Đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở MỘT SỐ  
QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM  
POLICY ASSESSMENT IN LEGAL BUILDING IN SOME COUNTRIES AND  
LEARNINGS FOR VIETNAM  
Cao Tiến Đạt  
Nguyễn Thị Thu Uyên  
Trần Thanh Thảo  
TÓM TẮT: Chất lượng lập pháp luôn là một vấn đề quan trọng trong tiến trình  
hoàn thiện hệ thống pháp luật, phục vụ hội nhập quốc tế ở Việt Nam. Trong hoạt động  
xây dựng pháp luật, đánh giá chính sách là công đoạn quan trọng, mang tính quyết  
định nội hàm chính sách của văn bản quy phạm pháp luật. Tại Việt Nam, đánh giá  
chính sách đã được luật hóa trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015.  
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai quy định này trên thực tế, vẫn còn nhiều vướng  
mắc, bất cập cần phải tiếp tục điều chỉnh, bổ sung. Bài viết khảo sát kinh nghiệm  
trong đánh giá chính sách phục vụ xây dựng pháp luật ở một số nước tiên tiến như  
Hoa Kỳ, Trung Quốc, Australia, v.v… để đúc kết kinh nghiệm quốc tế, làm cơ sở cho  
việc nâng cao chất lượng, hiệu quả đánh giá chính sách trong quá trình xây dựng, sửa  
đổi luật ở nước ta hiện nay.  
Từ khóa: đánh giá chính sách, xây dựng pháp luật, kinh nghiệm quốc tế.  
ABSTRACT: The legislative quality is a significant issue in the improvement of  
the legal system and international integration process. In law-making activities, policy  
evaluation is a decisive step that guarantees the content of legal policy documents. In  
Vietnam, policy assessment has been codified in the Law on Promulgation of Legal  
Documents 2015. However, many obstacles and inadequacies still need to be further  
adjusted and supplemented in practice. This paper examines the experiences in the  
policy assessment process of developed countries such as the United States, China,  
Australia, etc., to draw international lessons to improve the effectiveness of policy  
evaluation of Vietnamese law formulation and amendment process.  
Lớp 4432 ngành Luật Chất lƣợng cao, Đại học Luật Hà Nội;  
 Lớp K62B ngành Luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội;  
 Lớp 4432 ngành Luật Chất lƣợng cao, Đại học Luật Hà Nội; Email: [email protected]  
272  
Keywords: policy evaluation, legislation, international experiences  
1. Đặt vấn đề  
Trong hầu hết các nền lập pháp hiện đại, quy trình xây dựng pháp luật đƣợc tổ  
chức thành hai công đoạn chính là: (i) công đoạn xây dựng, đánh giá chính sách của  
luật, và (ii) công đoạn quy phạm hóa chính sách thành văn bản quy phạm pháp luật.  
Công đoạn thứ nhất mang tính chính trị cao, nhằm xác định và tối ƣu hóa các vấn  
đề chính sách của luật nhƣ: Mục đích, mục tiêu, đối tƣợng, hình thức, phƣơng pháp  
điều chỉnh của luật; nội dung, phạm vi điều chỉnh, tác động, ảnh hƣởng của luật; các  
vấn đề về nguồn lực, tính khả thi, giải pháp thực hiện mục tiêu của luật, v.v… Công  
đoạn có sự tham gia rộng rãi của nhiều chuyên gia trong các ngành, lĩnh vực mà dự  
thảo văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, nhằm xác định chính sách phù hợp để  
điều chỉnh vấn đề mà dự thảo quy định.  
Công đoạn thứ hai mang tính kỹ thuật, thƣờng đƣợc giao cho một hoặc một số cơ  
quan chuyên môn thực hiện nhƣ Bộ Tƣ pháp hoặc đơn vị chủ trì soạn thảo luật đảm  
nhiệm. Công đoạn này thƣờng do các luật gia, những công chức nhà nƣớc có trình độ  
và đƣợc đào tạo bài bản về pháp luật thực hiện, nhằm đảm bảo chất lƣợng của văn bản  
dƣới góc độ kỹ thuật lập pháp.  
Việc phân chia thành hai công đoạn nhƣ vậy nhằm đảm bảo luật là ý chí chung  
của nhân dân, sự ổn định, tính toàn diện, đồng bộ, đầy đủ và hệ thống của luật; đồng  
thời đáp ứng tính chuyên môn sâu của kỹ thuật lập pháp. Cũng từ đây, có thể thấy  
rằng: Việc xây dựng, đánh giá chính sách giữ vai trò quyết định chất lƣợng của văn  
bản. Suy cho cùng, pháp luật chỉ là sự thể hiện của nội hàm chính sách bên trong.  
2. Quy định về đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam  
2.1. Đánh giá chính sách và vai trò của đánh giá chính sách trong xây dựng pháp  
luật  
2.1.1. Khái niệm, bản chất của đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật  
Ở Việt Nam, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (LBHVBQPPL  
2015) chế định quy trình xây dựng, đánh giá chính sách trƣớc khi soạn thảo VBQPPL  
theo hƣớng tách bạch với quy trình soạn thảo văn bản. Nghị định 34/2016/NĐ-CP đã  
cụ thể hóa quy trình xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của  
273  
Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội gồm 06 bƣớc mà trong đó, quan trọng bao gồm: Xây dựng  
nội dung chính sách (Điều 5) và Đánh giá tác động của chính sách (Điều 6). Quy định  
này thể hiện sự khẳng định của Việt Nam về vai trò quan trọng của đánh giá chính  
sách trong xây dựng hoặc sửa đổi luật.  
Nghị định 34 giải thích thuật ngữ “chính sách” nhƣ sau: “Chính sách là định  
hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục  
tiêu nhất định”. Theo đó, để có thể quyết định có nên đƣa chính sách vào áp dụng  
trong thực tiễn hay không (dƣới hình thức văn bản quy phạm pháp luật) thì cần có hoạt  
động phân tích, đánh giá chính sách. Khi đó, đánh giá tác động của chính sách đƣợc  
hiểu là: hoạt động của nhà làm luật nhằm phân tích, dự báo tác động của chính sách  
đang được xây dựng đối với các nhóm đối tượng khác nhau nhằm lựa chọn giải pháp  
tối ưu thực hiện chính sách. Theo Lê Văn Hòa “đánh giá chính sách công là xem xét  
khách quan và có hệ thống về một chính sách đang được thực hiện hoặc đã hoàn  
thành để xác định tính thích hợp, hiệu lực, hiệu quả, tác động và tính bền vững của  
nó”1. Việc đánh giá chính sách nói chung sẽ phải trả lời các câu hỏi: Điều gì đang diễn  
ra? Điều gì cần phải diễn ra? Sự can thiệp sẽ tạo ra hậu quả gì? Là một dạng thức của  
đánh giá chính sách công, đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật cũng yêu cầu  
xem xét thực trạng vấn đề bao gồm cả hiện tƣợng xã hội và chính sách trƣớc đó, cân  
nhắc mục tiêu, lợi hại và quyết định có nên ban hành chính sách mới hay không? Nếu  
có thì chính sách mới phải nhƣ thế nào? VBQPPL mới hoặc sửa đổi sẽ có diện mạo ra  
sao?...  
2.1.2. Vai trò của đánh giá chính sách trong xây dựng, sửa đổi luật  
Đánh giá chính sách là việc đo lƣờng kết quả hoặc tiến trình hoạt động của chính  
sách, thông qua việc đánh giá chính sách có thể xác định đƣợc mức độ hiệu quả, hợp  
lý của chính sách trong hiện tại cũng nhƣ về lâu dài. Nhà nƣớc thông qua đánh giá  
chính sách để thu thập thông tin quản lý, hƣớng dẫn các nguồn lực và có biện pháp can  
thiệp chính sách kịp thời, hợp lý. Mặt khác, đánh giá chính sách giúp các nhà khoa học  
và quản lý “rút ra bài học về thiết lập chương trình hoạch định chính sách về bản chất  
1 Lê Văn Hòa, Giám sát và đánh giá chính sách công, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2016,  
(tr.19)  
274  
của các vấn đề chính sách công và các giải pháp giải quyết”2. Chỉ khi hoạt động xây  
dựng nội dung chính sách, đánh giá tác động của chính sách đạt đƣợc hiệu quả cần có  
thì chất lƣợng của VBQPPL mới đƣợc đảm bảo (giải quyết đƣợc nhu cầu thực tiễn, có  
tính bền vững, tuổi thọ cao, không làm phát sinh vƣớng mắc pháp lý khác…)  
2.2. Nội dung đánh giá chính sách  
Nội dung của đánh giá chính sách là việc nhìn lại tổng thể các những vấn đề cơ  
bản của chính sách nhƣ: Nhu cầu, đối tƣợng, mục đích, mục tiêu của chính sách;  
nguồn lực, giải pháp, kết quả, hiệu quả chính sách; tính khả thi, tính hệ thống và tác  
động của chính sách. Các phƣơng thức, thủ tục, quy trình, biện pháp…để thực hiện  
chính sách mà cụ thể là đánh giá về kỹ thuật lập pháp, lập quy, quy trình kiến nghị,  
hoạt động điều tra số liệu thực tế… Đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật  
trƣớc hết là đánh giá các yếu tố đầu vào, tức là đo lƣờng các yếu tố vật chất nhƣ nguồn  
nhân lực, kỹ thuật, phƣơng tiện, chi phí, thời gian …để tạo đƣợc cơ sở dữ liệu cần thiết  
cho đánh giá đƣợc/ mất của chính sách cũng nhƣ chất lƣợng dịch vụ công mà chính  
sách cung cấp thông qua các hình thức khác nhau, bao gồm văn bản quy phạm pháp  
luật. Ngƣợc lại, đánh giá đầu ra của chính sách là việc xem xét hiệu quả của chính sách  
dựa trên hệ số giữa kết quả/ tổng các nguồn lực đầu vào trong mối tƣơng tác với những  
yếu tố ảnh hƣởng. Đánh giá chính sách còn bao gồm đánh giá kết quả thực hiện chính  
sách, tức là đánh giá dựa trên kết quả đạt đƣợc/mục tiêu đề ra, thông qua sự so sánh  
mà rút ra những khuyến nghị, thay đổi phù hợp. Một nội dung quan trọng khác là đánh  
giá hiệu quả của chính sách, việc này yêu cầu phải lƣợng hóa đƣợc kết quả (điều rất  
khó trong xây dựng pháp luật) và so sánh nó với chi phí đầu vào, tính ra phần vốn hiệu  
quả/vốn lãng phí/tổng vốn bỏ ra. Vì vậy, đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật  
cần sự đầu tƣ công sức và thời gian của các nhà làm luật, hoạch định chính sách và sự  
tham vấn cộng đồng rộng rãi.  
2.3. Quy trình đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật  
Theo quy định của LBHVBQPPL 2015 và Nghị định số 34, đánh giá chính sách  
trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam gồm các công đoạn sau:  
2
PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải, Chính sách công - Những vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia – Sự  
thật, Hà Nội, 2014, (tr.320)  
275  
Bƣớc 1. Xác định vấn đề bất cập, bao gồm: Xác định hiện trạng của vấn đề; xác  
định những ảnh hƣởng, hậu quả của vấn đề bất cập; nguyên nhân của vấn đề bất cập.  
Bƣớc 2. Xác định mục tiêu: Xác định mục tiêu cần hƣớng tới giải quyết những  
nguyên nhân chính của bất cập, giải quyết đƣợc thực tiễn mà Nhà nƣớc hƣớng tới  
trong thời gian trƣớc mắt hoặc lâu dài, hạn chế hoặc giảm thiểu tác động tiêu cực đối  
với đối tƣợng chịu tác động hoặc chịu trách nhiệm tổ chức thi hành chính sách, pháp  
luật.  
Bƣớc 3. Lựa chọn các phƣơng án giải quyết vấn đề bất cập: Trên cơ sở thông tin  
về hiện trạng, nguyên nhân của vấn đề bất cập, nhà hoạch định chính sách sẽ đề xuất  
các phƣơng án khác nhau: Phƣơng án giữ nguyên hiện trạng; phƣơng án sử dụng biện  
pháp can thiệp gián tiếp (phi truyền thống); phƣơng án can thiệp trực tiếp bằng pháp  
luật.  
Bƣớc 4. Đánh giá tác động của các phƣơng án: Theo quy định tại Điều 6, Nghị  
định số 34/2016/NĐ-CP, nội dung của VBQPPL cần đƣợc đánh giá tác động trên  
nhiều phƣơng diện: kinh tế, xã hội, thủ tục hành chính (nếu có), bình đẳng giới (nếu  
có) và tác động đối với hệ thống pháp luật.  
Bƣớc 5. Lấy ý kiến góp ý: Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm  
2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định trách nhiệm của cơ quan soạn thảo  
trong việc tổ chức lấy ý kiến đối với dự thảo báo cáo đánh giá tác động chính sách.  
3. Nhận xét về đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện  
nay  
3.1. Về khung pháp lý đánh giá chính sách trong Luật Ban hành văn bản quy phạm  
pháp luật 2015, 2020, NĐ 34/2016-CP và NĐ 154-CP của Chính Phủ  
- Về chủ thể đánh giá chính sách: Quy định tại Điều 35, Luật BHVBQPPL 2015.  
Theo đó, chủ thể đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật là cơ quan, tổ chức; cá  
nhân không phải chủ thể độc lập đánh giá chính sách. Trƣờng hợp đề nghị xây dựng  
VBQPPL do đại biểu Quốc hội lập thì đại biểu có thể đề nghị Văn phòng Quốc hội,  
Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp… hỗ trợ thực hiện việc  
đánh giá tác động chính sách. Trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét,  
cho ý kiến về dự án luật, pháp lệnh, nếu có chính sách mới đƣợc đề xuất thì cơ quan đề  
xuất chính sách đó có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách.  
276  
- Về đối tƣợng đánh giá: Quy định tại Điều 6, Nghị định 34/2016NĐ-CP và đƣợc  
sửa đổi bổ sung tại Điều 1, Nghị định 154/2020/NĐ-CP, bao gồm: Tác động về kinh  
tế; Tác động về xã hội; Tác động về giới (nếu có); Tác động của thủ tục hành chính  
(nếu có); Tác động đối với hệ thống pháp luật. Nhƣ vậy, đánh giá chính sách trong xây  
dựng pháp luật ở nƣớc ta đặc biệt chú trọng đến đánh giá tác động chính sách, các lĩnh  
vực cần bắt buộc phải đánh giá khi xây dựng pháp luật gồm có: Những tác động về  
kinh tế, xã hội, hệ thống pháp luật. Những tác động thuộc lĩnh vực khác có thể đƣợc  
đánh giá dựa vào những hoàn cảnh cụ thể khi xây dựng pháp luật.  
- Vê phƣơng pháp đánh giá: Điều 7, Nghị định số 34 quy định: “Tác động của  
chính sách đƣợc đánh giá theo phƣơng pháp định lƣợng, phƣơng pháp định tính. Trong  
trƣờng hợp không thể áp dụng phƣơng pháp định lƣợng thì trong báo cáo đánh giá tác  
động của chính sách phải nêu rõ lý do”. Có thể thấy, việc quy định đánh giá tác động  
của chính sách bằng phƣơng pháp định lƣợng là xu thế tất yếu, nhằm đo lƣờng các chỉ  
số và kết quả đầu ra của chính sách một cách khách quan, trung thực; từ đó cung cấp  
số liệu chính xác cho việc phân tích, đánh giá chính sách.  
- Về tiêu chí đánh giá: Tại nghị định 34/2016/NĐ-CP đã nêu ra một số tiêu chí  
đánh giá nhƣ tác động tích cực, tiêu cực,… Tuy nhiên những tiêu chí này còn mang  
tính chất chung chung. Chƣa có quy định cụ thể và hƣớng dẫn chi tiết về các tiêu chí  
đánh giá thuộc các lĩnh vực đƣợc quy định tại điều 6 Nghị định này. Tuy nhiên, trƣớc  
đó tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP đã đƣa ra một số tiêu chí đánh giá tác động về thủ  
tục hành chính gồm: Đánh giá sự cần thiết của thủ tục hành chính; tính hợp lý của thủ  
tục hành chính; tính hợp pháp của thủ tục hành chính; các chi phí tuân thủ thủ tục hành  
chính. Những tiêu chí này đƣợc hƣớng dẫn cụ thể tại thông tƣ 07/2014/TT-BTP.  
3.2. Những bất cập, vướng mắc về đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật ở  
nước ta hiện nay  
Thứ nhất, pháp luật Việt Nam đã bƣớc đầu xác lập hành lang pháp lý về đánh giá  
chính sách. Tuy nhiên những quy định này còn chung chung, thiếu hƣớng dẫn cụ thể.  
Do chƣa có các tiêu chí đánh giá rõ ràng nên việc đánh giá tác động chính sách khi xây  
dựng các văn bản quy phạm pháp luật gặp nhiều khó khăn.  
Thứ hai, kết quả đánh giá tác động chính sách chƣa thực sự đáp ứng đƣợc yêu  
cầu của xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Thực tế hiện nay, có rất ít báo cáo đánh  
277  
giá tác động thực hiện phƣơng pháp định lƣợng đối với các giải pháp chính sách. Đa  
số đề nghị xây dựng luật chƣa có số liệu tính toán để giải trình về việc tăng ngân sách  
nhà nƣớc và các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện các giải pháp này, làm hạn chế  
đến tính khả thi, tính dự báo của nội dung chính sách3. Nguyên do của tình trạng này,  
là do Luật BHVBQPPL 2015 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành vẫn thiếu những quy  
định cụ thể về những tiêu chuẩn trong đánh giá chính sách. Việc thực hiện nghiên cứu  
bằng phƣơng pháp định lƣợng vẫn chỉ mang tính tùy chọn, khuyến nghị, dẫn đến cơ  
quan soạn thảo và thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản không có những cơ sở cần thiết  
để ra quyết định.  
Thứ ba, đánh giá chính sách là một hoạt động mang tính khoa học, là một công  
trình nghiên cứu về tác động của chính sách đối với lĩnh vực đƣợc điều chỉnh. Tuy  
nhiên, trong thực tiễn xây dựng pháp luật, nhiều đơn vị soạn thảo đã làm theo “quy  
trình ngƣợc”: Đề xuất hƣớng sửa đổi trƣớc, rồi mới xây dựng và đánh giá chính sách.  
Điều này dẫn đến hậu quả là việc đánh giá chính sách chỉ nhằm mục đích “minh họa”  
cho định hƣớng sửa đổi, bổ sung văn bản, làm hạ thấp vai trò của đánh giá chính sách.  
Điều này cũng dễ dẫn đến nguy cơ tạo ra “tham nhũng chính sách”, khi cơ quan soạn  
thảo văn bản quy phạm pháp luật sẽ đƣợc hƣởng lợi trực tiếp từ chính sách mà mình  
đề xuất.  
Thứ tư, kinh phí phân bổ cho công tác đánh giá tác động chính sách còn thấp, các  
định mức tài chính chƣa thực sự đáp ứng đƣợc yêu cầu của xây dựng văn bản quy  
phạm pháp luật. Điều này dẫn đến thiếu các điều kiện cần thiết để tổ chức các hội thảo  
khoa học, lấy ý kiến chuyên gia, khảo sát thực tế, v.v… phục vụ xây dựng chính sách.  
4. Kinh nghiệm đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật ở một số quốc gia  
và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam  
4.1. Đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật ở một số quốc gia  
4.1.1. Đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật tại Hoa Kỳ  
- Về chủ thể đánh giá chính sách: Cũng nhƣ các quốc gia khác trên thế giới, tại  
Hoa Kỳ, có nhiều nhóm chủ thể khác nhau tham gia đánh giá tác động chính sách. Ở  
3 Nguyễn Thị Hạnh, “Thực trạng hoạt động đánh giá tác động của chính sách trong quá trình lập đề  
nghị xây dựng luật và giải pháp hoàn thiện”, Chuyên đề thuộc Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tƣ  
pháp “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng luật”, 2020.  
278  
cấp độ liên bang có thể kể đến các chuyên gia tại Cục Quản lý và Ngân sách (OMB)4,  
ở cấp thấp hơn là Hội đồng Cố vấn kinh tế (CEA). Các chuyên gia đánh giá chính sách  
hoạt động ở mọi cơ quan liên bang. Ngoài các nhóm nhân sự nhỏ ra, những ngƣời  
đứng đầu cơ quan thƣờng có văn phòng đánh giá báo cáo trực tiếp với họ.5 Bên cạnh  
đó, hệ thống các tổ chức chuyên nghiệp về phân tích, tƣ vấn, đánh giá chính sách  
ngoài nhà nƣớc (think tank) rất hùng hậu của Hoa Kỳ và các tổ chức xã hội dân sự  
đóng vai trò rất quan trọng trong xây dựng, sửa đổi luật nói chung và đánh giá chính  
sách của luật nói riêng tại quốc gia này. Ngoài ra, ở cấp tiểu bang, Thống đốc và các  
nhân vật đứng đầu chính quyền thƣờng có đội ngũ chuyên gia về đánh giá chính sách,  
phần lớn các tiểu bang đều có văn phòng ngân sách đóng vai trò tƣơng tự nhƣ vai trò  
của OMB ở cấp liên bang.6  
- Về quy trình đánh giá chính sách: Hoa Kỳ là quốc gia có quy trình đánh giá  
chính sách trong hoạt động lập pháp ngắn gọn nhƣng rõ ràng, dễ áp dụng. Quy trình  
này theo các bƣớc: Bƣớc 1. Nhận diện vấn đề; Bƣớc 2. Tìm nguyên nhân của vấn đề;  
Bƣớc 3. Đặt ra mục tiêu và tìm giải pháp; Bƣớc 4. Lập đề án đánh giá chính sách7.  
Điểm nổi bật trong làm luật và chính sách công tại Hoa Kỳ là quy trình xây dựng, thực  
thi chính sách đƣợc thiết kế song song với quy trình giám sát, phản biện chính sách.  
Tạo nên tính công khai, minh bạch và hoạt động phản biện chính sách rất sôi nổi của  
mọi tầng lớp xã hội; từ đó thúc đẩy trách nhiệm và tính tích cực chính trị của công dân.  
- Về phƣơng pháp đánh giá chính sách: Nhìn chung, đánh giá chính sách trong  
xây dựng luật tại Hoa Kỳ sử dụng cả các phƣơng pháp đánh giá định tính và định  
lƣợng, với sự hỗ trợ đắc lực của các công cụ thống kê, tính toán hiện đại. Một trong  
những phƣơng pháp chủ đạo là: Đánh giá dự báo tác động pháp luật (Regulatory  
Impact Assessment - RIA). Ngoài ra, các phƣơng pháp nhƣ: Phân tích chính trị, kinh  
tế, xã hội và kỹ thuật (Politic factors, Economic factors, Social factors, Technological  
factors-PEST); Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (Strengths,  
4 Office of Management and Budget (viết tắt: OMB, tạm dịch: Cục quản lý Hành chính và Ngân sách Hoa Kỳ)  
5
Lucian Pugliaresi và Diane T. Berliner (1989), “Policy Analysis at the Department of State: The Policy  
Planning Staff”, Journal of Policy Analysis and Management, 8 (3) 1989, tr.395-403.  
6 Robert D. Lee, Jr và Raymond J. Staffeld (1977), Executive and Legislative Use of Policy Analysis in the State  
Budgetary Survey Results, Policy Analysis, tr. 395-405.  
7
Centers for Disease Control and Prevention, Office of the Associate Director for Policy and Strategy (2021),  
23h12‟ ngày 21/08/2021.  
279  
Weaknesses, Opportunities, Threats-SWOT); Phân tích chí phí/lợi ích (Cost-Benefit  
Analysis-CBA); Phân tích rủi ro (Risk Analysis-RA)…là các phƣơng pháp thƣờng  
đƣợc các chủ thể đánh giá chính sách tại Hoa Kỳ sử dụng trong quá trình xây dựng  
pháp luật. Yêu cầu về đánh giá chính sách của luật đƣợc quy định trong nhiều đạo luật  
do Quốc hội Mỹ ban hành.8  
4.1.2. Đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật tại Australia  
- Về chủ thể đánh giá chính sách: Ở Australia, ngoài việc các cơ quan thuộc  
Chính phủ, Hội đồng bộ trƣởng và một số cơ quan tiêu chuẩn quốc gia (NSSBs) tham  
gia vào đánh giá chính sách, còn có các cơ quan giám sát đánh giá chính sách (cơ quan  
giám sát chính sách, Văn phòng nội các, các ủy ban giám sát của nghị viện ở năm khu  
vực pháp lý của Australia).9 Ngoài ra, còn có sự tham gia rộng rãi của các tổ chức xã  
hội dân sự, nghiệp đoàn, tổ chức chính trị và các tổ chức đa quốc gia có liên quan. Có  
thể nói, chủ thể đánh giá chính sách trong hoạt động lập pháp ở Australia tƣơng đối đa  
dạng: cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan thuộc Quốc hội và một số cơ quan khác. Đây  
là điểm khá tƣơng đồng với Việt Nam vì quy trình đánh giá chính sách ở nƣớc ta gồm  
cả đại biểu Quốc hội, các bộ thuộc Chính phủ và các chủ thể là pháp nhân khác tham  
gia.  
- Về quy trình đánh giá chính sách: Quy trình này ở Australia gồm các bƣớc:  
Bƣớc 1. Mở đầu; Bƣớc 2. Xác định vấn đề, mục tiêu; Bƣớc 3. Đánh giá tác động của  
tất cả lựa chọn đƣợc đƣa ra; Bƣớc 4. Đƣa ra đề xuất cuối cùng.10 Ở đây, quy trình đánh  
giá chính sách coi tham vấn chính sách là hoạt động quan trọng xuyên suốt trong các  
bƣớc của quá trình. 11  
- Về phƣơng pháp đánh giá chính sách: Tƣơng tự nhƣ Hoa Kỳ, ở Australia, các  
phƣơng pháp đƣợc lựa chọn sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá chính sách của luật  
là các phƣơng pháp định lƣợng nhƣ: RIA12, PEST13, CBA14, SWOT15, RA16…Trong  
8
Fred Anderson el al (2001), “Regulatory Improment Legislation: Risk Assessment, Cost-Benefit Analysis and  
Judical Review”, Duke Enviromental Law and Policy Forum, tr.96-101.  
9
Australian Government – Productivity Commission Research Report, Regulartory Impact analysis:  
Benchmarking, 11/2012, tr.81.  
10 Kate Crowley, Brian Head (2015), Policy analysis in Australia, Nxb. International Library of Policy Analysis,  
tr. 1 – 20.  
11  
Trần Thị Quyên (2019), Đánh giá chính sách trong hoạt động lập pháp của một số nước trên thế  
giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam, luận án tiến sĩ luật học, trƣờng Đại học Luật Hà Nội, tr. 112 –  
120.  
12 Đánh giá dự báo tác động pháp luật (Regulatory Impact Assessment – RIA)  
280  
thực tế, các phƣơng pháp thƣờng đƣợc kết hợp với nhau để đạt hiệu quả tổng hợp cao  
nhất. Chẳng hạn, đánh giá rủi ro thƣờng đƣợc sử dụng kết hợp với kỹ thuật đánh giá  
định lƣợng khác nhƣ: đánh giá chi phí/lợi ích và đánh giá chi phí/ hiệu quả.  
4.1.3. Đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật tại Trung Quốc  
- Về chủ thể đánh giá chính sách: Với thể chế chính trị nhất nguyên và vai trò  
lãnh đạo tuyệt đối của Đảng cộng sản Trung Quốc trong lĩnh vực tƣ pháp, hoạt động  
hoạch định chính sách nói chung và đánh giá chính sách nói riêng bị chi phối bởi sự  
tác động giữa các nhà lãnh đạo đứng đầu của Trung Quốc và các đơn vị, các bộ, các cơ  
quan quyền lực nhà nƣớc. Những cơ quan này đƣợc mô tả là các chủ thể chính trị với  
quyền lực riêng biệt của mình theo đuổi “nhiệm vụ” hoặc “ý thức hệ” riêng của tổ  
chức.17 Vì vậy, ngoài các pháp nhân công quyền thì các chính trị gia có ảnh hƣởng lớn  
ở các đơn vị, nắm giữ chức vụ quan trọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng trở  
thành chủ thể đánh giá quan trọng. Đánh giá chính sách ở Trung quốc cơ bản là đánh  
giá bên trong, do hệ thống chính trị chính thống tự đánh giá là chủ yếu.  
- Về quy trình đánh giá chính sách: Quy trình làm luật của Trung Quốc có thể  
chia thành 5 bƣớc chính, bao gồm: Bƣớc 1. Thiết lập chƣơng trình nghị sự (Agenda –  
setting); Bƣớc 2. Rà soát liên cơ quan (Inter-agency review); Bƣớc 3. Thông qua dự  
thảo tại cơ quan lãnh đạo; Bƣớc 4. Rà soát của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tranh luận  
18  
và thông qua; Bƣớc 5. Thực thi. Theo đó, đánh giá chính sách trong hoạt động lập  
pháp của Trung Quốc xuất hiện chủ yếu ở bốn giai đoạn đầu tiên, đặc biệt là trong giai  
đoạn thiết lập chƣơng trình nghị sự. Đánh giá chính sách ở Trung Quốc gần nhƣ không  
theo quan điểm khoa học phổ biến của thế giới do yếu tố chính trị đã chi phối mạnh  
mẽ quy trình này.  
- Về phương pháp đánh giá chính sách:  
Ở bình diện kỹ thuật, hầu hết các phƣơng pháp đánh giá chính sách định tính và  
định lƣợng phổ biến trên thế giới đều đƣợc áp dụng tại Trung Quốc. Tuy nhiên, do sự  
13 Phân tích chính trị, kinh tế, xã hội và kỹ thuật (Politic factors, Economic factors, Social factors, Technological  
factors - PEST)  
14 Phân tích chí phí/lợi ích (Cost-Benefit Analysis – CBA)  
15 Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức)  
16 Phân tích rủi ro (Risk Analysis - RA)  
17 Murray Scot Tanner (1995), How a Bill Becomes a Law in China: Stages and Processes in Law making.  
18 B. Guy Peters, Yongfei Zhao (2017), “Local policy-making process in China: a case study”, Journal of  
Chinese Governance, 2(5), tr.1 – 22.  
281  
đặc thù của quốc gia này, chiến lƣợc sử dụng phƣơng pháp để đánh giá chính sách  
thƣờng đƣợc quyết định bởi những ngƣời khi cầm quyền, cụ thể là “thƣơng lƣợng”. Sự  
ảnh hƣởng mạnh mẽ của việc phân chia chính quyền theo từng ngành riêng biệt ở  
Trung Quốc khiến việc xây dựng chính sách thông qua các đạo luật để áp dụng phổ  
biến và rộng rãi trong đời sống là một việc không đƣợc ủng hộ19.  
4.2. Nhận xét chung về đánh giá chính sách tại các quốc gia trên  
- Về chủ thể đánh giá chính sách: Hoa Kỳ là một quốc gia điển hình trên thế giới  
quan tâm đặc biệt đến đánh giá chính sách. Do vậy, ở cấp cao nhất của nhánh hành  
pháp có riêng một nhóm các chuyên gia đƣợc bổ nhiệm bởi Tổng thống với chức năng  
tham mƣu chính sách. Ngoài ra, các think tank, các tổ chức nghiệp đoàn và tổ chức xã  
hội dân sự đóng vai trò rất quan trọng trong phân tích, đánh giá chính sách. Tại  
Australia, bóng dáng của nhóm chủ thể ngoài nhà nƣớc không rõ ràng, mặc dù chủ thể  
đánh giá chính sách trong hoạt động lập pháp tại Australia tƣơng đối đa dạng. Trong  
khi tại Trung Quốc, các chủ thể tham gia đánh giá chính sách đều là các pháp nhân nhà  
nƣớc hoặc là các pháp nhân ngoài nhà nƣớc nhƣng đƣợc nhà nƣớc thành lập và nuôi  
dƣỡng.  
- Về quy trình đánh giá chính sách trong hoạt động lập pháp: Khác với Australia  
và Mỹ, hai quốc gia cởi mở trong việc tham vấn chính sách, Trung Quốc có quy trình  
đánh giá chính sách mang tính chính thống, chặt chẽ và khép kín hơn hẳn. Điều này có  
thể là do sự khác biệt ở mô hình lập pháp và văn hóa chính trị tại Trung Quốc.  
- Về phƣơng pháp đánh giá chính sách: Australia và Hoa Kỳ sử dụng phƣơng các  
pháp đánh giá định lƣợng với sự hỗ trợ của các cộng cụ đo lƣờng, thống kê, tính toán  
hiện đại. Cho thấy tính khoa học của phƣơng pháp đƣợc sử dụng cho đánh giá chính  
sách. Vì vậy, Việt Nam nên học tập để cải thiện kỹ thuật sử dụng phƣơng pháp. Tại  
Trung Quốc, phƣơng pháp “Mặc cả/ thƣơng lƣợng” trong đánh giá chính sách có phần  
mang tính chủ quan, thiếu sức thuyết phục, làm giảm chất lƣợng chính sách và hiệu  
lực của VBQPPL trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đây là điểm Việt Nam không  
nên học tập.  
19 Trần Thị Quyên (2019), Đánh giá chính sách trong hoạt động lập pháp của một số nước trên thế  
giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam, luận án tiến sĩ luật học, trƣờng Đại học Luật Hà Nội, tr.129 –  
130.  
282  
4.3. Bài học kinh nghiệm về đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật cho Việt  
Nam.  
- Thứ nhất, đẩy mạnh hoạt động đánh giá chính sách trong hoạt động lập pháp.  
Hoa Kỳ và Australia đều đƣa đánh giá chính sách là giai đoạn bắt buộc trong quy trình  
lập pháp. Điều đó chứng minh tầm quan trọng của đánh giá chính sách. Chính sách là  
một trong những sản phẩm của quá trình quản lý, vì vậy, khi quyết định chính sách,  
chủ thể quản lý cũng cần phải đánh giá và đánh giá đầy đủ những dữ liệu liên quan đến  
chính sách.  
- Thứ hai, đa dạng hóa chủ thể tham gia đánh giá chính sách trong quá trình lập  
pháp và đẩy mạnh vai trò của các pháp nhân ngoài nhà nƣớc, các nhóm đối tƣợng chịu  
sự điều chỉnh trực tiếp của đạo luật, các tổ chức nghiên cứu, phân tích chính sách  
chuyên nghiệp (think tank). Giúp việc đánh giá chính sách trở lên đa chiều, đảm bảo  
quyền tham gia của công dân và tính khách quan của đánh giá chính sách, khắc phục  
điểm mù chính sách và sự hữu hạn trí tuệ của nhà nƣớc.  
- Thứ ba, hoàn thiện quy trình đánh giá chính sách theo hƣớng chặt chẽ, hợp lý  
trong hoạt động lập pháp. Việc tuân thủ nghiêm ngặt và đảm bảo quy trình chặt chẽ,  
hợp lý sẽ giúp đánh giá chính sách cách thấu đáo hơn, bởi sự bỏ qua hay xem nhẹ bất  
kỳ bƣớc nào trong đánh giá chính sách cũng đều dẫn đến sự thất bại ít nhiều của hoạt  
động lập pháp.  
5. Một số khuyến nghị  
Thứ nhất, cần sớm hoàn thiện quy định của pháp luật về đánh giá tác động của  
chính sách trong xây dựng pháp luật tại Luật Ban hành VBQPPL và các Nghị định,  
văn bản hƣớng dẫn thi hành, trong đó chú trọng các quy định sau:  
(i) Cần sửa đổi các đối tƣợng đánh giá đƣợc quy định tại điều 35 Luật  
BHVBQPPL bởi còn có sự trùng lặp trong nội hàm của các nội dung cần đánh giá, cần  
giải thích cụ thể và rõ ràng hơn về phạm vi của các đối tƣợng đƣợc nêu ra.  
(ii) Về các tiêu chí đánh giá: Cần sớm xây dựng một bộ tiêu chí rõ ràng để các tổ  
chức có thể áp dụng dễ dàng, những tiêu chí này cần phải đi sát với thực tiễn cuộc  
sống.  
(iii) Việc đƣa ra các tiêu chí cần phải đƣợc giao cho các bộ, cơ quan chuyên  
ngành chủ động ban hành những tiêu chí liên quan trực tiếp đến lĩnh vực do mình quản  
283  
lý. Nhƣ Bộ Nông nghiệp đƣa ra các tiêu chí đánh giá ảnh hƣởng của pháp luật tới sản  
xuất nông nghiệp, Bộ Y tế ban hành các tiêu chí đánh giá tác động của luật với hoạt  
động y tế… Vối các lĩnh vực thuộc quản lý chung của nhiều bộ ngành thì cần có sự  
trao đổi thống nhất giữ các đơn vị để đƣa ra những tiêu chí chung để đánh giá tác  
động.  
Thứ hai, cần bố trí kinh phí phù hợp, tƣơng xứng với vai trò, tầm vóc của dự thảo  
văn bản quy phạm pháp luật. Đối với những đạo luật quan trọng nhƣ Hiến pháp, Bộ  
luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Đầu tƣ, Luật Doanh  
nghiệp, v.v…, cần có những quy định riêng về cơ chế, chính sách, để huy động những  
nguồn lực cần thiết về nhân lực, vật chất, kĩ thuật cho việc xây dựng luật.  
Thứ ba, cần phải tăng cƣờng hơn nữa sử dụng các công cụ nghiên cứu chính sách  
hiện đại, hiệu quả trong đánh giá tác động của chính sách để những đánh giá này sát  
với thực tế và có sự thuyết phục hơn. Cần có quy định bắt buộc việc sử dụng công cụ  
đánh giá định lƣợng đối với việc đánh giá chính sách trong một số trƣờng hợp cụ thể.  
Trong thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, cần xem xét kĩ nội  
dung đánh giá chính sách, để làm rõ về tính khoa học, tính liêm chính trong nghiên  
cứu, sự phù hợp của phƣơng pháp nghiên cứu, phƣơng pháp khảo sát. Cần kiên quyết  
loại bỏ những dự thảo văn bản chƣa đạt yêu cầu, tránh tình trạng số liệu nghiên cứu  
chỉ “minh họa” cho chính sách.  
Thứ tư, cần tăng cƣờng đào tạo và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tham  
gia vào quá trình đánh giá chính sách. Đánh giá chính sách là công việc phức tạp, cần  
cán bộ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Vì vậy, đảm bảo trình độ của cán bộ là  
một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên chất lƣợng của báo cáo đánh giá. Do đó,  
nâng cao trình độ cán bộ tham gia đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật cần  
đƣợc trú trọng qua các hoạt động đào tạo./.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liệu tham khảo  
1. Australian Government – Productivity Commission Research Report,  
Regulartory Impact analysis: Benchmarking, (11/2012).  
284  
2. Kate Crowley, Brian Head (2015), Policy analysis in Australia, Nxb.  
International Library of Policy Analysis.  
3. B. Guy Peters, Yongfei Zhao (2017), “Local policy-making process in  
China: a case study”, Journal of Chinese Governance, 2(5).  
4. Nguyễn Thị Hạnh (2020), “Thực trạng hoạt động đánh giá tác động của  
chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng luật và giải pháp hoàn thiện”,  
Chuyên đề thuộc Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tƣ pháp “Nghiên cứu cơ sở lý luận  
và thực tiễn tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng luật”.  
5. Trần Thị Quyên (2019), “Đánh giá chính sách trong hoạt động lập pháp của  
một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam”, luận án tiến sĩ luật học,  
trƣờng Đại học Luật Hà Nội.  
6. Centers for Disease Control and Prevention, Office of the Associate Director  
for Policy and Strategy (2021), Policy Analysis:  
vào 23h12‟ ngày 21/08/2021.  
Tài liệu chuyên khảo  
7. Nguyễn Hữu Hải (2009), “Tìm hiểu hành chính công Hoa Kỳ - Lý thuyết và  
thực tiễn”, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội.  
8. Nguyễn Hữu Hải (2014), “Chính sách công - Những vấn đề cơ bản”, Nxb  
Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.  
9. Lê Văn Hòa (2016), “Giám sát và đánh giá chính sách công”, Nxb Chính trị  
quốc gia – Sự thật, Hà Nội.  
285  
pdf 14 trang Thùy Anh 16640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá chính sách trong xây dựng pháp luật ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_chinh_sach_trong_xay_dung_phap_luat_o_mot_so_quoc_g.pdf