạt nhựa, làm gạch Block thân thiện với môi trường. Nhà máy xử lí rác thải  
sinh hoạt công nghệ TTD-01 tại thị trấn Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái  
Bình do tác giả nỗ lực xây dựng đã đi vào hoạt động từ tháng 7/2016, góp phần xử  
lí toàn bộ rác thải tại thị trấn Quỳnh Côi và 25 xã, thị trấn khác trong tỉnh. Đến  
nay, sau hơn ba năm vận hành, nhà máy đã đạt được nhiều kết quả hơn mong đợi,  
cả bốn quy trình: xử lí, phân loại, sản xuất thành phẩm và xử lí nước thải đều vận  
hành tốt, cho kết quả cao. Ngoài ra, vật tư thay thế đơn giản, thuận tiện, không  
phụ thuộc vào linh kiện từ nước ngoài [7]. Bên cạnh những kết quả đạt được, trên  
thực tế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau mà hoạt động khai thác thương  
mại đối với sáng chế của các doanh nghiệp ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế.  
Thứ nhất, theo số liệu thống kê từ năm 2015 đến năm 2019, số lượng hợp  
đồng chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền sở hữu đối với sáng chế  
còn rất khiêm tốn, tốc độ tăng chậm qua các năm. Cụ thể qua bảng số liệu  
dưới đây.  
367  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Bảng 1: Số lượng đơn đăng kí và số lượng hợp đồng chuyển giao quyền sử  
dụng sáng chế, giải pháp hữu ích từ 2015 – 2019  
Số lượng đơn đăng kí  
Số lượng hợp đồng  
hợp đồng chuyển giao quyền  
sử dụng sáng chế, giải pháp  
hữu ích  
Năm  
chuyển giao quyền sử dụng  
sáng chế, giải pháp hữu ích  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
5(5)  
1(1)  
8(28)  
2(4)  
6(2)  
4(4)  
1(1)  
4(4)  
5(18)  
5(9)  
* Ghi chú: Số trong ngoặc đơn là số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích được  
chuyển giao quyền sử dụng  
(Nguồn: Báo cáo hoạt động sở hữu trí tuệ thường niên năm 2019 của Cục  
Sở hữu Trí tuệ [5])  
Bảng 2: Số lượng đơn đăng kí và số lượng hợp đồng chuyển nhượng quyền  
sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích 2015 – 2019  
Số lượng đơn đăng kí hợp  
Số lượng hợp đồng chuyển  
đồng chuyển nhượng quyền sở  
hữu sáng chế, giải pháp  
hữu ích  
Năm  
nhượng quyền sở hữu sáng  
chế, giải pháp hữu ích  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
55(123)  
53(91)  
38(53)  
38(61)  
52(87)  
67(102)  
95(137)  
78(95)  
89(114)  
85(159)  
* Ghi chú: Số trong ngoặc đơn là số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích được  
chuyển giao quyền sử dụng  
368  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
(Nguồn: Báo cáo hoạt động sở hữu trí tuệ thường niên năm 2015 của Cục  
Sở hữu Trí tuệ [8])  
Thứ hai, một số doanh nghiệp chưa nhận thức được vai trò quan trọng của  
việc đăng kí xác lập cũng như khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ nói  
chung và quyền đối với sáng chế nói riêng. Doanh nghiệp chưa khai thác sáng chế  
hiệu quả hoặc không khai thác sáng chế. Cụ thể như:  
Cách đây vài năm, một nhóm nhà khoa học của Khoa Cơ khí – Trường Đại  
học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã chế tạo thành công máy sản xuất bánh  
tráng. Đề tài này được cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước. Chiếc máy này có giá  
470 triệu đồng, thấp hơn nhiều so với giá máy nhập ngoại (110.000 USD). Tuy  
nhiên, khi mua về sử dụng, một đơn vị chế biến thực phẩm ở Thành phố Hồ Chí  
Minh mới té ngửa vì máy chỉ chạy thử nghiệm một thời gian ngắn đã bất ổn, bánh  
đạt thì ít mà hư thì nhiều, máy đành bỏ phế. Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ  
Thành phố Hồ Chí Minh đã nghiệm thu đề tài chế tạo máy thu hoạch mía không  
róc lá do một công ti thực hiện trong thời gian khoảng hai năm với kinh phí của  
Sở cấp, khoảng 1 tỉ đồng. Đề tài được hội đồng nghiệm thu đánh giá thành công,  
giá bán 200 triệu đồng, chưa kể máy kéo trị giá 250 triệu đồng. Tuy nhiên, chiếc  
máy này chỉ hoạt động được ở địa hình bằng phẳng liên tục, còn với khoảng  
100.000 ha mía trồng theo dạng liếp phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long thì  
không hoạt động được. Không chỉ vậy, theo một nhà khoa học làm việc lâu năm  
trong ngành máy nông nghiệp, chiếc máy này làm việc còn chập chờn, hay hỏng  
vặt. Chính vì vậy, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh lại tiếp tục  
cấp 120 triệu đồng để nhóm tác giả trên nghiên cứu chế tạo thêm một cái máy róc  
lá mía chuyên biệt. Trong khi đó, cách đây hai năm, Trung Quốc đã sử dụng đại  
trà (và sẵn sàng bán cho Việt Nam) máy thu hoạch mía hoàn chỉnh, vừa chặt cây,  
ngọn vừa róc sạch luôn lá nhưng giá chỉ khoảng 50 triệu đồng và rất cơ động ở  
nhiều loại địa hình. Trên mặt bằng chung, dù chưa có một thống kê chính thức  
nào nhưng theo nhận định của một số nhà khoa học, riêng lĩnh vực sáng chế kĩ  
thuật, số lượng sáng chế có thể đưa vào ứng dụng thực tiễn chỉ từ 10%-20% tổng  
số sáng chế, tỉ lệ này càng thấp ứng với đề tài cấp càng cao, đó là chưa kể các  
nghiên cứu khoa học xã hội, thường rất chung chung và rất khó áp dụng  
thực tế [9].  
Về nguyên nhân:  
Thứ nhất, một số quy định của pháp luật về khai thác thương mại đối với  
sáng chế còn chung chung, chưa cụ thể. Hoạt động khoa học và công nghệ trong  
sản xuất có vai trò quan trọng trong quá trình khai thác thương mại đối với sáng  
chế. Tuy nhiên, hoạt động này chưa được đề cập cụ thể trong luật. Luật Khoa học  
và Công nghệ 2013 quy định: ‘Tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế  
giới để tạo ra, ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có sức  
cạnh tranh cao; phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiên  
369  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc  
phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng  
thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống’ [10]. Các quy định  
pháp lí về sáng chế trong các văn bản pháp luật Việt Nam chủ yếu đề cập đến bảo  
hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. ‘Bảo đảm quyền và lợi ích hợp  
pháp, điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động chuyển giao công nghệ;  
phát triển thị trường khoa học và công nghệ, hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia  
với doanh nghiệp là trung tâm; nâng cao trình độ, tiềm lực công nghệ quốc gia  
nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã  
hội’ [3]. Pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ đã có quy định  
khuyến khích phát triển mạnh thị trường công nghệ, thúc đẩy hoạt động ươm tạo  
công nghệ, tạo điều kiện cho các chủ sở hữu sáng chế thế chấp, góp vốn kinh  
doanh bằng tài sản trí tuệ, thúc đẩy hoạt động chuyển giao quyền sở hữu công  
nghiệp đối với sáng chế. Tuy nhiên, việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ nói  
chung và sáng chế nói riêng đòi hỏi các bên phải có sự thỏa thuận, chặt chẽ rõ  
ràng. Trong khi đó, sáng chế thuộc loại tài sản khó định giá chính xác. Vì  
vậy,quyền lợi của các bên không được đảm bảo và khó khăn trong trường hợp có  
tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Việt Nam về định giá tài sản trí  
tuệ (TSTT) vẫn còn khá sơ sài. Các văn bản pháp luật hầu như không điều chỉnh  
trực tiếp vấn đề định giá TSTT mà chỉ đề cập tới các quy định mang tính chất  
nguyên tắc về cách thức tính toán dựa trên sổ sách của tài sản vô hình, trong đó  
bao gồm các TSTT [11].  
Thứ hai, sự liên kết còn lỏng lẻo giữa nhà quản lí, nhà khoa học và các  
doanh nghiệp nhằm ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh. Các  
doanh nghiệp chưa quan tâm đến việc quản lí, phát triển tài sản trí tuệ nói chung  
và sáng chế nói riêng. Ngoài ra, chưa đầu tư khai thác những lợi ích từ sáng chế  
mang lại, chưa chủ động trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại các doanh  
nghiệp.  
3.  
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU  
QUẢ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ  
CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH  
TẾ QUỐC TẾ  
Qua việc phân tích thực trạng ở mục 2, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị  
cụ thể như sau:  
Thứ nhất, Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 cần quy định rút ngắn thời gian thẩm  
định nội dung đơn đăng kí bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế.  
‘Đối với sáng chế là mười hai tháng kể từ ngày công bố đơn nếu yêu cầu thẩm  
định nội dung được nộp trước ngày công bố đơn hoặc kể từ ngày nhận được yêu  
cầu thẩm định nội dung nếu yêu cầu đó được nộp sau ngày công bố đơn’ [1]. Thời  
gian thẩm định nội dung đơn đăng kí sáng chế như vậy là khá dài. Vì vậy, chúng  
370  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
tôi kiến nghị cần rút ngắn thời gian thẩm định tùy thuộc vào từng loại sáng chế.  
Qua đó, khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện việc đăng kí bảo hộ sáng chế và  
khai thác thương mại đối với sáng chế nhiều hơn, mang lại hiệu quả cao hơn.  
Thứ hai, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của một số nước phát triển như  
Hoa Kì, Nhật Bản trong việc đưa ra nhiều chính sách thúc đẩy hợp tác giữa doanh  
nghiệp và trường đại học. Cụ thể, các quốc gia châu Âu thường tập trung vào việc  
hỗ trợ các doanh nghiệp lớn, tập đoàn thông qua các đề tài, dự án nghiên cứu  
mang tính cạnh tranh. Hiện nay, họ hướng ngày càng nhiều hơn vào việc hỗ trợ  
các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hoa Kì, với năng lực  
nghiên cứu cơ bản vượt trội và nguồn lực tài sản trí tuệ dồi dào, đã và đang hỗ trợ  
các doanh nghiệp trong việc đưa các công nghệ áp dụng vào sản xuất [12]. Tại  
Nhật Bản, các công ti và trường sẽ cùng tham gia dự án nghiên cứu. Công ti sẽ  
giao dự án nghiên cứu cụ thể cho trường. Trường sẽ chuyển giao kết quả nghiên  
cứu của họ cho công ti hoặc kí kết hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng với công  
ti đó [13]. Chính vì vậy, chúng tôi kiến nghị cần có sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà  
nước, nhà đầu tư – trường đại học – doanh nghiệp nhằm thúc đẩy các hoạt động  
chuyển giao khoa học công nghệ có hiệu quả hơn nhằm đưa có công nghệ hiện đại  
áp dụng trong sản xuất kinh doanh.  
4.  
KẾT LUẬN  
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, khi Việt Nam tham gia các hiệp  
định thương mại tự do thế hệ mới, việc không ngừng đổi mới, phát triển khoa học  
công nghệ luôn được quan tâm hàng đầu. Một trong những tiêu chí đánh giá năng  
lực cạnh tranh của một quốc gia đó chính là sự phát triển số lượng các bằng độc  
quyền sáng chế. Vì vậy, các hoạt động khuyến khích tạo ra sáng chế cũng như  
khai thác thương mại đối với sáng chế luôn được Việt Nam quan tâm. Bên cạnh  
những kết quả đã đạt được, hoạt động khoa học công nghệ ở Việt Nam vẫn còn  
tồn tại một số điểm hạn chế nhất định. Bài viết đã phân tích quy định của pháp  
luật Việt Nam về khai thác thương mại đối với sáng chế, thực tiễn áp dụng, chúng  
tôi đã đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác  
thương mại đối với sáng chế của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế  
quốc tế của Việt Nam.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ  
sung 2009).  
[2] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Luật Thương mại. 2005  
[3]. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Luật Chuyển giao công nghệ. 2017.  
371  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
[4] Bộ Ngoại giao – Vụ Hợp tác kinh tế đa phương. Việt Nam hội nhập kinh tế  
trong xu thế toàn cầu hóa – Vấn đề và giải pháp. Hà Nội: NXB Chính trị  
Quốc gia; 2003.  
[5] Cục Sở hữu Trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ. Báo cáo thường niên hoạt  
[6] Tổng hợp các giải pháp công nghệ, sáng chế giúp bảo vệ và cải thiện môi  
truong [Ngày truy cập 22/11/2020].  
[7] Sáng chế xử lý rác thải sinh hoạt thành hàng hóa. Truy cập từ  
http://tapchimoitruong.vn [Ngày truy cập 22/11/2020]. [7]  
[8] Cục Sở hữu Trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ. Báo cáo thường niên hoạt  
[9] Sáng chế chuyên nghiệp: “xài” ít, “trùm mền” nhiều. Truy cập từ  
nhieu-134073.htm. [Ngày truy cập tháng 10 năm 2020].  
[10] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Luật Khoa học và Công nghệ. 2013.  
[11] Lê Đức Hiền. Thương mại hóa quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế  
trong các trường đại học ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Khoa học xã  
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. 2017.  
[12] Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng. Truy cập từ  
enuID=8838&ContentID=49482 [Truy cập ngày 22/11/2020].  
[13] Đẩy mạnh quản lý và thương mại hoá tài sản trí tuệ. Truy cập từ  
n5503. [Truy cập ngày 22/11/2020].  
372  
pdf 8 trang Thùy Anh 16880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về khai thác thương mại đối với sáng chế của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_ve_khai_thac_thuong_mai_doi_voi_sang_che_cua_doanh.pdf