Tài liệu Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải pháp (Phần 1)

VĂN PHÒNG QUỐC HỘI  
VIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ PHÁP LUẬT  
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA  
CƠ QUAN DÂN CỬ Ở VIỆT NAM  
VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP  
Cuốn sách được xuất bản với sự hỗ trợ kỹ thuật của  
Viện Rosa Luxemburg (Cộng hoà liên bang Đức) và sự  
phối hợp của Viện Chính sách công và pháp luật  
ĐỒNG CHỦ BIÊN  
TS. NGUYỄN SĨ DŨNG VÀ PGS.TS VŨ CÔNG GIAO  
THAM GIA BIÊN SOẠN  
Vũ Công Giao  
Nguyễn Đức Lam  
Trần Thanh Dũng  
Nguyễn Chí Dũng  
Nguyễn Thị Mai Phương  
Hoàng Minh Hiếu  
Lê Hà Vũ  
Trần Thị Trinh  
Nguyễn Thị Hải Hà  
4 I VĂN PHÒNG QUỐC HỘI - VIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ PHÁP LUẬT  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
ĐBQH  
HĐND  
UBND  
TANDTC  
VKSNDTC  
UBTVQH  
QH  
Nghĩa đầy đủ  
Đại biểu Quốc hội  
Hội đồng dân tộc  
Ủy ban nhân dân  
Tòa án nhân dân tối cao  
Viện kiểm sát nhân dân tối cao  
Uỷ ban thường vụ Quốc hội  
Quốc hội  
CBPV QH  
QĐ  
Cán bộ phục vụ Quốc hội  
Quyết định  
DA  
Dự án  
BC  
Báo cáo  
NSNN  
Ngân sách Nhà nước  
Văn bản quy phạm pháp luật  
VBQPPL  
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ Ở VIỆT NAM – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP I 5  
MỤC LỤC  
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM  
SÁT CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ  
13  
1. Sự hình thành chức năng giám sát của Nghị viện  
15  
1.1 Sự hình thành chức năng giám sát ở Nghị viện các nước trên  
thế giới 15  
1.2 Sự hình thành chức năng giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam 20  
2. Quan niệm về hoạt động giám sát  
22  
2.1 Quan niệm về hoạt động giám sát các nước trên thế giới  
22  
2.2 Quan niệm và một số đặc thù trong hoạt động giám sát của cơ quan  
dân cử ở Việt Nam  
25  
29  
29  
30  
34  
34  
44  
3. Đối tượng của hoạt động giám sát  
3.1 Đối tượng giám sát của nghị viện các nước trên thế giới  
3.2 Đối tượng giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam  
4. Công cụ được sử dụng trong hoạt động giám sát  
4.1 Công cụ giám sát của Nghị viện các nước trên thế giới  
4.2 Các công cụ giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam  
5. Mối quan hệ giữa hoạt động giám sát với các hoạt động khác của  
Nghị viện  
47  
49  
6. Hệ quả trách nhiệm của hoạt động giám sát  
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ  
QUAN DÂN CỬ Ở VIỆT NAM  
1. Phạm vi hoạt động giám sát  
1.1 Thực trạng của vấn đề  
55  
57  
57  
70  
73  
1.2 Nguyên nhân của thực trạng  
Chủ thể hoạt động giám sát  
6 I VĂN PHÒNG QUỐC HỘI - VIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ PHÁP LUẬT  
2.1 Thực trạng của vấn đề  
73  
2.2 Nguyên nhân của bất cập, hạn chế trong việc áp dụng các công cụ  
giám sát  
88  
91  
91  
92  
95  
99  
3. Công cụ giám sát  
3.1 Thực trạng việc áp dụng các công cụ giám sát  
a) Bỏ phiếu tín nhiệm chưa được triển khai trên thực tế  
b) Quốc hội chưa từng thành lập Ủy ban lâm thời  
a) Tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động giám sát  
b) Hiệu quả của một số công cụ giám sát khi triển khai trên thực tế 101  
a) Tính hình thức trong hoạt động xét báo cáo  
3.2. Nguyên nhân của thực trạng  
4. Các điều kiện đảm bảo thực hiện hoạt động giám sát  
Thực trạng của vấn đề  
111  
130  
145  
145  
165  
4.2 Nguyên nhân  
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG  
CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT  
CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ Ở VIỆT NAM  
169  
Một số giải pháp, kiến nghị đối với hoạt động giám sát của cơ quan  
dân cử  
171  
1.1 Thay đổi quan niệm, nhận thức  
171  
1.2.2. Thu hẹp đối tượng giám sát; giám sát có trọng điểm, trọng tâm 173  
3. Đối với chủ thể giám sát 179  
3.1. Tạo vị thế độc lập, động lực giám sát cho các chủ thể giám sát 179  
3.2. Phân định phạm vi giám sát của các chủ thể giám sát  
3.3. Nâng cao năng lực của đại biểu dân cử  
181  
185  
4. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện tốt các công cụ giám sát. 187  
4.1. Chất vấn và trả lời chất vấn 187  
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ Ở VIỆT NAM – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP I 7  
4.2. Giám sát chuyên đề của Quốc hội  
4.3.Giám sát VBQPPL  
190  
192  
195  
4.4. Đổi mới việc xem xét các báo cáo  
5. Nâng cao chất lượng giám sát trong lĩnh vực ngân sách nhà nước 199  
5.1 Tăng cường năng lực của hệ thống ủy ban của Quốc hội trong việc  
giám sát ngân sách  
199  
5.2 Áp dụng những công cụ giám sát ngân sách nhà nước phù hợp 202  
5.3 Tăng cường năng lực của bộ máy giúp việc  
5.4. Phối hợp với Kiểm toán nhà nước  
204  
205  
208  
210  
219  
5.5. Hoàn thiện quy trình, thủ tục làm việc và cơ chế phối hợp  
6. Đối với các điều kiện đảm bảo  
c) Thay đổi cách thức tổ chức công tác tham mưu về chuyên môn  
II. Một số kiến nghị về các chế định trong dự thảo Luật Hoạt động  
giám sát của đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân 227  
1. Về chủ thể giám sát  
227  
229  
236  
2. Về các công cụ giám sát  
3. Giám sát trong lĩnh vực tài chính – ngân sách  
4. Về thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị và hệ quả pháp lꢀ sau  
giám sát  
237  
241  
308  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ Ở VIỆT NAM – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP I 9  
LỜI NÓI ĐẦU  
Năm 2003, Quốc hội khóa XI (tại kỳ họp thứ 3) đã thông qua  
Luật hoạt động giám sát của Quốc hội. Cũng vào năm đó, các quy  
định về giám sát của Hội đồng nhân dân trong Luật tổ chức Hội đồng  
nhân dân và Ủy ban nhân dân đã được ban hành. Việc ban hành các  
quy định này là nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý góp phần nâng  
cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử ở  
nước ta.  
Qua quá trình thực hiện các quy định nói trên và các quy định  
có liên quan khác, hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân  
dân đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Giám sát của cơ quan dân  
cử đã tập trung vào những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đòi hỏi, xã  
hội quan tâm và ngày càng công khai, minh bạch. Hoạt động giám sát  
vì vậy được nhân dân đánh giá cao, qua đó góp phần nâng cao vai  
trò, uy tín của các cơ quan dân cử.  
Song bên cạnh những kết quả tích cực đó, thực tiễn hoạt động  
giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cũng bộc lộ những mặt  
hạn chế, bất cập. Ý kiến của các đại biểu dân cử cũng như các nhà  
quản lý, nhà khoa học khá thống nhất ở một đánh giá tổng quát là  
hiệu quả, hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng  
nhân dân còn chưa cao. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân  
khác nhau và một trong những nguyên nhân chủ yếu là các quy định  
pháp luật về giám sát còn nhiều bất cập cả về chủ thể, đối tượng, nội  
dung, phạm vi, hình thức giám sát…  
Để triển khai thi hành các quy định trong Hiến pháp 2013 về  
giám sát, đồng thời khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong hoạt  
10 I VĂN PHÒNG QUỐC HỘI - VIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ PHÁP LUẬT  
động giám sát của các cơ quan dân cử, dự án Luật hoạt động giám  
sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đang được Quốc hội Khóa  
XIII xem xét và dự kiến thông qua tại Kỳ họp thứ 10. Trong bối cảnh  
đó, kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây, Thư viện Quốc hội  
và Viện Chính sách công và Pháp luật tiến hành biên soạn cuốn sách  
“Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam: Vấn đề và  
giải pháp”.  
Mục đích của việc biên soạn cuốn sách là nhằm cung cấp thông  
tin phục vụ các vị đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và  
các cơ quan hữu quan trong việc xem xét, thông qua Luật hoạt động  
giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Nhóm tác giả cũng  
mong muốn cuốn sách này sẽ góp phần vào việc kỷ niệm 70 năm  
Quốc hội Việt Nam. Và ngoài ra, cuốn sách cũng sẽ hướng tới phục  
vụ công tác nghiên cứu khoa khọc pháp lý về tổ chức và hoạt động  
của Quốc hội.  
Với các mục đích đó, nội dung cuốn sách đi từ những vấn đề  
lý luận về giám sát của cơ quan dân cử tới đánh giá thực trạng hoạt  
động giám sát của cơ quan dân cử của nước ta thời gian qua và đề  
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện  
chức năng quan trọng này. Phương pháp tiếp cận và trình bày cuốn  
sách cũng có những thay đổi so với cách thức thông thường cho phù  
hợp với đối tượng độc giả chính của cuốn sách. Theo đó, những vấn  
đề lý luận sẽ được trình bày dưới góc độ so sánh tham chiếu giữa  
kinh nghiệm phổ quát của các nước với quan niệm giám sát của Việt  
Nam. Phần thực trạng giám sát chỉ tập trung đánh giá những vấn đề  
còn tồn tại, hạn chế, phân tích nguyên nhân để làm cơ sở cho việc  
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ Ở VIỆT NAM – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP I 11  
kiến nghị mà không đi sâu vào các kết quả đạt được trong suốt thời  
gian qua. Phần giải pháp vừa kết hợp các kiến nghị chung và các  
kiến nghị cụ thể đối với dự thảo Luật hoạt động giám sát của Quốc  
hội và Hội đồng nhân dân.  
Trong quá trình biên soạn, Thư viện Quốc hội và Viện Chính  
sách công và Pháp luật đã nhận được sự hỗ trợ tận tình của Viện  
Rosa Luxemburg, các giáo sư, nhà nghiên cứu ở các trường đại học,  
viện nghiên cứu và sự bình luận, góp ý của chính các đại biểu Quốc  
hội, là những độc giả chính mà cuốn sách hướng tới. Nhóm tác giả  
xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ quý báu này.  
Chúng tôi hy vọng rằng, đây là một tài liệu tham khảo hữu ích  
đối với các đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan  
bộ ngành hữu quan trong quá trình xem xét, thông qua Luật hoạt  
động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân cũng như trong  
quá trình hoạt động đại biểu của các đại biểu dân cử. Chúng tôi rất  
mong muốn nhận được các ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc  
hội cũng như các độc giả để các nghiên cứu sắp tới có nội dung ngày  
càng hoàn thiện.  
TS. NGUYỄN SĨ DŨNG  
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội  
CHƯƠNG I:  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG  
GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ  
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ Ở VIỆT NAM – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP I 15  
1. Sự hình thành chức năng giám sát của Nghị viện  
1.1 Sự hình thành chức năng giám sát ở Nghị viện các nước  
trên thế giới  
Tổ chức bộ máy nhà nước ở các quốc gia thường được cấu thành  
từ ba bộ phận đó là lập pháp, hành pháp, và tư pháp. Trong đó, dù  
theo mô hình chính thể nào và quyền lực nhà nước được tổ chức theo  
nguyên tắc nào đi chăng nữa thì Nghị viện1 cũng đều do nhân dân  
bầu ra thông qua bầu cử, đại diện cho ý chí của nhân dân, cho nên  
còn được gọi là cơ quan dân cử.  
Thuở ban đầu, sự ra đời của Nghị viện chỉ gắn với chức năng lập  
pháp. Chức năng giám sát được sinh ra một cách muộn mằn hơn so  
với chức năng lập pháp và không tuân theo bất cứ một lý thuyết nào  
có trước, kể cả học thuyết  
Chức năng giám sát được  
phân  
quyền  
của  
S.  
sinh ra một cách muộn mằn hơn  
so với chức năng lập pháp và  
không tuân theo bất cứ một lý  
thuyết nào có trước, kể cả các  
học thuyết phân quyền.  
Montesquieu cũng như của J.  
Locke, mà do yêu cầu của  
hoạt động thực tế.  
Theo cách thức tổ chức  
của nhà nước đại nghị, mà  
Anh quốc là ví dụ điển hình, Chính phủ - hành pháp và Nghị viện/Hạ  
nghị viện - lập pháp đều cùng phản ánh ý chí của đảng cầm quyền.  
Đảng cầm quyền là đảng chiếm đa số ghế thông qua một cuộc phổ  
1 Trong phạm vi nghiên cứu này khái niệm Nghị viện được sử dụng thống nhất hoặc/và thay  
thế cho khái niệm “cơ quan đại biểu dân cử”, “Quốc hội”.  
16 I VĂN PHÒNG QUỐC HỘI - VIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ PHÁP LUẬT  
thông đầu phiếu bầu ra các nghị sĩ, có quyền đứng ra thành lập Chính  
phủ. Vì lẽ đó, thủ lĩnh của Đảng cầm quyền sẽ là Thủ tướng Chính  
phủ. Các thành viên của Chính phủ về nguyên tắc đều là những  
người trong Ban lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Với nguyên tắc nghị  
sĩ của đảng nào chỉ được bỏ phiếu cho ý chí của đảng đó, cùng với  
quyền trình dự án luật trước Nghị viện, nên gần như một nguyên tắc,  
mọi dự luật đều xuất phát từ Chính phủ - hành pháp. Các hoạt động  
của Nghị viện - lập pháp và Chính phủ - hành pháp đều do Đảng  
cầm quyền quyết định. Theo con số thống kê của nhiều nghị viện, có  
tới hơn 90% tổng số các dự án luật được Nghị viện thông qua là dự  
án đệ trình từ Chính phủ. Giữa Nghị viện và Chính phủ phải có sự  
tín nhiệm lẫn nhau, tạo nên tính thống nhất của quyền lực nhà nước.  
Nghị viện chỉ còn lại nhiệm vụ kiểm soát Chính phủ và sẵn sàng  
thay đổi Chính phủ đang cầm quyền. Hoạt động giám sát của Nghị  
viện cũng như thực hiện chức năng của Nghị viện nói chung hoàn  
toàn do đảng đối lập thực hiện. Sự đối lập này được người gọi là đối  
lập có trách nhiệm. Thay cho các cuộc đấu tranh đổ máu, người ta  
giải quyết bằng con đường tranh luận, thỏa thuận, thậm chí có thể  
là những cuộc mặc cả, tạo nên một thứ văn hóa được gọi là văn hóa  
nghị trường.  
Chế định chịu trách nhiệm này được hình thành trong lịch sử của  
Nghị viện Anh cũng không được một đạo luật nào của họ ghi nhận.  
Mãi về sau này, chế định quan trọng nói trên mới được các Hiến  
pháp của nhiều nước ghi nhận, và chính nó trở thành một nguyên tắc  
quan trọng bậc nhất của mô hình chính thể đại nghị, kể cả của các  
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ Ở VIỆT NAM – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP I 17  
nền cộng hoà hay quân chủ lập hiến. Chính phủ do Nghị viện bầu ra,  
và chính Chính phủ - hành pháp phải chịu trách nhiệm trước Nghị  
viện, đây là nguyên tắc cơ bản hình thành nên chức năng giám sát  
của Nghị viện của các nhà nước theo chế độ đại nghị.  
Đối với các nhà nước được tổ chức theo mô hình Tổng thống, sự  
hình thành ra chức năng giám sát cũng xuất phát từ thực tế, nhưng  
đôi khi Nghị viện lại không thực hiện được quyền này. Khi áp dụng  
học thuyết phân quyền “cứng rắn”, ở một số chính thể Tổng thống,  
Tổng thống là người không những đứng đầu nhà nước, là nguyên  
thủ quốc gia, mà còn là người đứng đầu cơ quan hành pháp, do nhân  
dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra; Nghị viện cũng do nhân dân trực  
tiếp bầu ra, nhưng Nghị viện chỉ có chức năng lập pháp. Chính phủ -  
mà người đứng đầu là Tổng thống - có chức năng hành pháp, nhưng  
không phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Do vậy, về nguyên tắc,  
Nghị viện lập pháp này không có chức năng giám sát các hoạt động  
của Chính phủ. Nếu có chăng nữa, thì sự biểu hiện của chức năng  
này là do cơ chế kìm chế và đối trọng đem lại, chứ không phải do  
chức năng vốn có của lập pháp.  
Trải qua một thời gian thực hiện Hiến pháp, người ta đã yêu cầu  
một khi đã có chức năng lập pháp, thì Quốc hội phải biết được kết  
quả thi hành của các đạo luật, để điều chỉnh lại hoạt động lập pháp  
của mình trong tương lai. Trong khi việc tổ chức thực thi và trách  
nhiệm thực thi luật pháp lại thuộc chức năng của Chính phủ - hành  
pháp, thì không còn một cách nào khác, lập pháp phải tiến hành giám  
sát các hoạt động của hành pháp. Hơn nữa, sau nhiều năm thực hiện  
18 I VĂN PHÒNG QUỐC HỘI - VIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ PHÁP LUẬT  
sự phân quyền của Hiến pháp, người ta nhận ra rằng, trong quá trình  
thực thi pháp luật, quản lý nhà nước theo quy định của lập pháp,  
Chính phủ - hành pháp không thể thực thi quyền hành pháp mà lại  
không can thiệp sang các lĩnh vực lập pháp. Chính phủ - hành pháp  
dần dần có quyền can thiệp sang các lĩnh vực hoạt động của lập  
pháp, như việc gợi ý cho chương trình lập pháp của Quốc hội và ban  
hành các văn bản dưới luật của hành pháp để thực thi các đạo luật.  
Với phạm vi quyền lực của nhánh hành pháp như vậy, Nghị viện  
cũng có sự can thiệp ngược lại để tạo ra một sự cân bằng cần có trong  
cơ cấu tổ chức nhà nước dân chủ1. Vì những lẽ đó, nên “nếu Quốc  
hội từ bỏ trách nhiệm giám sát thì có thể dẫn đến hai kết quả. Các  
cơ quan, các bộ, có thể cứ làm tới mà không bị giám sát; hoặc ai đó  
có thể nắm dây cương mà Quốc hội đã thả lỏng. Điều thứ hai xảy ra,  
nghĩa là nhân viên Tổng thống đã ngồi vào tay lái”2.  
Ngày nay, dù nhà nước được tổ chức theo mô hình chính thể đại  
nghị hay chính thể cộng hòa Tổng thống, Nghị viện ở bất kỳ quốc  
gia nào cũng đều có chức năng giám sát hoạt động của Chính phủ.  
Có thể nói, giám sát đã dần trở thành một chức năng chính của Nghị  
viện, ngày càng có xu hướng lấn át cả chức năng lập pháp.  
Về sự cần thiết của hoạt động giám sát của Nghị viện, ngay từ  
thời kỳ cách mạng tư sản trong tác phẩm nổi tiếng “Chính thể đại  
diện” (Repesentative government), nhà triết học người Anh - J. S.  
Mill đã nhận định rằng: “Thay cho chức năng cai trị không thích  
1 GS.TS Nguyễn Đăng Dung, ‘Chức năng giám sát của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền’,  
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số Số 22 (183) / áng 11/2010, tr.6,7.  
2 Ann Seidman, Robert Seidman và Nailin Abeysekere, Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội  
dân chủ (Sổ tay cho nhà soạn thảo luật) Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2003 tr. 57 – 58.  
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ Ở VIỆT NAM – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP I 19  
hợp, chức năng đích thực Quốc hội là giám sát và kiểm soát Chính  
phủ, soi lên ánh sáng công khai các hành vi cai trị, buộc Chính phủ  
phải giải trình, khi bất cứ ai đó thấy chúng đáng nghi ngờ, đáng lên  
án, và cảnh báo những thành viên Chính phủ lạm dụng sự tín nhiệm  
trong các công việc được giao hay thực hiện xung đột với lợi ích  
quốc gia, thì phải đuổi họ ra khỏi nhiệm sở và bổ nhiệm những người  
kế nhiệm. Rõ ràng đây là quyền lực dư dật và đủ an toàn cho một nền  
an ninh tự do của quốc gia”1.  
Chức năng giám sát của Nghị viện cũng thể hiện những yêu cầu  
tiến triển của nhà nước pháp quyền. Bởi mục tiêu của nhà nước pháp  
quyền đó là quyền lực của nhà nước phải bị kiểm soát bằng các quy  
định của pháp luật mà trước hết là các quy định của Hiến pháp. Trong  
nhà nước pháp quyền, chức năng giám sát của Nghị viện phải ngày  
càng được nâng cao như một tiêu chí đánh giá. Nghị viện giám sát  
Chính phủ thông qua trách nhiệm chính trị và trách nhiệm giải trình  
của Chính phủ. Nó cho phép các nhà lập pháp chất vấn quan chức  
Chính phủ về những hành động và quyết định của họ; là phương tiện  
kiểm soát quyền lực của các bộ trong Chính phủ; các nhà lập pháp phê  
chuẩn ngân sách, đề xướng chính sách, tiến hành điều trần về những  
vấn đề bức xúc và chấp thuận chỉ định người vào tòa án, các bộ2...  
1 Xem: John Stuart Mill (1861), Chính thể đại diện, (Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn  
dịch, 2007), Nxb. Tri thức, Hà Nội, tr.171-172  
2 Nguyễn Đăng Dung (2014), “Nội dung các quy định về Quốc hội trong Hiến pháp năm  
2013”, Bình luận khoa học Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013, Nxb. Lao động  
xã hội, Hà Nội, tr.333.  
20 I VĂN PHÒNG QUỐC HỘI - VIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ PHÁP LUẬT  
1.2 Sự hình thành chức năng giám sát của cơ quan dân cử ở  
Việt Nam  
Có thể khẳng định rằng chủ thuyết về hoạt động giám sát của cơ  
quan dân cử ở Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với quá  
trình hình thành và phát triển chủ thuyết tổ chức quyền lực nhà nước.  
Về chủ thuyết tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam, cùng với  
những biến động của lịch sử, nội dung của chủ thuyết cũng có những  
sự thay đổi. Tuy nhiên, có một số nguyên tắc mang tính chất bất biến  
trong chủ thuyết ấy đó là việc tổ chức quyền lực nhà nước phải đảm  
bảo đúng nguyên tắc chủ quyền của nhân dân, tức là mọi quyền lực  
đều thuộc về nhân dân, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hình  
thức chính thể của nhà nước ta phải là chính thể cộng hòa trong đó,  
Quốc hội, cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu nên được coi là cơ  
quan quyền lực nhà nước cao nhất. Trên con đường vừa tìm tòi và  
tổng kết thực tiễn, đặc biệt là sau hàng chục năm kiên trì thực hiện  
đường lối đổi mới, kể từ Đại hội IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã  
định hình được mô hình phát triển đất nước rất quan trọng. Mô hình  
đó, về mặt kinh tế là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ  
nghĩa và về mặt tổ chức bộ máy nhà nước là nhà nước pháp quyền  
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Như vậy, có thể coi, chủ  
thuyết tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay chính là chủ  
thuyết xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do  
dân và vì dân.  
Chủ thuyết giám sát của cơ quan dân cử là một bộ phận của chủ  
thuyết tổ chức quyền lực nhà nước, vì thế, chủ thuyết về hoạt động  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 168 trang Thùy Anh 11680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải pháp (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_hoat_dong_giam_sat_cua_co_quan_dan_cu_o_viet_nam_va.pdf