Thu nhập chịu thuế theo pháp luật thuế thu nhập cá nhân thực trạng và giải pháp hoàn thiện
THU NHẬP CHỊU THUẾ THEO PHÁP LUẬT THUẾ
THU NHẬP CÁ NHÂN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Duy Thanh
Tóm tắt: Pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân trong những năm
qua đã góp phần tích cực vào việc tăng nguồn thu của ngân sách nhà nước. Tuy nhiên
bên cạnh những ưu điểm thì những qui định của pháp luật về thu nhập chịu thu nhập
cá nhân vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý và khó thực thi trong thực tiễn. Chính vì vậy
việc nghiên cứu những qui định của pháp luật hiện hành về thu nhập chịu thuế theo
pháp luật thu nhập cá nhân tại Việt Nam là hết sức cần thiết. Qua bài viết này tác giải
sẽ làm rõ những ưu điểm và hạn chế, vướng mắc trong các quy định về thu nhập chịu
thuế thu nhập cá nhân đồng thời đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu
nhập chịu thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Pháp luật, thuế, thu nhập cá nhân, thu nhập chịu thuế.
1. Đặt vấn đề
Thuế là nguồn thu cơ bản của ngân sách nhà nước là công cụ điều hành kinh tế
ở tầm vĩ mô, có ý nghĩa, vai trò quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện các chính
sách kinh tế - xã hội. So với thuế gián thu đóng vai trò quan trọng đối với việc thực
hiện quản lý kinh tế tầm vĩ mô của nhà nước, thuế trực thu, bao gồm thuế thu nhập
cá nhân ( TTNCN), đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo công bằng xã hội cũng
như thực hiện các mục tiêu xã hội của nhà nước. Vì vậy, việc xây dựng và thực thi một
hệ thống pháp luật về thuế đồng bộ, hiệu quả có vai trò quan trọng trong việc phát triển
kinh tế xã hội.
Thu nhập chịu thuế là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất trong việc xây dựng pháp
luật TTNCN. Các văn bản pháp luật được ban hành trong thời gian gần đây về cơ bản
đã giải quyết các vấn đề liên quan đến thu nhập chịu thuế để vừa đảm bảo tính công
bằng trong việc thu thuế vừa huy động hợp lý thu nhập chịu thuế và đóng góp cho
ngân sách nhà nước. Việc hoàn thiện pháp luật để xác định thu nhập chịu thuế còn là
71
yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế khi các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
phát sinh các khoản thu nhập chịu thuế ngày càng nhiều.
2. Quy định về thu nhập chịu thuế theo pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Trong thực tế, thu nhập của cá nhân được hình thành từ nhiều nguồn (tiền lương,
tiền công, tiền thù lao…) và dưới nhiều hình thức khác nhau (tiền mặt, hiện vật...).
Cụ thể theo qui định của pháp luật hiên hành thu nhập chịu TTNCN bao gồm:
- Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; thu nhập từ
hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề
theo quy định của pháp luật.
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công.
- Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm;
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn;
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;
- Thu nhập từ trúng thưởng;
- Thu nhập từ bản quyền....
Trong phạm vi bài viết tác giả tập trung nghiên cứu thu nhập chịu thuế TNCN
được phát sinh từ các hoạt động điển hình:
Thứ nhất, Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp, diêm nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ của các cá nhân
tự kinh doanh và cá nhân là chủ hộ hoặc người đại diện hộ gia đình sản xuất, kinh
doanh.
Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản
chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế.
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế từ kinh doanh là toàn bộ tiền bán hàng hoá,
tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế
bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cá nhân kinh doanh được hưởng không
phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
Thời điểm xác định doanh thu là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá,
hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ.
72
Theo chính sách thuế trước đây thì khoản thu nhập này thuộc diện điều chỉnh
của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Luật TTNCN đưa loại thu nhập này vào diện
điều chỉnh của Luật TTNCN nhằm thực hiện điều tiết bình đẳng thu nhập của cá nhân
không phân biệt thu nhập từ kinh doanh hay thu nhập từ tiền lương, tiền công45.
Thứ hai, Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công.
Thu nhập chịu thuế từ tiền lương tiền công là tổng số tiền lương, tiền công và
các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công bằng tiền và không bằng
tiền.
Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số thu nhập
mà đối tượng nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ
chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế hoặc thời điểm đối tượng nộp thuế
nhận được thu nhập.
Thu nhập từ tiền lương, tiền công đóng góp tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu nguồn
thu của TTNCN. Việc quy định khá cụ thể chi tiết các khoản chịu thuế, các chi phí
được giảm trừ, cách thức khai thuế...đã góp phần tích cực trong việc kê khai và đóng
TTNCN từ đối tượng có thu nhập tiền lương, tiền công. Tuy nhiên, hiện nay có một
thực trạng cho thấy nhiều cá nhân làm thuê cho các doanh nghiệp trong thời gian
ngắn, không có hợp đồng thường không thực hiện đầy đủ chế độ kê khai và tạm khấu
trừ thuế. Đặc biệt đối với nhiều người lao động làm việc ở nhiều nơi khác nhau, khi
quyết toán thuế không kê khai đầy đủ tất cả các nguồn thu nhập dẫn đến thất thu cho
ngân sách Nhà nước. Ngay cả việc các doanh nghiệp khi kê khai thu nhập cho lao
động của mình đôi khi chỉ kê khai một số lượng nhất định, không kê khai chính xác
số thu nhập thực trả cho lao động của mình. Tất cả những bất cập trên đòi hỏi nhà
làm luật cần có những quy định chặt chẽ hơn nữa để có thể nắm bắt hết nguồn thu
nhập của người lao động tạo ra môi trường bình đẳng, công bằng cho người nộp thuế.
45 Huỳnh Văn Diện (2016), Pháp luật TTNCN từ thực tiễn thành phố Cần Thơ, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học
viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. [Tr. 45]
73
Đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công được trừ các
khoản đóng góp BHXH, BHYT và giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế.
Nghị định số 65/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
12/2015/NĐ-CP) quy định chi tiết một số điều của Luật TTNCN và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật TTNCN thì các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng
tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế
được hưởng dưới mọi hình thức bao gồm:
- Tiền nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có), không bao gồm khoản
lợi ích về nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) đối với nhà ở do người
sử dụng lao động xây dựng để cung cấp cho người lao động làm việc tại khu công
nghiệp hoặc nhà ở do người sử dụng lao động xây dựng tại khu kinh tế, địa bàn có điều
kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn
cung cấp cho người lao động
- Khoản tiền do người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm
không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện
hoặc đóng góp Quỹ hưu trí tự nguyện cho người lao động.
- Phí hội viên và các khoản chi dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân theo yêu cầu,
như: Chăm sóc sức khỏe, vui chơi, thể thao, giải trí, thẩm mỹ46
Thứ ba, Thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn bao gồm:
(i) Tiền lãi cho vay; (ii) Lợi tức cổ phần; (ii) Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các
hình thức khác, kể cả trường hợp góp vốn đầu tư bằng hiện vật, danh tiếng, quyền sử
dụng đất, phát minh, sáng chế (trừ thu nhập nhận được từ lãi trái phiếu Chính phủ,
thu nhập sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân và của
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ47).
Thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn là tổng số các khoản thu nhập từ đầu tư vốn
mà đối tượng nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế.
46
Nghị định số 65/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 12/2015/NĐ-CP) quy định chi tiết
một số điều của Luật TTNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TTNCN
47 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 12/2015/NĐ-CP) quy định chi tiết một số điều
của Luật TTNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TTNCN
74
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn là thời điểm tổ chức, cá
nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế hoặc thời điểm đối tượng nộp thuế nhận
được thu nhập.
Đối với khoản thu nhập từ lợi tức trong đầu tư chứng khoán hay còn gọi là cổ
tức hiện nay đang gặp khá nhiều tranh luận trong nên hay không nên đánh thuế. Quan
điểm thứ nhất cho rằng, khi nhà đầu tư (NĐT) nắm giữ cổ phiếu của một doanh
nghiệp, đồng nghĩa với việc họ là cổ đông hay là một chủ sở hữu của doanh nghiệp
đó. Vì vậy, khi doanh nghiệp chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cũng có nghĩa
là NĐT phải chịu. Doanh nghiệp trả cổ tức nghĩa là doanh nghiệp trích một phần
trong tổng thu nhập của mình để trả cho những người có tên trong danh sách cổ đông,
như vậy thì cổ tức đã phải chịu một lần thuế TNDN. Vậy thì khi cổ đông nhận cổ tức
và phải chịu thêm thuế suất sẽ bị thuế chồng lên thuế và không đúng với nguyên tắc
của thuế TNCN. Việc phải chịu thuế tính trên cổ tức gây tâm lý bất bình cho các NĐT
hơn là chi phí thuế mà họ phải gánh chịu. Bên cạnh đó, nếu đánh thuế TNDN chính
là đã đánh thuế vào chủ sở hữu của DN hay chính là cổ đông của công ty - các NĐT.
Quan điểm thứ hai lại cho rằng, khi một công ty hoạt động sản xuất kinh doanh,
họ phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp cho việc sử dụng cho việc sử dụng các nguồn
lực nói trên. Việc các công ty trong quá trình hoạt động phải trả thuế giá trị gia tăng,
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu... chỉ là thuế gián thu và không phải là các
công ty trả mà họ chỉ trả hộ cho người tiêu dùng. Như vậy, thuế TNDN là trả cho việc
sử dụng nguồn lực xã hội của chủ thể công ty. Đến lượt các cổ đông, tất cả trong số
họ đều chỉ đầu tư vốn vào để nhận được lợi nhuận là cổ tức. Rõ ràng, nếu theo quan
điểm về nguyên tắc đánh thuế, họ cũng phải trả phí cho việc sử dụng các nguồn lực
xã hội trong việc đầu tư vốn. Ít nhất, các nhà đầu tư cũng hoạt động trong một thị
trường được tổ chức và quản lý bởi Nhà nước.
Hai chủ thể công ty và cổ đông cùng hai hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu
tư vốn rõ ràng là phân biệt, mặc dù cùng phải nằm trong một quy trình chung. Như
vậy, khó có thể nói việc đánh thuế trên thu nhập cổ tức là “đánh thuế trùng” hay đánh
thuế hai lần. Do đó, trước hết có thể khẳng định việc áp dụng thuế thu nhập cổ tức là
có cơ sở. Tuy nhiên, vấn đề áp dụng thuế thu nhập cổ tức ở Việt Nam cần phải xem
75
xét các mục tiêu khi sử dụng loại thuế này như: phân phối lại và công bằng về thu
nhập, định hướng kinh tế vĩ mô48.
Thứ tư, Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn.
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá bán trừ giá
mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng
vốn.
Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển
nhượng chứng khoán thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá bán chứng khoán.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn là thời điểm giao
dịch chuyển nhượng vốn hoàn thành theo quy định của pháp luật.
Riêng đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán người nộp thuế sẽ được
lựa chọn hai hình thức đóng thuế. Cách thứ nhất khấu trừ thuế theo một tỷ lệ nhất
định trên giá chuyển nhượng, cách thứ hai sẽ áp dụng việc tạm thu theo một tỷ lệ nhất
định trên giá chuyển nhượng chứng khoán, cuối năm sẽ quyết toán để xác định thu
nhập.
Thứ năm, Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản.
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng giá
chuyển nhượng bất động sản theo từng lần chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản
và các chi phí liên quan, cụ thể như sau:
(i) Giá chuyển nhượng bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm chuyển
nhượng; Giá mua bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm mua.
(ii) Các chi phí liên quan được trừ căn cứ vào chứng từ, hoá đơn theo quy định
của pháp luật, bao gồm các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến
quyền sử dụng đất; chi phí cải tạo đất, cải tạo nhà, chi phí san lấp mặt bằng; chi phí
đầu tư xây dựng nhà ở, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc trên đất; các chi phí
khác liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản.
48
Nguyễn Anh Phong (2012) “Cơ sở xây dựng Luật TTNCN tối ưu”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
19/2012;
76
Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển
nhượng bất động sản thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng bất
động sản.
Chính phủ quy định nguyên tắc, phương pháp xác định giá chuyển nhượng bất
động sản trong trường hợp không xác định được giá chuyển nhượng hoặc giá chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ghi trên hợp đồng thấp hơn giá đất do Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh quy định có hiệu lực tại thời điểm chuyển nhượng.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản là thời
điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
Thu nhập từ bất động sản trong những năm gần đây có đóng góp đáng kể trong
nguồn thu TTNCN. Khi quỹ đất ngày càng hạn hẹp, đặc biệt ở các thành phố lớn, các
khu công nghiệp, khu chế xuất...thì việc chuyển nhượng đất đai càng trở nên phổ
biến. Để tính TTNCN từ chuyển nhượng bất động sản, cơ quan thuế có thể áp dụng
hai cách tính. Cách thứ nhất lấy giá chuyển nhượng bất động sản trừ đi giá mua và
các chi phí hợp lý khi thực hiện việc chuyển nhượng. Tuy nhiên, việc xác định giá
mua ban đầu là rất khó khăn, đặc biệt với tình trạng mua đi bán lại nhiều lần một
mảnh đất như hiện nay. Mặt khác, để xác định chi phí hợp lý khi tiến hành chuyển
nhượng cũng là một vấn đề khó thực hiện. Các chi phí như tiền công chứng, đo đạc,
chi phí đi lại, giao dịch... buộc phải có hóa đơn chứng từ hợp pháp mới có thể được
coi là chi phí để trừ khi tính thuế.
Chính vì những bất cập nêu trên nên hầu hết cơ quan quản lý thực hiện tính thuế
theo cách thức thứ hai là tính thuế trực tiếp trên giá chuyển nhượng. Cách tính này có
ưu điểm nhanh gọn, chi phí hành thu thấp do không phải xác định giá mua cũng như
chi phí dành cho việc chuyển nhượng. Tuy nhiên, một bất cập nảy sinh đó là khi
người nộp thuế chuyển nhượng thường ghi giá trên hợp đồng thấp hơn rất nhiều so
với thực tế. Theo quy định của Luật TTNCN nếu giá trong hợp đồng quá thấp sẽ áp
dụng khung giá sàn do Nhà nước quy định. Trong khi giá đất trên thị trường thay đổi
từng ngày, thì khung giá đất của Nhà nước dường như chỉ nhích lên trong một khoảng
thời gian nhất định và thường thấp hơn rất nhiều giá thực tế giao dịch. Chính những
hạn chế này gây thất thoát lớn cho nguồn thu thuế của Nhà nước49.
49
Thanh Bình (2017), “TTNCN từ chuyển nhượng bất động sản”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Số 4
(258), tr. 12-14
77
3. Những hạn chế, bất cập của các quy định về thu nhập chịu thuế theo pháp
luật thuế thu nhập cá nhân
Thứ nhất, Theo Khoản 4 Điều 4 của Luật TTNCN thì: “Thu nhập từ nhận thừa
kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi,
mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể;
ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột
với nhau” thuộc diện được miễn thuế. Ở đây, cần xem xét tới yếu tố công bằng trong
việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Ở các nước, các khoản thu nhập trên
đều phải chịu thuế, tùy thuộc vào giá trị của tài sản mà mức thuế phải trả là khác
nhau. Người thừa kế phải nộp thuế thu nhập (hoặc thuế thừa kế di sản) khi giá trị của
tài sản thừa kế vượt qua một mức nào đó và tùy thuộc vào việc đối tượng nộp thuế
thuộc hàng thừa kế nào. Ví dụ, theo Luật của Đức trước đây, vợ chồng, con cái nếu
được thừa kế tài sản trị giá từ 50.000 DM phải nộp 3% thuế trên giá trị tài sản đó.
Nếu tài sản lớn hơn 100 triệu DM thì người thừa kế phải nộp 35% giá trị tài sản. Nếu
người thừa kế là cháu nội, cháu ngoại, cha mẹ thì số thuế phải nộp tương ứng là 6%
và 50% giá trị tài sản thừa kế, những người ở hàng thừa kế khác có thể phải nộp một
mức thuế lên đến 70% giá trị tài sản thừa kế. Pháp luật của Nam Phi quy định, người
thừa kế phải nộp thuế với mức 25% giá trị tài sản thừa kế không phụ thuộc vào hàng
thừa kế. Từ hai ví dụ này, việc miễn thuế đối với thu nhập từ thừa kế bất động sản
theo Luật TTNCN của Việt Nam hiện nay cần được xem xét để sửa đổi theo hướng
đưa thu nhập này vào diện chịu thuế, nhằm bảo đảm luật thuế là công cụ để đảm bảo
công bằng trong điều tiết thu nhập có hiệu quả. Việc không đánh thuế đối với thu nhập
trên đã tạo cơ sở cho sự tích tụ, đầu cơ đất đai một cách không hợp lý ở một số đối tượng,
làm cho giá nhà đất không phản ánh đúng quy luật của nó và đặc biệt không bảo đảm
được quyền có nhà ở của công dân50.
Thứ hai, Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở
trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì không
50 Nguyễn Thị Cúc (2012) “Sửa đổi bổ sung Luật TTNCN: thực tiễn và một số kiến nghị” tạp chí Tài chính
5/2012;
78
phải nộp thuế. Điều này cũng cần xem xét lại, vì trên thực tế rất khó có thể kiểm soát
việc sở hữu nhà ở, đất ở của người bán có phải là duy nhất hay không. Hiện nay Việt
Nam chưa có hệ thống đăng ký quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất hợp nhất trên
cả nước nên việc kiểm soát hiện nay chủ yếu dựa vào sự tự giác của người dân. Nếu
ý thức nộp thuế của người dân không cao thì việc thất thu thuế của Nhà nước là điều
không tránh khỏi. Trong khi đó, mục tiêu của sửa đổi luật thuế vẫn là duy trì nguồn
thu đáng kể cho ngân sách nhà nước.
Thứ ba, Luật Thuế hiện hành chưa bao quát hết các khoản thu nhập thuộc diện
phải điều tiết như thu nhập từ ủy quyền bán bất động sản, thu nhập từ đổi nhà, đổi
đất. Đây thường là những khoản thu nhập lớn, cần thiết phải có sự điều tiết của Nhà
nước dưới hình thức thuế để đảm bảo quyền sở hữu nhà, đất ở của người dân một cách
chính đáng. Theo Luật TTNCN của Mỹ, nguồn thu nhập chịu thuế không được giới hạn
cụ thể mà linh hoạt, có nghĩa là các thu nhập chịu thuế khác có thể phát sinh và Luật chỉ
mang tính dự liệu. Tuy nhiên, Điều 3 Luật TTNCN ở Việt Nam lại ấn định thu nhập chịu
thuế bao gồm 10 loại51.
Thứ tư, Luật TTNCN chưa đánh thuế lũy tiến đối với thu nhập từ chuyển nhượng
bất động sản và cũng chưa phân biệt mức độ điều tiết theo thời gian nắm giữ bất động
sản. Đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đầu cơ và bong bóng thị
trường bất động sản hoành hành và gây thất thu cho ngân sách nhà nước. Kinh nghiệm
Trung Quốc cho thấy, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản bị áp các mức thuế
suất lũy tiến: lợi nhuận dưới 50% thì các khoản được khấu trừ: thuế suất 30%; lợi
nhuận trên 50% nhưng dưới 100%, các khoản được khấu trừ: thuế suất 40%; lợi nhuận
trên 100% nhưng dưới 200%, các khoản được khấu trừ: thuế suất 50%; lợi nhuận trên
200% các khoản được khấu trừ: thuế suất 60%. Các chi phí được phép khấu trừ ở đây
bao gồm: tiền mua quyền sử dụng đất, chi phí cải tạo đất, chi phí xây dựng mới hoặc
cải tạo công trình trên đất, các chi phí liên quan đến giao dịch bất động sản. Ngoài ra,
một số nước còn áp dụng thuế đối với lợi nhuận thu được từ giao dịch bất động sản
phù hợp với tần suất giao dịch, thời gian mua, bán lại bất động sản. Nếu thời gian này
51 Trịnh Thị Thu Thủy (2012), “Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật TTNCN: Kiến
nghị từ Cục Thuế thành phố
Hồ Chí Minh”, Tạp chí Thuế Nhà nước, số 17+18 (375+376).
79
diễn ra càng nhanh thì thuế suất càng cao, diễn ra chậm hơn thì lãi suất thấp hơn. Ví
dụ, tại Singapore, đất mua đi, bán lại trong năm đầu tiên bị đánh thuế 100% trên giá
trị chênh lệch mua, bán, sau hai năm thì mức thuế suất là 50%, sau ba năm là 25%.
Tại Đài Loan, giao dịch bất động sản thực hiện trong năm đầu sau khi mua áp dụng
thuế suất là 15%, thực hiện sau năm đầu và trong năm thứ hai sau khi mua, thuế suất
là 10%. Luật TTNCN cần nghiên cứu sửa đổi theo hướng quy định đánh thuế lũy tiến
đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản và phân biệt mức độ điều tiết theo
thời gian nắm giữ bất động sản52.
Thứ năm, Luật TTNCN hiện hành quy định thu thuế tại nguồn đã gây ra những
khó khăn trong việc xác định chính xác số thuế phải nộp.
Để đảm bảo khả năng điều tiết thu nhập, thuế TNCN thường quy định thuế suất
lũy tiến áp dụng cho tổng thu nhập chịu thuế. Bên cạnh đó, để đảm bảo việc thu thuế,
pháp luật quy định tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ thuế thu
nhập đối với khoản thu nhập được chi trả để nộp cho cơ quan thuế. Riêng đối với những
khoản chi phí mua ngoài như thù lao tư vấn, tiền công sửa chữa v.v., việc khấu trừ được
xác định là 10% trên khoản thu nhập từ 500 ngàn đồng trở lên. Quy định như vậy có
ưu điểm là đảm bảo thu được thuế, tránh việc trốn thuế, lậu thuế. Tuy nhiên, hiện nay
việc thực hiện đăng kí, kê khai nộp thuế thu nhập đối với từng cá nhân chưa được áp
dụng rộng rãi và triệt để, thì cách thu thuế như vậy sẽ không chính xác.
3. Một số giải pháp hoàn thiện quy định về thu nhập chịu thuế theo pháp
luật TTNCN
3.1. Thu nhập từ quà tặng, thừa kế
Hầu hết các nguồn thu nhập đã được Luật TTNCN điều chỉnh, tuy nhiên còn
một số nguồn thu nhập vẫn bị “bỏ ngỏ”. Thu nhập quà biếu bằng tiền, hiện vật của
các doanh nghiệp, tổ chức chi cho cá nhân ngoài đơn vị là một ví dụ. Luật TTNCN
hiện hành quy định tiền lương, tiền công, hoa hồng môi giới, tham gia giảng dạy,
nghiên cứu khoa học... của người lao động thuộc diện chịu TTNCN, nhưng quà biếu
52 Nguyễn Thị Mai Phương (2007),“Một số điểm nổi bật trong quản lý thuế thu
nhập ở Đài Loan và bài học
cho Việt Nam”Tạp chí Tài chính số 6 tháng 3/2007
80
bằng tiền, hiện vật cho cá nhân ngoài doanh nghiệp, tổ chức... lại không chịu thuế là
chưa đảm bảo công bằng, bình đẳng về thu nhập, chưa quản lý nguồn thu nhập có khả
năng không minh bạch.
TTNCN ngày càng có vị thế quan trọng trong tổng thu ngân sách Nhà nước và
tốc độ tăng trưởng hàng năm tăng nhanh: năm 2016 là 14.329 tỷ đồng, năm 2017 là
26.288 tỷ đồng, 2018 là 37.100 tỷ đồng và dự toán năm 2019 là 46.333 tỷ đồng. Trong
khi đó, tổng các khoản thu về nhà, đất dự toán năm 2019 chỉ là 42.422 tỷ đồng53 .
Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều khoản thu nhập có tính chất tương tự như các khoản
thu nhập chịu thuế quy định trong luật như: thu thuế đối với thu nhập từ uỷ quyền
bán nhà, đất mà người uỷ quyền có quyền định đoạt tài sản; thu nhập từ chuyển
nhượng thẻ hội viên sân golf do chưa được quy định trong luật.... nên chưa điều tiết
được đối với các khoản thu nhập này. Thiết nghĩ, các nhà làm luật nên nghiên cứu để
đưa các loại thu nhập nêu trên vào khoản mục thu nhập chịu thuế.
3.2.2. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
Theo thông tư số 111/2013/TT-BTC (sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số
25/2018/TT-BTC) Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật TTNCN, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật TTNCN và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều của Luật TTNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật TTNCN có quy định việc miễn thuế đối với chuyển nhượng nhà đất, trong
trường hợp đối tượng chuyển nhượng có một nhà đất duy nhất. Thực tế xác định được
điều này là rất khó khăn. Chẳng hạn một số trường hợp như:
Tự khai là tài sản duy nhất: Tại khoản 2, Điều 4, Luật TTNCN quy định: “Thu
nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của
cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn
thuế”, đồng thời người chuyển nhượng bất động sản tự khai và chịu trách nhiệm về
tính trung thực về kê khai của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin
quản lý cá nhân của cơ quan Nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng
được nhu cầu thực tiễn; công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất
53 Tổng Cục thuế (2019), Tài liệu hội nghị tổng kết công tác thuế năm 2019, triển khai các giải pháp thực hiện
nhiệm vụ công tác thuế năm 2020, Hà Nội.
81
trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao
nhiêu nhà ở, đất ở. Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi
chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Để khắc
phục được điều này, cơ quan thuế cần kiến nghị thực hiện các thủ tục để cấp mã số
thuế cho các cá nhân khi tiến hành chuyển nhượng bất động sản, đồng thời cấp mã số
thuế cho cá nhân khi nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Bằng hoạt động này, khi
một cá nhân tiến hành chuyển nhượng bất động sản, cơ quan thuế hoàn toàn có thể
tra cứu theo mã số thuế để biết rằng cá nhân này có quyền sở hữu bao nhiêu mảnh đất
và tính thuế một cách chính xác nhất thay vì việc chỉ căn cứ vào tính tự giác trong tờ
khai của người nộp thuế như hiện nay.
Hạ giá chuyển nhượng: Điều 14, Luật TTNCN quy định cụ thể về cách xác định
giá chuyển nhượng bất động sản theo đó: “Giá chuyển nhượng bất động sản là giá
theo hợp đồng tại thời điểm chuyển nhượng”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hầu hết
các cá nhân khi tiến hành giao dịch về bất động sản đều thống nhất ghi giá chuyển
nhượng trong hợp đồng thấp hơn nhiều lần so với thực tế mua bán. Để hạn chế tình
trạng thất thu ngân sách Nhà nước, khoản 3, Điều 14, Luật TTNCN cũng quy định:
“Trường hợp không xác định được giá chuyển nhượng hoặc giá chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ghi trên hợp đồng thấp hơn giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
quy định có hiệu lực tại thời điểm chuyển nhượng”. Thực tế cho thấy khung giá đất
của cơ quan Nhà nước quy định trong thời điểm hiện nay thường thấp hơn 10-20 lần
giá đất giao dịch trên thị trường, đó là không kể trong những thời điểm đất “sốt” thì
khoảng cách này có thể được đẩy xa 30-40 lần. Như vậy, vô hình chung dù pháp luật
cho phép người nộp thuế tự thỏa thuận giá hay cơ quan Nhà nước áp giá theo khung
giá quy định đều tạo ra một kẽ hở để người nộp thuế hưởng lợi. Để hạn chế tình trạng
trên, thiết nghĩ công việc đầu tiên phải làm là cơ quan Nhà nước cần thành lập một
đội ngũ thẩm định giá chuyên nghiệp để đưa ra quy định về khung giá đất sao cho sát
với thực tế giá chuyển nhượng bất động sản trên thị trường, một khung giá vừa đem
lại nguồn thu cho Nhà nước đồng thời không gây trở ngại cho việc thực hiện nghĩa
vụ của người dân.
82
Chuyển nhượng bắc cầu: Theo Khoản 1 Điều 4 Luật TTNCN quy định: “thu
nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ;
cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với
con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em
ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN. Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp
đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế. Ví dụ, trường hợp em chồng chuyển
nhượng bất động sản cho chị dâu. Nếu chuyển nhượng theo cách thông thường theo
quy định hiện hành người em chồng sẽ phải nộp TTNCN. Tuy nhiên, để lách thuế,
người chị dâu thực hiện một hợp đồng “ trung gian” chuyển nhượng hoặc tặng cho
bất động sản trên cho cha mẹ chồng, sau đó cha mẹ chồng sẽ tặng lại cho con đẻ của
mình. Nếu áp dụng theo quy định hiện hành trường hợp trên sẽ không bị mất TTNCN,
có chăng họ chỉ mất thêm một khoản chi phí cho hợp đồng công chứng “trung gian”.
Trong thực tế, một thời gian dài hiện tượng này đã diễn ra rất phổ biến tuy nhiên lại
không có hướng khắc phục. Thiết nghĩ, để giải quyết tình trạng trên chúng ta có thể
bám vào pháp luật hiện hành quy định về việc chuyển nhượng đối với tài sản phải
đăng ký. BLDS năm 2015 về đăng ký quyền sở hữu tài sản nêu rõ: “Quyền sở hữu
đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng
ký bất động sản”. BLDS năm 2015 về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản
cũng quy định cụ thẻ: “Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể
từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Như
vậy, nếu muốn thực hiện “sang tên” với một chủ thể khác đòi hỏi bên chuyển nhượng
phải là bên có quyền sở hữu đối với bất động sản, nói cách khác bất động sản là đối
tượng chuyển nhượng phải được mang tên của bên chuyển nhượng. Căn cứ vào quy
định trên, nếu người chị dâu muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho cha mẹ
chồng phải thực hiện việc đăng ký sang tên (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
mang tên bố mẹ chồng, sau đó bố mẹ chồng mới có thể thực hiện sang tên cho con đẻ.
Nếu thực hiện theo quy định này, sẽ tránh được đáng kể tình trạng chuyển nhượng bắc
cầu như hiện nay. Vì thực tế cho thấy, nếu so sánh giữa việc lách một khoản tiền
TTNCN với việc thực hiện đăng ký sang tên cho “chuyển nhượng bắc cầu” thủ tục vốn
đã rất phức tạp thì người nộp thuế sẽ chọn cách đóng thuế cho Nhà nước.
83
3.2.3. Thu nhập từ tiền lương, tiền công
Cần làm rõ thêm, minh bạch hơn các khoản thu nhập chịu thuế và không chịu
thuế dựa trên nguyên tắc: Nếu chưa đưa vào thu nhập chịu thuế thì có nghĩa là không
thu thuế TNCN hoặc ngư ợc lại, không nên quy định chung chung sẽ rất khó thực
hiện. Dựa trên tư duy nuôi dư ỡng nguồn thu để khuyến khích toàn xã hội kinh doanh
là nguyên tắc căn bản của Luật TTNCN, tác giả cho rằng căn cứ tính thuế công bằng,
khoa học và hợp lý nhất hiện nay chính là thu nhập thực tế của riêng cá nhân trong
kỳ tính thuế. Thu nhập này là tổng tất cả các khoản thu nhập riêng lẻ có nguồn gốc
khác nhau. Đánh TTNCN là đánh vào tổng thu nhập chứ không phải đánh vào từng
khoản thu nhập. Việc trong Luật phân chia nguồn thu nhập thành nguồn thu nhập
chịu thuế (Điều 3) và nguồn thu nhập không chịu thuế (Điều 4) sẽ làm xuất hiện nguy
cơ trốn thuế mà cơ quan quản lý thuế không kiểm soát đư ợc. Bởi vì có một điều chắc
chắn rằng trong xã hội không chỉ có những nguồn thu nhập đư ợc liệt kê trong luật
mà còn có nhiều nguồn thu nhập khác nữa; đấy là chư a tính đến có những nguồn thu
nhập mới sẽ xuất hiện cùng với sự phát triển của KT-XH. Vì vậy pháp luật sẽ xử lý
như thế nào đối với những nguồn thu nhập chư a có trong luật? Không lẽ chúng ta
phải sửa đổi luật mỗi khi xuất hiện nguồn thu nhập mới hoặc phát hiện ra là đã bỏ sót
nguồn thu nhập nào đó? Cần thống nhất quan điểm: Tổng thu nhập thực trong kỳ tính
thuế chính là căn cứ duy nhất để tính thuế thu nhập. Các cơ quan chức năng không
nên chỉ vì không kiểm soát đư ợc thu nhập thực tế mà quay sang kiểm soát nguồn thu
nhập rồi từ đó đánh thuế theo khoản thu nhập riêng lẻ. Bởi vì chính điều này sẽ làm
cho Luật TTNCN có nguy cơ trở thành một luật không công bằng cho người dân.
Để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật thì việc bổ sung các khoản
phụ cấp, trợ cấp đư ợc tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là cần
thiết. Mặc khác, để có cơ sở pháp lý trong thực hiện đối với các khoản phụ cấp, trợ
cấp có thể sẽ phát sinh sau này do các Luật chuyên ngành khác đư ợc sửa đổi, bổ sung
(pháp luật về lao động, về BHXH..), tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung Điểm b Khoản
2 Điều 3 theo hư ớng: bổ sung các khoản phụ cấp, trợ cấp, đồng thời bổ sung quy
định “và các khoản trợ cấp, phụ cấp không mang tính chất tiền lương, tiền công khác
theo quy định của Chính phủ” để Chính phủ có thể quy định kịp thời khi có các khoản
84
phụ cấp, trợ cấp mới phát sinh theo quy định của pháp luật khác. Hơn nữa, để bao
quát các khoản thu nhập chịu thuế tác giả đề xuất bổ sung thêm khoản 10 của Điều 3
quy định: các loại thu nhập phát sinh khác nếu có.
4. Kết luận
Tầm quan trọng của TTNCN không chỉ ở đóng góp tài chính cho ngân sách
công mà còn ở tác động của chúng đến các chính sách và mục tiêu khác của chính
phủ (ví dụ: tăng trưởng kinh tế, phân phối lại, khả năng cạnh tranh của quốc gia, hoạt
động của thị trường lao động ...). Trong bài báo này, tác giả đã chỉ ra được một số
hạn chế về mặt luật pháp đồng thời đưa ra một số khuyên nghị nhằm hoàn thiện quy
định về thu nhập chịu thuế theo pháp luật TTNCN. Để nâng cao mức sống, khả năng
tiết kiệm và đầu tư của người dân và kích thích tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cần có
các biện pháp nhằm giảm gánh nặng TTNCN bằng cách cải cách một số điều khoản
của luật thuế với nội dung tập trung cải cách là việc xác định thu nhập chịu thuế và
giảm trừ gia cảnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Huỳnh Văn Diện (2016), Pháp luật TTNCN từ thực tiễn thành phố Cần Thơ,
Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội
Việt Nam.
2. Luật TTNCN năm 2007 (sửa đổi bổ sung năm 2014) có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 01 năm 2009
3. Nghị định số 65/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
12/2015/NĐ-CP) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 quy định chi tiết
một số điều của Luật TTNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TTNCN
4. Nguyễn Anh Phong (2012) “Cơ sở xây dựng Luật TTNCN tối ưu”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 19/2012;
5. Nguyễn Hoàng (2014),“Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với TTNCN ở Việt
Nam”Luận án Tiến sĩ kinh tế, ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
6. Thanh Bình (2017), “TTNCN từ chuyển nhượng bất động sản”, Tạp chí Tài
nguyên và Môi trường, Số 4 (258).
7. Tổng Cục thuế (2019), Tài liệu hội nghị tổng kết công tác thuế năm 2019,
triển khai các giải pháp thực hiện nhiệm vụ công tác thuế năm 2020, Hà Nội.
85
Bạn đang xem tài liệu "Thu nhập chịu thuế theo pháp luật thuế thu nhập cá nhân thực trạng và giải pháp hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thu_nhap_chiu_thue_theo_phap_luat_thue_thu_nhap_ca_nhan_thuc.pdf

