Vấn đề chủ thể của luật thương mại năm 2005 và đề xuất phương hướng sửa đổi trong thời gian sắp tới
VẤN ĐỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005 VÀ ĐỀ XUẤT
PHƯƠNG HƯỚNG SỬA ĐỔI TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI
ThS Nguyễn Việt Khoa1
Tóm tắt: Chủ thể LTM là vấn đề cơ bản để phân biệt loại hợp đồng chịu sự điều
chỉnh của hợp đồng thương mại hay hợp đồng dân sự, LTM năm 2005 nhiều lần được
lên kế hoạch sửa đổi.Tuy nhiên vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau là có nên giữ hay thay
đổi, một trong những vấn đề tranh cãi là là tiếp tục giữ Luật Thương mại hay thay thế
bằng văn bản khác hoặc quy định luôn hoạt động thương mại do Bộ Luật Dân sự( năm
2015) điều chỉnh để thống nhất chung, một trong những vấn đề là yếu tố chủ thể. Nhằm
đưa thêm một góc nhìn để ban soạn thảo, các nhà làm luật xem xét, tác giả có một số ý
kiến về chủ thể LTM.
1. Quy định của Luật Thương mại năm 2005 về chủ thể của Luật Thương mại, và
kinh nghiệm các nước trên thế giới;
Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 (sau đây viết tắt Luật TM) thì
chủ thể của Luật TM gồm 2 nhóm chủ thể chính là thương nhân; tổ chức và cá nhân
liên quan đến hoạt động thương mại2 Trong đó:
Thứ nhất, nhóm chủ thể “Thương nhân” là một trong các khái niệm cơ bản và là
chủ thể chính của luật thương mại, vì một quan hệ pháp luật thương mại chỉ được xác
lập khi có sự tham gia của ít nhất một bên là thương nhân. Theo Điều 6 Luật TM3
thương nhân đã được định nghĩa cơ bản. Theo đó, về mặt ngôn từ Khoản 1 Điều 6 Luật
TM tuy không quy định theo cách định nghĩa khái niệm, nhưng nội hàm đã chứa đầy
đủ các yếu tố nội dung của một định nghĩa khái niệm, vì vậy có thể xem điều khoản này
là một định nghĩa khái niệm thương nhân. Theo đó, cá nhân và tổ chức kinh tế có thể
trở thành thương nhân theo quy định pháp luật. Tổ chức kinh tế phải được thành lập
hợp pháp, có thể ví dụ như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp
danh, doanh nghiệp tư nhân,... Thương nhân là cá nhân phải có đầy đủ năng lực hành
1 Khoa Luật, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM (UEH)
2 Điều 2 Luật số 36/2005/QH11 (2005), Luật thương mại
3 Điều 6 Luật Thương mại 2015
9
vi dân sự, ở đây là chủ hộ của hộ kinh doanh. Đồng thời, tổ chức kinh tế và cá nhân còn
cần thỏa mãn ba điều kiện:
(1) Phải hoạt động thương mại một cách độc lập về mặt pháp lý, tức là Cá nhân
hay tổ chức đó phải tham gia vào hoạt động thương mại với và là chủ thể độc lập theo
quy định pháp luật;
(2) Hoạt động thương mại có tính thường xuyên. Tính thường xuyên ở đây không
được hiểu theo nghĩa ngôn ngữ thông thường mà cần hiểu dưới khía cạnh pháp lý: chỉ
cần thương nhân còn tồn tại, chưa bị phá sản, giải thể hay tạm ngừng hoạt động thì vẫn
thoả điều kiện này. Đối với cá nhân, được hiểu là cá nhân hoạt động thương mại làm
nghề nghiệp chính của mình và tạo ra thu nhập. Đối với tổ chức kinh tế, mục đích thành
lập đã bao hàm cả tính thường xuyên. Vì vậy yêu cầu về tính thường xuyên kéo theo hệ
quả pháp lý nhất định, đó là trường hợp thương nhân muốn tạm ngừng hoạt động doanh
nghiệp hay hộ kinh doanh, tổ chức kinh tế khi vượt quá thời hạn luật định, thì phải thông
báo bằng văn bản đến cơ quan quản lý khi tạm ngừng hoạt động.
(3) Cá nhân, tổ chức kinh tế đăng ký kinh doanh: đối với doanh nghiệp thể hiện
qua Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đối với hộ kinh doanh hay cá nhân/một nhóm
người/hộ gia đình là Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh (hoặc các giấy chứng
nhận có giá trị tương đương). Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận
đăng ký hộ kinh doanh có thể được xem là giấy “khai sinh” ra thương nhân.
Điều 7 Luật TM quy định, thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh, kể cả
trong trường hợp không đăng ký kinh doanh thì thương nhân vẫn chịu các trách nhiệm
về mọi hoạt động của mình. Tuy nhiên việc quy định như hiện tại có sự mâu thuẫn với
định nghĩa về thương nhân của Điều 6 Luật TM. Vì trong Điều 6 LTM đã xác định rằng
thương nhân là tổ chức cá nhân đăng ký kinh doanh.
Các nước trên thế giới có các tiêu chí đơn giản nhưng thể hiện rõ bản chất của
thương.
- Luật thương mại Cộng hòa Pháp quy định thương nhân là: “Người thực hiện
những hành vi thương mại và đó là nghề nghiệp thường xuyên của họ”.
10
- Theo Bộ luật Thương mại Hoa Kỳ: có 3 loại hình thương nhân chủ yếu là cá
nhân kinh doanh (sole propration), cꢀng ty đối nhân (partnership) và cꢀng
ty đối vốn (corporation)”.
Các nước khác còn quy định thương nhân cần thực hiện hành vi hay hoạt động
thương mại nhân danh mình và vì lợi ích của thương nhân. Việc xác định điều kiện trở
thành thương nhân của các nước thường dựa trên yếu tố là thực hiện hoạt động thương
mại.
Hai là, Tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thương mại. Bao gồm:
- Tổ chức, cá nhân khꢀng đăng ký kinh doanh
Tổ chức, cá nhân không đăng ký kinh doanh, có thể tham gia vào quan hệ thương
mại và trở thành chủ thể của Luật TM.
- Cơ quan đăng ký kinh doanh
Cơ quan đăng ký kinh doanh là cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh khác. Và cũng là nơi tiến hành các thủ
tục đăng ký thành lập, thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh,
đăng ký tạm ngừng hay chấm dứt hoạt động kinh doanh,...
- Cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chuyên ngành
Nhằm quản lý nhà nước về kinh tế, thương nhân phải thực hiện các nghĩa vụ theo
quy định của cơ quan quản lý chuyên ngành. Ví dụ: thực hiện các thủ tục về đảm bảo
điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm; thực hiện các thủ tục về đảm bảo điều kiện kinh
doanh tại cơ quan công an khi kinh doanh các ngành, nghề phải đảm bảo điều kiện về
an ninh, trật tự; thực hiện các thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan khi thực hiện hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu...
- Tổ chức, cá nhân thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp thương mại của
thương nhân
Khi giải quyết tranh chấp hoạt động thương mại, Toà án, tổ chức trọng tài, hoà
giải viên (khi thực hiện hoà giải thương mại), trọng tài viên của hội đồng trọng tài vụ
việc được coi là chủ thể của Luật TM. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các tổ chức, cá nhân
11
này với tư cách là chủ thể của Luật TM phụ thuộc vào việc có tranh chấp thương mại
xảy ra hay không? Số lượng vụ tranh chấp nhiều hay ít và thương nhân của vụ tranh
chấp lựa chọn cách thức nào để giải quyết tranh chấp xảy ra giữa họ?
2. Mối quan hệ của Luật TM và Bộ luật Dân Sự về chủ thể.
Dù hiểu từ góc độ một ngành luật hay lĩnh vực pháp luật thì giữa Bộ luật dân sự
và Luật TM cũng chỉ có sự độc lập tương đối và giữa chúng tồn tại mối quan hệ giữa
luật chung và luật riêng. Luật TM và Bộ luật dân sự đều điều chỉnh các mối quan hệ tài
sản hình thành trên cơ sở quyền tự do thỏa thuận của chủ thể, đồng thời, đều quy định
về tư cách chủ thể trong giao dịch.
Trên cơ sở các quy định chung của Bộ luật dân sự (sau đây viết tắt là BLDS),
Luật TM quy định bổ sung hoặc chi tiết hóa phù hợp với đặc thù của giao dịch thương
mại có nhằm sinh lợi và đặc thù đối với các chủ thể là thương nhân - tổ chức, cá nhân
dùng hoạt động thương mại là hoạt động chính và lấy việc sinh lợi làm mục tiêu hàng
đầu.
Trong mối quan hệ với BLDS, Luật TM là luật riêng, tức là Luật TM có ý nghĩa
bổ sung hoặc cụ thể hoá các quy định của pháp luật dân sự. Phương pháp xây dựng
pháp luật theo mô hình này đã có nguồn gốc từ xa xưa (lex specialis và lex generalis).
Trong quá trình áp dụng, luật riêng bao giờ cũng được áp dụng trước, đối với những
vấn đề mà luật riêng không điều chỉnh thì áp dụng các quy định của luật chung. Hiện
nay, nguyên tắc này được thể hiện khá rõ nét trong pháp luật Việt Nam. Điều 4 Luật
TM nêu rõ nguyên tắc áp dụng Luật TM và pháp luật có liên quan, theo đó, hoạt động
thương mại cần tuân theo Luật TM và pháp luật có liên quan. Nếu hoạt động thương
mại không được quy định trong Luật TM hay pháo luật có liên quan thì áp dụng quy
định của Bộ luật Dân sự.
Mối quan hệ về chủ thể giữa Luật TM và Luật Dân sự trong pháp luật Việt Nam
thể hiện thông qua những khía cạnh cơ bản như sau:
- Một là, Bộ luật Dân sự là văn bản quy phạm về nghĩa vụ và hợp đồng, không
có sự phân biệt chủ thể (kinh doanh hay không kinh doanh) và mục đích (lợi nhuận hay
phi lợi nhuận) trong quy định về hợp đồng dân sự. Luật TM khi quy định về hoạt động
thương mại, chủ yếu chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch
thương mại. Không quy định các vấn đề pháp lý về hợp đồng như: giao kết hợp đồng,
12
hiệu lực của hợp đồng, đảm bảo ký kết và thực hiện hợp đồng,... Các vấn đề này sẽ thực
hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.
- Hai là, Bộ luật Dân sự quy định về cá nhân, pháp nhân, năng lực hành vi và
năng lực pháp luật, uỷ quyền và đại diện, chấm dứt pháp nhân,... Pháp Luật TM quy
định quy chế thương nhân dành cho tổ chức và cá nhân kinh doanh. Bên cạnh các quy
định riêng này của Luật TM, các quy định chung của Luật Dân sự vẫn có hiệu lực áp
dụng với mọi tổ chức, cá nhân, bao gồm cả tổ chức, cá nhân kinh doanh.
Yếu tố chủ thể sẽ quyết định loại hợp đồng là dân sự hay hợp đồng thương mại,
đồng thời sẽ quyết định chế tài được áp dụng theo BLDS hay LTM.
3. Vận dụng yếu tố chủ thể trong ký kết hợp đồng Thương Mại
Luật TM năm 2005 được ban hành và áp dụng là sự bắt nguồn của định nghĩa
mới trong thực tế hoạt động kinh doanh về “hợp đồng thương mại”. Pháp luật nước ta
vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể về hợp đồng thương mại mà chỉ định nghĩa cơ bản
của hợp đồng tại Bộ luật dân sự.“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”4. Đây được xem là định nghĩa cơ
bản của hợp đồng nói chung, gồm hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh và hợp đồng
trong lĩnh vực thương mại.
Ngoài ra, có ý kiến cho rằng không nên sử dụng khái niệm trên vì lo ngại nó sẽ
gây ra hệ quả xấu khi tìm kiếm sự khác nhau giữa hợp đồng thương mại và hợp đồng
dân sự. Thực tiễn kinh doanh hiện nay, khái niệm này vẫn được sử dụng phổ biến mang
ý nghĩa là hợp đồng trong lĩnh vực thương mại. Định nghĩa về “hợp đồng thương mại”
đã xuất hiện trong hoạt động pháp lý, kinh tế và được hiểu là hợp đồng hình thành trong
lĩnh vực thương mại”.
Theo đó, bản chất chung của hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận để xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ trong hoạt động thương mại. Nhưng cần
lưu ý rằng, hợp đồng thương mại có các đặc điểm khác biệt bắt nguồn từ các điều kiện
của hoạt động thương mại. Theo đó, hợp đồng thương mại có các các đặc điểm sau:
Thứ nhất, ít nhất một bên chủ thể trong hợp đồng thương mại là thương nhân.
4 Theo Điều 385 BLDS năm 2015
13
Căn cứ Luật TM 2005, thương nhân có thể là: tổ chức kinh tế hoặc cá nhân hoạt
động thương mại. Phụ thuộc vào loại hợp đồng thương mại mà thương nhân khi giao
kết hợp đồng phải là hai bên chủ thể (như hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp
đồng đại lý thương mại, hợp đồng khuyến mại…) hoặc chỉ cần một chủ thể là thương
nhân (như hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng môi giới thương mại, …).
Nguyên nhân có sự khác biệt này là vì, để thực hiện hoạt động thương mại thì
chủ thể hợp đồng phải đáp ứng các yêu cầu nhất định về tư cách pháp lý, nguồn vốn và
các điều kiện mang tính nghề nghiệp để chủ thể đủ khả năng tham gia hoạt động thương
mại độc lập, thường xuyên. So với các giao dịch dân sự thì ảnh hưởng của hoạt động
thương mại đối với nền kinh tế - xã hội ở chừng mực nhất định vẫn còn sự khác nhau.
Dẫn đến phương thức quản lý hoạt động thương mại của Nhà nước cần có những điểm
khác biệt. Việc quản lý của Nhà nước được thể hiện ở quy định điều kiện tham gia hoạt
động thương mại của các chủ thể. Theo đó, các tổ chức, cá nhân có hoạt động thương
mại phải đăng ký hoạt động với tư cách pháp lý là thương nhân.
Tương ứng với các quy định BLDS, “chủ thể quan hệ dân sự là cá nhân hoặc
pháp nhân”. Theo đó, khi giao kết hợp đồng thương mại thì thương nhân chỉ có tư cách
là cá nhân hoặc pháp nhân. Ngoài ra, còn các thương nhân nhưng không có tư cách
pháp nhân là: hộ kinh doanh hoặc tổ hợp tác thì thành viên của hộ kinh doanh hay tổ
hợp tác sẽ là chủ thể hợp đồng thương mại.
Thứ hai, hoạt động thương mại mang tính nghề nghiệp của thương nhân gắn
liền với hợp đồng thương mại, do đó mục đích hợp đồng thương mại thường gắn với
việc sinh lời.
Điều này bắt nguồn và gắn liền với các đặc điểm về chủ thể của hợp đồng thương
mại. Thực tiễn cho thấy, thương nhân vì mục đích sinh lợi mà thực hiện hoạt động
thương mại. Nhưng, trong một số trường hợp, một bên chủ thể của hợp đồng thương
mại không vì mục đích sinh lợi như hợp đồng được giao kết giữa thương nhân với các
tổ chức hoặc cá nhân khác.
4. Định hướng sửa đổi chủ thể Luật Thương mại
Luật TM năm 2005 đến nay đã được áp dụng trên thực tế hơn 16 năm. Là một
thời gian khá dài đối với việc điều chỉnh một quan hệ phát triển và thay đổi nhanh chóng
như quan hệ thương mại. Trên thực tế, quá trình áp dụng đã cho thấy một số vấn đề hạn
14
chế, bất cập của luật này. Hơn nữa, đây là luật hỗ trợ cho BLDS điều chỉnh sâu hơn vào
những vấn đề thương mại nhưng lại có những quy định mâu thuẫn với BLDS. Không
chỉ có nhiều quy định bất cập, mà đến nay đã có nhiều điều Luật TM trở nên lỗi thời,
không còn phù hợp với các quan hệ xã hội hiện tại mà vẫn chưa bị bãi bỏ.
Sắp tới, các nhà làm luật nên xem xét, bổ sung các thiếu sót hoặc hạn chế được
quy định trong Luật TM năm 2005:
Một là, phạm vi điều chỉnh của Luật TM bao gồm: “Hoạt động không nhằm mục
đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không
nhằm mục đích sinh lợi chọn áp dụng Luật TM”5. Quy định này pháp luật nhằm bảo vệ
quyền lợi cho bên yếu thế thường là cá nhân khi tham gia hoạt động thương mại với
thương nhân.
Thêm vào đó, một số nguyên tắc của Bộ luật dân sự khi các luật liên quan điều
chỉnh hay quy định về mối quan hệ dân sự thì không được khác là “Mọi cá nhân, pháp
nhân đều bình đẳng, khꢀng được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử” và “Cá nhân,
pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự
do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận”. Việc Luật TM “ưu ái” cho chủ thể không là thương
nhân được quyền lựa chọn pháp luật áp dụng và buộc bên còn lại phải tuân thủ theo luật
thương mại là “khꢀng bình đẳng”, có sự “phân biệt đối xử” và đang vi phạm các
nguyên tắc của Bộ luật Dân sự.
Điều này ra đời nhằm bảo vệ chủ thể hoạt động không vì mục đích sinh lợi.
Nhưng liệu chủ thể này có hiểu được các quy định của Luật TM để lựa chọn không?
Trường hợp, họ chọn Luật TM áp dụng mà không biết rằng việc áp dụng chúng sẽ mang
lại bất lợi. Điều này có thể coi là “rủi ro” của chủ thể được quyền lựa chọn không6?
Hai là, cần mở rộng, quy định rõ hơn về đối tượng áp dụng và phạm vi điều
chỉnh của Luật TM 2005. Theo quy định của Luật TM thì đối tượng của Luật TM 2005
là: “Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại và tổ chức, cá nhân khác hoạt động
có liên quan đến thương mại”7. Điều này vẫn không thể hiện được mối quan hệ của các
chủ thể hoạt động thương mại. Do đó, Nghị định 39/2007/NĐ-CP đã được ban hành và
5 Khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại 2005
6
Nguyễn Thị Sương (2021), Những điểm mâu thuẫn của Luật TM 2005 và Bộ luật Dân sự 2015, truy cập tại
7 Điều 2 Luật Thương mại 2005
15
tồn tại song song nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại của các cá nhân thực hiện hoạt
động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh. Điều
này tạo nên sự chồng chéo, phức tạp của hệ thống pháp luật về thương mại vì xét về
bản chất thì chủ thể này cũng là chủ thể của quan hệ thương mại nên hoàn toàn có thể
áp dụng Luật TM.
Ngoài ra, quy định “tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương
mại” không được minh bạch và cũng chưa có các hướng dẫn cụ thể. Do đó, Luật TM
nên bổ sung các đối tượng áp dụng và quy định cụ thể hơn về tổ chức, cá nhân có hoạt
động liên quan đến thương mại. Việc bổ sung đối tượng là cần thiết với thực tiễn, cũng
như phù hợp với quy phạm pháp luật khác có liên quan.
Ba là, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung định nghĩa về thương nhân. Theo khoản
1 Điều 6 Luật TM 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp
pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký
kinh doanh”. Với quy định này, các cá nhân hoạt động thương mại một cách thường
xuyên sẽ là dấu hiệu nhận diện của thương nhân. Điều này không còn phù hợp với thực
tế hiện nay khi có các cá nhân hoạt động thương mại ở “khu vực phi chính thức” vì mục
đích sinh lợi nhưng hoạt động không liên tục như: bảo hiểm, buôn bán bất động sản,
buôn bán xe con, xe cơ giới,…
Ngoài ra, yêu cầu thương nhân phải đăng ký kinh doanh đã không còn phù hợp
với thực tiễn cũng như pháp luật của các quốc gia khác. Hiện chỉ còn một số quốc gia
trong đó có Việt Nam định nghĩa thương nhân theo cách thức quản lý nhà nước, thay
cho cách thức định nghĩa trên đặc tính hoạt động thương mại của thương nhân. Dẫn đến
sự phân biệt giữa các chủ thể là thương nhân với các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt
động thương mại nhưng không đăng ký kinh doanh.
Không chỉ thế, mặc dù coi “có đăng ký kinh doanh” là dấu hiệu nhận diện thương
nhân, nhưng ngay tại Điều 7 Luật TM 2005 lại quy định: “Thương nhân có nghĩa vụ
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh,
thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của
Luật này và quy định khác của pháp luật”. Với quy định này, có thể hiểu Luật TM 2005
vẫn chấp nhận các tổ chức, cá nhân là thương nhân ngay cả khi những chủ thể này
không đăng ký kinh doanh. Để giảm các hạn chế này, các nhà làm luật nên đưa ra định
nghĩa cụ thể về “thương nhân” theo hướng chỉ quy định bản chất của thương nhân nhằm
16
đảm bảo mở rộng phạm vi áp dụng của Luật TM đến tất cả các chủ thể kinh doanh trong
xã hội8.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Thương mại Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code -1990).
2. Cao Thanh Huyền (2020), Một số giải pháp hoàn thiện Luật Thương mại 2005 trong
giai đoạn Việt Nam hiện nay.
3. Doãn Hồng Nhung- Báo cáo rà soát LTM 2005( 2011).
4. Dương Anh Sơn (2016), Một vài góp ý về Luật Thương mại năm 2005.
5. Hoàn thiện quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại ở Việt Nam. (2021).
Retrieved
9
November
2021,
from
6. Lê Văn Tranh (2020), Thương nhân theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp.
7. Luật số 36/2005/QH11 (2005), Luật thương mại.
8. Luật số 91/2015/QH13 (2015), Bộ luật dân sự.
9. Luật thương mại Cộng hòa Pháp
10. Nguyễn Thị Sương (2021), Những điểm mâu thuẫn của Luật Thương mại năm 2005
và Bộ luật Dân sự năm 2015.
11. Ngô Việt Hòa (2011), Bình luận về Luật thương mại.
12. Nguyễn Việt Khoa (2012), Chế tài Luật Thương mại, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.
8 Cao Thanh Huyền (2020), Một số giải pháp hoàn thiện Luật TM 2005 trong giai đoạn Việt Nam hiện nay.
17
13. TS. Nguyễn Thị Dung (2020). Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư -
Những vấn đề pháp lý cơ bản, NXB. Chính Trị Quốc Gia Sự Thật:Hà Nội
14. Võ Nhật Thăng (2011), Báo cáo góp ý LTM năm 2005.
15. Ý kiến của góp ý hoàn thiện dự thảo báo cáo về Luật Thương mại của Ls. Võ Thành
Vị
-
VIB Online. (2021). Retrieved
9
November 2021, from
18
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề chủ thể của luật thương mại năm 2005 và đề xuất phương hướng sửa đổi trong thời gian sắp tới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
van_de_chu_the_cua_luat_thuong_mai_nam_2005_va_de_xuat_phuon.pdf

