Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ dữ liệu cá nhân phù hợp với các cam kết trong một số hiệp định thương mại tự do

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN  
PHÙ HỢP VỚI CÁC CAM KẾT TRONG MỘT SỐ HIỆP ĐỊNH  
THƢƠNG MẠI TỰ DO  
COMPLETE VIETNAM LAW ON PROTECTION OF PERSONAL DATA IN  
COMMITMENTS IN SOME FREE TRADE AGREEMENTS  
Trần Đăng Quang  
TÓM TẮT: Hiện nay, mối quan tâm và lo ngại về vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân,  
đảm bảo dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới ngày càng gia tăng khi quá trình chuyển  
đổi số và sự phát triển của khoa học công nghệ đang diễn ra rất nhanh chóng. Bởi  
vậy, nhiều quốc gia đã đưa vấn đề này vào các hiệp định thương mại tự do để đàm  
phán nhằm đưa ra khung pháp lý chung, điển hình là Hiệp định CTPPP và Hiệp định  
RCEP, hai hiệp định có sự tham gia của Việt Nam. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết  
đối với Việt Nam phải sớm hoàn thiện khung pháp luật về quản trị dữ liệu và bảo vệ  
dữ liệu cá nhân.  
Từ khoá: Bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu xuyên biên giới, bản địa hoá dữ liệu,  
Hiệp định CPTPP, Hiệp định RCEP  
ABSTRACT: Currently, concerns about the protection of personal data, ensuring  
the increasing flow of data across borders as the digital transformation and the  
development of science and technology are taking placein a very fast pace manner.  
Therefore, many countries have included this issue in free trade agreements for  
negotiation to provide a common legal framework, typically the CTPPP and the RCEP  
Agreement, two agreements with the participation of Vietnam. This raises the urgent  
requirement for Vietnam to soon finalize the legal framework on data governance and  
personal data protection.  
Keywords: Personal data protection, cross-border data, data localization,  
CPTPP Agreement, RCEP Agreement.  
Sinh viên K.42 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội. Email: quangtran1219@gmail.com.  
309  
1. Đặt vấn đề  
Tại Việt Nam, tình trạng lộ lọt, mua bán trái phép dữ liệu đang diễn ra ngày càng  
phổ biến, ảnh hƣởng trực tiếp đến nhiều cá nhân và xã hội; thậm chí, nhiều vụ lừa đảo  
chiếm đoạt tài sản có trị giá lớn đã xảy ra. Theo ghi nhận của Trung tâm Ứng cứu khẩn  
cấp không gian mạng Việt Nam, Cục An toàn thông tin, hơn 500.000 tài khoản Zoom  
đã bị lộ lọt thông tin cá nhân của ngƣời sử dụng, trong đó bao gồm: email, mật khẩu,  
đƣờng dẫn URL các cuộc họp và mật khẩu kèm theo.1 Thông qua những lỗ hổng này,  
tin tặc có thể truy cập bất hợp pháp vào các cuộc họp, theo dõi, truyền bá thông tin xấu  
độc, đánh cắp thông tin hoặc cài đặt mã độc trực tiếp trên máy ngƣời dùng.  
Trƣớc thực trạng trên, các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề bảo vệ  
dữ liệu cá nhân lại chƣa có sự thống nhất và nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật  
khác nhau. Điều này gây khó khăn cho chính chủ thể dữ liệu trong việc bảo vệ dữ liệu  
cá nhân của mình khi bị xâm phạm. Mặc dù Bộ Công an đã ban hành dự thảo Nghị  
định về bảo vệ dữ liệu cá nhân vào tháng 02 năm 2021, nhƣng vẫn còn nhiều vấn đề  
đƣợc đặt ra xoay quanh dự thảo này. Ngoài ra, Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng  
vào quá trình hội nhập quốc tế với việc đàm phán nhiều hiệp định thƣơng mại tự do  
thế hệ mới có điều chỉnh vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trong đó, Hiệp định Đối tác  
Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dƣơng (CPTPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế  
Toàn diện Khu vực (RCEP) là hai trong số các hiệp định mà Việt Nam cần chú trọng  
trong thời gian tới. Trong cả hai hiệp định này, ba quy định có liên quan trực tiếp đến  
vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân bao gồm (1) quy định về bảo vệ thông tin cá nhân, (2)  
quy định về lƣu chuyển thông tin qua biên giới, và (3) quy định về bản địa hoá dữ liệu.  
2. Vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân trong các hiệp định thƣơng mại tự do mà Việt  
Nam là thành viên  
2.1. Quy định về bảo vệ thông tin cá nhân  
Trên thế giới có khoảng 1/3 số các hiệp định thƣơng mại quốc tế khu vực (RTA)  
có chứa điều khoản về yêu cầu bảo vệ thông tin cá nhân của ngƣời tiêu dùng. Thông  
thƣờng, có hai xu hƣớng mà các quốc gia đàm phán và quy định điều khoản về bảo vệ  
dữ liệu cá nhân trong các RTA.  
1
Công văn số 250/CATTT-VNCERT/CC ngày 14/4/2020 của Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền  
thông, về việc cảnh báo nguy cơ mất an toàn thông tin từ phần mềm trực tuyến Zoom.  
310  
Về hướng tiếp cận thứ nhất, các quốc gia đàm phán không quy định nghĩa vụ bảo  
vệ dữ liệu cá nhân là nghĩa vụ bắt buộc. Các hiệp định tiếp cận theo hƣớng này chỉ yêu  
cầu các quốc gia thành viên thừa nhận sự cần thiết phải bảo vệ thông tin cá nhân.  
Nhóm quốc gia điển hình đi theo hƣớng tiếp cận này là các nhà đàm phán của Châu  
Âu. Ví dụ: Quy định trong Hiệp định EU-Colombia-Peru (Điều 164): “Các Bên sẽ cố  
gắng, trong chừng mực có thể, và trong khả năng của mình, để phát triển hoặc duy trì,  
tùy từng trường hợp, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân”.  
Về hướng tiếp cận thứ hai, các quốc gia đàm phán quy định nghĩa vụ bảo vệ dữ  
liệu cá nhân là nghĩa vụ bắt buộc. Các RTAs tiếp cận theo hƣớng này thƣờng yêu cầu  
các quốc gia sẽ phải ban hành hoặc duy trì một khung pháp lý để bảo vệ thông tin cá  
nhân, có tính đến các nguyên tắc và hƣớng dẫn về vấn đề tƣơng tự của các tổ chức  
quốc tế. Có nhiều cách để thực hiện đƣợc nghĩa vụ trên, chẳng hạn nhƣ ban hành luật  
về quyền riêng tƣ hoàn chỉnh, hoặc là một chƣơng của luật về quyền riêng tƣ, luật bảo  
vệ thông tin cá nhân hay bảo vệ dữ liệu cá nhân hoặc luật cho phép các hành động tự  
nguyện về quyền riêng tƣ đối với các doanh nghiệp. Hiệp định CPTPP và Hiệp định  
RCEP là hai ví dụ minh chứng cho hƣớng tiếp cận này. Theo đó, nghĩa vụ chính mà  
các quốc gia thành viên phải tuân thủ bao gồm (i) áp dụng và duy trì khung pháp lý  
quy định việc bảo vệ thông tin cá nhân, và (ii) công bố các biện pháp bảo vệ thông tin  
cá nhân đối với ngƣời tiêu dùng. Xét về tổng thể, quy định này không đặt ra các quy  
chuẩn, nghĩa vụ cụ thể đối với các quốc gia về nội dung khi xây dựng các quy định  
điều chỉnh vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân mà đơn thuần là cơ sở thống nhất sự thừa  
nhận, ràng buộc trách nhiệm của các quốc gia trong việc bảo vệ thông tin cá nhân của  
ngƣời tiêu dùng. Việc xây dựng và làm rõ các quy định bảo vệ thông tin sẽ do các  
quốc gia tự ban hành.  
Trong quá trình xây dựng khung pháp lý điều chỉnh vấn đề bảo vệ thông tin cá  
nhân, cả hai hiệp định khuyến nghị mỗi quốc gia nên tham khảo các nguyên tắc và  
hƣớng dẫn của các tổ chức quốc tế liên quan. Tuy nhiên, không có một nguyên tắc cụ  
thể nào đƣợc quy định và hiệp định cũng không liệt kê hay làm rõ “tổ chức quốc tế  
liên quan” nào là tổ chức phù hợp. Một điều cần lƣu ý là tất cả 11 thành viên Hiệp  
định CPTPP và 12/15 thành viên Hiệp định RCEP (trừ Campuchia, Lào, Myanmar)  
hiện nay đều là các nền kinh tế thành viên APEC; trong khuôn khổ này, giữa các quốc  
311  
gia thành viên có tồn tại văn bản “Những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân  
trong thương mại điện tử”2. Mặc dù đƣợc đánh giá là những quy định với tiêu chuẩn  
thấp về bảo vệ thông tin cá nhân nhƣng đây có thể là một trong những cơ sở phù hợp  
để các quốc gia tham khảo trong quá trình xây dựng khung pháp luật nội địa.  
Về các biện pháp bảo vệ thông tin cá nhân, các quốc gia thành viên đƣợc khuyến  
khích công bố các thông tin về những biện pháp đó bao gồm các thông tin liên quan  
đến cách cá nhân có thể tìm các biện pháp khắc phục trƣớc những hành vi xâm phạm  
quyền riêng tƣ, bảo vệ dữ liệu, thông tin cá nhân và các doanh nghiệp có thể tuân thủ  
theo các yêu cầu pháp lý. Trên thực tiễn, nhiều quốc gia thành viên hiệp định hiện nay  
có triển khai các cổng thông tin riêng dành cho ngƣời tiêu dùng có thể gửi khiếu nại  
liên quan đến vấn đề nghi ngờ thông tin cá nhân bị lộ lọt. Đồng thời, cổng thông tin  
này cũng cung cấp lời khuyên đối với cá nhân để tự bảo vệ thông tin, dữ liệu của mình  
và những hƣớng dẫn đối với doanh nghiệp về vấn đề bảo vệ thông tin khách hàng  
trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh kể cả trực tuyến hay trực tiếp.3  
2.2. Quy định về dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới  
Trong thời đại kinh tế số, dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới đƣợc cho là một yếu  
tố thúc đẩy nền kinh tế. Việc dữ liệu, thông tin đƣợc truyền tải liền mạch, xuyên biên  
giới còn cho phép cá nhân, doanh nghiệp tiếp cận đƣợc những công nghệ và dịch vụ  
tốt nhất cho dù tài nguyên công nghệ thông tin đƣợc đặt ở bất kỳ lãnh thổ quốc gia  
nào. Theo nghiên cứu của tổ chức McKinsey, dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới trên  
phạm vi toàn cầu ƣớc tính đóng góp 2,8 nghìn tỷ USD cho nền kinh tế thế giới trong  
năm 2014, con số này dự kiến sẽ tăng lên 11 nghìn tỷ USD vào năm 2025.4  
Hiện nay, có 03 xu hƣớng xây dựng quy định về đảm bảo dòng chảy thông tin/dữ  
liệu trong các RTAs bao gồm:  
(1) Cấp độ cam kết thấp: Quy định trong một số RTAs chỉ đơn thuần tìm kiếm  
các thoả thuận về hợp tác giữa các bên trong vấn đề này. Ví dụ nhƣ Hiệp định giữa  
2
Bộ Công thƣơng, APEC Những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử,  
ngày 30/08/2021.  
3
Ví dụ Cổng thông tin của Uỷ ban bảo vệ dữ liệu cá nhân Singapore (PDPC, https://www.pdpc.gov.sg), Cổng  
thông tin của Văn phòng uỷ viên về thông tin – chính phủ Úc (OIAC, https://www.oaic.gov.au), Cổng thông tin  
của Văn phòng uỷ viên về quyền riêng tử - chính phủ Canada (https://www.priv.gc.ca/en/).  
4
OECD (2020), Measuring the economic value of data and cross-border data flows, A business perspective,  
OECD Digital economy papers, tr. 24.  
312  
Canada với các quốc gia Colombia, Honduras, Peru, Hàn Quốc, điều khoản đƣợc  
Canada và các quốc gia này đƣa ra là “khẳng định tầm quan trọng của […] hợp tác để  
duy trì các luồng thông tin xuyên biên giới như một yếu tố thiết yếu trong việc thúc đẩy  
một môi trường sôi động cho thương mại điện tử.”  
(2) Cấp độ cam kết trung bình: Quy định trong một số RTAs có trực tiếp đặt ra  
các nghĩa vụ về thuận lợi hoá dòng chảy dữ liệu nhƣng vẫn sử dụng ngôn từ không  
ràng buộc. Ví dụ, điều khoản trong Hiệp định Hoa Kỳ - Hàn Quốc quy định hai bên  
“sẽ cố gắng tránh áp đặt hoặc duy trì các rào cản không cần thiết đối với các luồng  
thông tin điện tử xuyên biên giới”.  
(3) Cấp độ cam kết cao: Quy định trong một số RTAs khác đặt ra nghĩa vụ bắt  
buộc các quốc gia thành viên phải cho phép dòng chảy thông tin tự do xuyên biên giới.  
Mục đích đặt ra là để bảo vệ dòng chảy cho luồng thông tin này. Có thể nhận thấy quy  
định này trong Hiệp định CPTPP và Hiệp định RCEP, theo đó các quốc gia thành viên  
phải cho phép việc lƣu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng các phƣơng tiện điện tử,  
bao gồm cả thông tin cá nhân, nếu việc lƣu chuyển này phục vụ cho hoạt động kinh  
doanh của một pháp nhân trong phạm vi điều chỉnh của hiệp định.  
2.3. Quy định về bản địa hoá dữ liệu  
Hiện nay, vấn đề liên quan đến việc cấm đặt hệ thống máy chủ trong cả hai hiệp  
định CPTPP và RCEP là một vấn đề quan trọng và nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều  
quốc gia trên thế giới. Một mặt, quy định trong các hiệp định thừa nhận mỗi quốc gia  
thành viên có thể có những quy định liên quan đến việc sử dụng cơ sở hạ tầng máy  
tính, bao gồm các yêu cầu đảm bảo an ninh an toàn và bảo mật của thông tin. Mặt  
khác, các hiệp định lại không cho phép các quốc gia yêu cầu nhà cung ứng phải đặt hệ  
thống máy chủ trong lãnh thổ của họ nhƣ một điều kiện để tiến hành kinh doanh.  
Việc đặt hệ thống máy chủ có sự liên quan và ảnh hƣởng trực tiếp tới việc tự do  
lƣu chuyển thông tin xuyên biên giới đã đƣợc đề cập. Theo đó, việc yêu cầu đặt hệ  
thống máy chủ trong lãnh thổ một quốc gia (hay còn gọi là bản địa hoá dữ liệu) ngăn  
cản dòng chảy thông tin tự do, khiến các doanh nghiệp phải đầu tƣ thêm vào các trung  
tâm lƣu trữ dữ liệu. Nhƣ vậy, quy định của các hiệp định trên có mục tiêu là hƣớng tới  
việc những nhà cung ứng của các quốc gia thành viên không chỉ đƣợc lƣu chuyển tự  
do thông tin xuyên biên giới mà còn có thể tự do lựa chọn nơi lƣu trữ dữ liệu của họ.  
313  
2.4. Ngoại lệ đối với Việt Nam  
Cả hai hiệp định đều đƣa ra 03 ngoại lệ cho phép các quốc gia có những hành  
động trái với các cam kết liên quan đến việc đảm bảo dòng chảy dữ liệu xuyên biên  
giới và yêu cầu bản địa hoá dữ liệu, bao gồm: (1) phạm vi điều chỉnh của hiệp định,  
(2) ngoại lệ về bảo vệ an ninh quốc gia, (3) ngoại lệ về mục tiêu chính sách công hợp  
pháp.  
Về phạm vi điều chỉnh của các hiệp định, việc các quốc gia thành viên bắt buộc  
phải cho phép thông tin đƣợc lƣu chuyển tự do xuyên biên giới sẽ còn phụ thuộc vào  
các điều khoản liên quan tại Chƣơng về Đầu tƣ, Chƣơng về Thƣơng mại dịch vụ xuyên  
biên giới, cũng nhƣ các điều khoản khác có liên quan trong hiệp định.  
Về ngoại lệ liên quan đến an ninh quốc gia, các hiệp định quy định rằng không  
có bất kỳ điều khoản nào trong các hiệp định có thể ngăn cản một quốc gia thành viên  
áp dụng các biện pháp mà “Bên đó cho rằng cần thiết để thực hiện các nghĩa vụ của  
mình đối với việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình hoặc an ninh quốc tế, hoặc bảo vệ  
lợi ích an ninh thiết yếu.” Trên thực tiễn, đây là ngoại lệ quen thuộc và thƣờng đƣợc  
các quốc gia đƣa ra nhằm biện minh cho các biện pháp của mình.  
Về ngoại lệ liên quan tới mục tiêu chính sách công, xét về mặt ngôn ngữ, quy  
định này khá giống với các ngoại lệ chung đƣợc quy định tại Điều XIV của Hiệp định  
chung về Thƣơng mại Dịch vụ (GATS). So sánh giữa Hiệp định CPTPP và Hiệp định  
RCEP cho thấy rằng, các quy định của hai hiệp định này có nội dung khá tƣơng đồng  
nhau, điểm khác biệt duy nhất là cách quy định trƣờng hợp ngoại lệ của các quy định  
này. Với Hiệp định CPTPP, để một biện pháp đƣợc coi là ngoại lệ nếu thoả mãn cả 02  
yêu cầu: (1) các biện pháp đƣợc sử dụng vì mục đích chính sách công, không tạo ra  
các hạn chế vô lý hay rào cản thƣơng mại trá hình; và (2) là biện pháp ở mức tối thiểu  
để đạt đƣợc mục đích trên. Trong khi đó, đối với Hiệp định RCEP, để một biện pháp  
đƣợc coi là ngoại lệ nếu thoả mãn một trong 02 trƣờng hợp: (1) các biện pháp đƣợc sử  
dụng vì mục đích chính sách công, không tạo ra các hạn chế vô lý hay rào cản thƣơng  
mại trá hình; hoặc (2) bất kỳ biện pháp nào mà quốc gia đó thấy cần thiết để bảo vệ  
các quyền lợi an ninh thiết yếu của mình. Cần lƣu ý rằng, “Mục tiêu chính sách công  
hợp pháp” không thể tự xác định hay có quy định chính xác, do đó các quốc gia sẽ  
phải biện minh tính phù hợp của mục tiêu chính sách trong trƣờng hợp có tranh chấp  
314  
xảy ra. Nhƣ vậy, mức độ cam kết của Hiệp định CPTPP cao và khắt khe hơn Hiệp định  
RCEP.  
3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân  
3.1. Quy định về bảo vệ thông tin cá nhân  
Theo quy định pháp luật của các quốc gia (ví dụ nhƣ Úc, New Zealand,…), hiểu  
một cách chung nhất, “thông tin cá nhân” là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá  
nhân xác định hoặc có thể xác định đƣợc. Cách định nghĩa của các quốc gia thành viên  
là cách tiếp cận theo nghĩa rộng, bao hàm tất cả các loại thông tin của ngƣời tiêu dùng  
có thể đƣợc thu thập trong quá trình tham gia hoạt động trong nền thƣơng mại kỹ thuật  
số, ví dụ thông tin về nhân khẩu học (họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ,…), các  
thông tin tài chính trong quá trình thanh toán (số thẻ ngân hàng, tài khoản ngân  
hàng,…) hay thậm chí là cả thói quen tiêu dùng và sở thích đƣợc thu thập trong quá  
tình ngƣời tiêu dùng xem xét, lựa chọn và mua sắm hàng hoá.  
Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, “thông tin cá nhân” trong mỗi  
văn bản pháp luật lại đƣợc định nghĩa khác nhau. Theo Điều 3 Luật An toàn thông tin  
mạng 2015, thông tin cá nhân là “thông tin gắn với việc xác định danh tính của một  
người cụ thể”. Trong khi đó, Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2006 về ứng dụng  
công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan chính phủ có định nghĩa “thông tin  
cá nhân” là “thông tin đủ để xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gồm ít  
nhất nội dung trong những thông tin sau đây: họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức  
danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ  
chiếu, những thông tin thuộc bí mật cá nhân gồm có hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ  
bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí mật cá nhân khác.” Có thể thấy, pháp  
luật Việt Nam tiếp cận định nghĩa “thông tin cá nhân” theo nghĩa hẹp và trực tiếp hơn  
so với cách tiếp cận của các quốc gia trên thế giới. Theo đó, các thông tin không cụ  
thể, rõ ràng nhƣng kết hợp với các thông tin khác để gián tiếp xác định đƣợc danh tính  
của một cá nhân không thuộc phạm vi định nghĩa “thông tin cá nhân”.  
Ngoài ra, cách tiếp cận của Việt Nam còn có sự khác biệt so với các quốc gia trên  
thế giới trong việc xác định khái niệm “thông tin cá nhân” và “dữ liệu cá nhân”. Về  
mặt định nghĩa, thuật ngữ “thông tin cá nhân” hay “dữ liệu cá nhân” có nội hàm tƣơng  
đƣơng nhau khi cùng có khả năng xác định hoặc có thể xác định một cá nhân cụ thể.  
315  
Tuy nhiên, điều cần lƣu ý là các quốc gia trên thế giới thƣờng chỉ sử dụng thống nhất  
một trong hai thuật ngữ ngữ trên. Trong khi đó, trong pháp luật Việt Nam, việc sử  
dụng hai thuật ngữ này chƣa rõ ràng. Do vậy, trong phạm vi bài viết và trên thực tế,  
các yêu cầu bảo vệ thông tin cá nhân đƣợc tiếp cận tƣơng đƣơng các yêu cầu bảo vệ dữ  
liệu cá nhân.  
3.2. Yêu cầu về lưu chuyển thông tin xuyên biên giới, bao gồm thông tin cá nhân  
Tại Việt Nam, trong các văn bản pháp luật có hiệu lực hiện nay chƣa có quy định  
chi tiết về các yêu cầu hay điều kiện đối với việc chuyển dữ liệu qua biên giới, mà chỉ  
dừng lại ở quy định về chức năng hợp tác quốc tế của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm  
quyền. Tuy nhiên, từ tháng 2/2021, Bộ Công an Việt Nam có công bố bản dự thảo  
Nghị định quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là một trong những dự thảo quan  
trọng và đầu tiên tại Việt Nam có tính hệ thống và điều chỉnh khá toàn diện về các vấn  
đề liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong đó có vấn đề chuyển dữ liệu qua biên  
giới. Theo đó, để dữ liệu cá nhân đƣợc chuyển ra khỏi biên giới lãnh thổ Việt Nam thì  
cần đáp ứng đầy đủ 04 điều kiện sau: (1) Có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu; (2) Dữ liệu  
gốc đƣợc lƣu trữ tại Việt Nam; (3) Có văn bản chứng minh quốc gia, vùng lãnh thổ  
hoặc một khu vực cụ thể trong quốc gia hoặc vùng lãnh thổ chuyển đến đã ban hành  
quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân ở mức độ bằng hoặc cao hơn so với Nghị định; (4) Có  
văn bản đồng ý của Ủy ban bảo vệ dữ liệu cá nhân.  
Dựa trên xu hƣớng quy định của dự thảo nghị định có thể thấy, chỉ riêng điều  
kiện phải lƣu trữ dữ liệu gốc tại Việt Nam cũng có thể coi là biện pháp làm cản trở sự  
lƣu chuyển tự do thông tin xuyên biên giới. Nhƣ vậy, quy định pháp luật Việt Nam  
hiện nay về yêu cầu lƣu chuyển thông tin xuyên biên giới chƣa thực sự tƣơng thích với  
quy định của Hiệp định CPTPP và Hiệp định RCEP.  
3.3. Yêu cầu về đặt hệ thống máy chủ  
Trên thế giới, ƣớc tính có khoảng 50 quốc gia đặt ra yêu cầu bản địa hoá dữ liệu,  
có thể kể đến nhƣ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam,…5  
Trong đó, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có yêu cầu về bản địa hoá dữ liệu ở  
5
Albright Stonebridge Group (2015), Data Localization: A Challenge to Global Commerce and the Free Flow  
of Information, tr. 5.  
316  
mức độ cao nhất khi mọi dữ liệu phải đƣợc lƣu trữ tại trung tâm dữ liệu vật lý đặt ở  
nƣớc sở tại.  
Trong pháp luật Việt Nam, Điều 24 Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013  
về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng yêu cầu các tổ  
chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp phải có ít nhất 01 hệ  
thống máy chủ tại Việt Nam. Ngoài ra, Điều 26 Luật An ninh mạng 2018 cũng đặt ra  
yêu cầu các doanh nghiệp nƣớc ngoài “cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng  
Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu  
thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ  
của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải  
lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ”. Bên  
cạnh mục đích bảo vệ dữ liệu của công dân, lý do mà các quốc gia đặt ra yêu cầu bản  
địa hoá dữ liệu là nhằm bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, đảm bảo quyền  
truy cập vào dữ liệu cho các mục đích thực thi pháp luật.  
Khi các quốc gia áp dụng yêu cầu bản địa hoá dữ liệu, một số lợi ích có thể đƣợc  
mang lại nhƣ: (1) hỗ trợ Chính phủ bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với dữ liệu điện tử;  
(2) giúp cơ quan có thẩm quyền gia tăng khả năng kiểm soát hoạt động của các nhà  
cung cấp dịch vụ nƣớc ngoài thông qua việc điều tra, xác minh, xử lý vi phạm có liên  
quan đến những ngƣời sử dụng dịch vụ tại Việt Nam. Tuy nhiên, đây không phải là  
một biện pháp thực sự hữu hiệu để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn dữ liệu; thậm chí  
còn vi phạm các cam kết quốc tế của Việt Nam.  
Về yếu tố an ninh, các công ty đa quốc gia thƣờng có hệ thống cơ sở dữ liệu, máy  
chủ ở nhiều nơi trên thế giới và có khả năng phòng chống các mối đe dọa an ninh  
mạng trên phạm vi toàn cầu. Việc đặt ra yêu cầu phải lƣu trữ dữ liệu theo phạm vi địa  
lý có thể ngăn cản Việt Nam hƣởng lợi từ hệ thống công nghệ thông tin linh hoạt, an  
toàn và đáng tin cậy. Hơn nữa, bản địa hoá dữ liệu có khả năng làm gia tăng các cuộc  
tấn công mạng bởi các đối tƣợng tin tặc sẽ thuận lợi hơn khi xác định các địa điểm  
mục tiêu lƣu trữ thông tin, dữ liệu có liên quan đến ngƣời Việt Nam.  
Về yếu tố kinh tế, theo nghiên cứu của APEC, yêu cầu đặt hệ thống máy chủ và  
các quy tắc tƣơng tự trên thực tế có thể làm tăng chi phí và giảm khả năng tiếp cận thị  
trƣờng đối với các doanh nghiệp bởi các doanh nghiệp buộc phải đặt máy chủ hay cơ  
317  
sở hạ tầng kỹ thuật ở thị trƣờng nƣớc sở tại; đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa  
và nhỏ - những doanh nghiệp chiếm đa số tại các quốc gia APEC.6 Ngoài ra, các yêu  
cầu về bản địa hoá dữ liệu có thể làm giảm 1,7% GDP của Việt Nam.7  
Về các cam kết quốc tế, theo nguyên tắc chung, các quốc gia có thể dựa vào các  
điều khoản miễn trừ (ngoại lệ) vì lý do bảo vệ lợi ích quốc gia và công cộng để đƣa ra  
các biện pháp mang tính hạn chế tiếp cận thị trƣờng; nhƣng các biện pháp này phải là  
các biện pháp cần thiết, ở mức độ tối thiểu và không đƣợc tạo ra những rào cản thƣơng  
mại trá hình. Tuy nhiên, yêu cầu bản địa hoá dữ liệu theo cách quy định trong pháp  
luật Việt Nam khó có thể đáp ứng các điều kiện để đƣợc coi là ngoại lệ về bảo vệ lợi  
ích quốc gia và công cộng. Bởi lẽ, ngoài yêu cầu bản địa hoá dữ liệu, nhiều biện pháp  
khác có thể đƣợc sử dụng mà vẫn bảo đảm an toàn thông tin, dữ liệu của ngƣời dùng;  
ví dụ biện pháp yêu cầu chấp thuận của chủ thế dữ liệu trong việc lƣu chuyển dữ liệu  
ra nƣớc ngoài, yêu cầu các doanh nghiệp phải có cam kết về việc bảo vệ dữ liệu thu  
thập đƣợc,… Ngoài ra, không nhất thiết toàn bộ dữ liệu nói chung cần phải lƣu trữ và  
đặt hệ thống cơ sở vật lý tại Việt Nam mà yêu cầu này nên đƣợc áp dụng đối với một  
số loại dữ liệu đặc biệt quan trọng, nhạy cảm.  
So sánh với các quy định của hai hiệp định về yêu cầu đặt hệ thống máy chủ, các  
quy định pháp luật Việt Nam hiện nay chƣa có sự tƣơng thích. Việc đặt ra yêu cầu bản  
địa hoá dữ liệu vừa có thể tạo ra rủi ro an ninh, bảo mật, vừa không tạo đƣợc sức hút  
đối với các doanh nghiệp mong muốn đầu tƣ hay hoạt động tại thị trƣờng Việt Nam.  
4. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo vệ dữ liệu cá  
nhân  
Có thể thấy, hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân hiện  
nay chƣa thực sự đầy đủ và có tính hiệu quả. Trong thời điểm hiện tại, một khung khổ  
pháp luật hoàn thiện về bảo vệ dữ liệu nhƣ dự thảo Nghị định mới đây là điều cần  
thiết. Theo đó, một số vấn đề pháp lý mà Việt Nam cần thực sự chú trọng để giải quyết  
trong thời gian tới (trƣớc khi dự thảo Nghị định đƣợc phê chuẩn) là phạm vi điều  
chỉnh, vấn đề chồng chéo về nội dung giữa các văn bản có liên quan ở cả cấp độ luật  
6 APEC (2017), Impact of TPP‟s E-commerce Chapter on APEC‟s E-commerce, tr. 34.  
7
Bauer, Matthias, Hosuk Lee- Makiyama, Erik van der Marel, and Bert Verschelde (2014), The Costs of Data  
Localisation:  
A Friendly Fire on Economic Recovery, ECIPE. Accessed November 26, 2017.  
http://ecipe.org/publications/dataloc/, truy cập ngày 27/8/2021.  
318  
và nghị định, các điều kiện để chuyển dữ liệu qua biên giới, vấn đề yêu cầu đặt hệ  
thống máy chủ, và đặc biệt là thiết chế giám sát, giải quyết các vấn đề liên quan đến  
bảo vệ dữ liệu cá nhân.  
Do đó, đối với tầm nhìn dài hạn trong công cuộc chuyển đổi số nền kinh tế, một  
số khuyến nghị đƣợc tác giả đƣa ra nhƣ sau:  
Thứ nhất, cần phân định rõ phạm vi điều chỉnh của Nghị định theo dự thảo mới.  
Việc phân định nào phải bao gồm sự tổng hợp các quy định của pháp luật hiện hành,  
đồng thời giải quyết đƣợc các quy định chồng chéo, thiếu hiệu lực thị hành;  
Thứ hai, cần làm rõ nội hàm và định nghĩa theo chuẩn quốc tế về dữ liệu nói  
chung và dữ liệu cá nhân thuộc đối tƣợng bảo vệ; phân loại dữ liệu thông thƣờng và dữ  
liệu nhạy cảm để các cách biện pháp đối xử phù hợp;  
Thứ ba, bên cạnh các quy định có tính nguyên tắc cần quy định thêm các biện  
pháp cụ thể về bảo vệ các quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân trong cả ba khía cạnh, đó  
là: Chính sách và thoả thuận với ngƣời dùng hay khách hàng; tuân thủ các quy định  
của pháp luật; và cách thức quản lý và xử lý dữ liệu của bên xử lý dữ liệu;  
Thứ tư, thúc đẩy, khuyến khích cơ chế khiếu nại và khiếu kiện khi có sự vi phạm  
quyền của chủ thể dữ liệu trên quy mô lớn, bao gồm vấn đề khởi kiện tập thể, quyền  
của các tổ chức xã hội đƣợc đại diện cho chủ thế dữ liệu khởi kiện hoặc tự khởi kiện vì  
lợi ích công cộng;  
Thứ năm, xây dựng hoặc chỉ định cơ quan đầu mối quốc gia trong việc chủ trì,  
điều phối và hợp tác quốc tế về bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu cá nhân và bảo  
vệ quyền riêng tƣ là tất yếu, song trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan này cần giới  
hạn ở mức độ phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho luồng dữ liệu đƣợc không bị  
tắc nghẽn, cản trở nhƣng vẫn đảm bảo an ninh, an toàn thông tin quốc gia.  
Thứ sáu, về vấn đề lƣu chuyển thông tin xuyên biên giới và yêu cầu đặt hệ thống  
máy chủ, dựa trên kinh nghiệm quốc tế nêu trên, vừa để đảm bảo đƣợc mục tiêu an  
ninh quốc gia, an toàn dữ liệu đồng thời vẫn tuân thủ đƣợc các cam kết quốc tế, Việt  
Nam cần sớm ban hành luật về bảo vệ thông tin/dữ liệu cá nhân, trong đó cần có sự  
phân loại dữ liệu cá nhân thông thƣờng và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Dựa trên sự phân  
loại đó, Việt Nam có thể đƣa ra yêu cầu lƣu trữ dữ liệu nhạy cảm trong lãnh thổ Việt  
Nam, còn dữ liệu thông thƣờng sẽ đƣợc tự do lƣu chuyển. Ngoài ra, thay thế cho yêu  
319  
cầu bản địa hoá dữ liệu, Việt Nam nên xem xét áp dụng các biện pháp thay thế có tính  
linh hoạt hơn ví dụ nhƣ yêu cầu bên kiểm soát, xử lý dữ liệu xây dựng “Bộ quy tắc  
ứng xử” hoặc các cam kết bảo đảm sử dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ  
dữ liệu cá nhân; xây dựng cơ chế chứng nhận, đánh giá, xếp hạng quốc gia về độ tín  
nhiệm đối với các bên trung gian trong hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân nói riêng và  
bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng nói chung.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liệu tiếng Việt  
1. Bộ Công thƣơng, APEC Những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân  
du-lieu-ca-nhan-trong-thuong-mai-dien-tu, truy cập ngày 30/08/2021.  
2. Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông, Công văn số  
250/CATTT-VNCERT/CC ngày 14/4/2020 về việc cảnh báo nguy cơ mất an toàn  
thông tin từ phần mềm trực tuyến Zoom,  
http://www.vncert.gov.vn/baiviet.php?id=131, truy cập ngày 29/8/2021.  
3. Dự thảo Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân Việt Nam 2021.  
4. Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).  
5. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dƣơng (CPTPP).  
Tài liệu tiếng Anh  
6. Albright Stonebridge Group (2015), Data Localization: A Challenge to  
Global Commerce and the Free Flow of Information,  
%20-%20September%202015.pdf, truy cập ngày 26/8/2021.  
7. APEC (2017), Impact of TPP‟s E-commerce Chapter on APEC‟s E-  
commerce.  
8. Bauer, Matthias, Hosuk Lee- Makiyama, Erik van der Marel, and Bert  
Verschelde (2014), The Costs of Data Localisation: A Friendly Fire on Economic  
Recovery, ECIPE. Accessed November 26, 2017.  
320  
9. Mark Wu (2017), Digital Trade-Related Provisions in Regional Trade  
Agreements: Existing Models and Lessons for the Multilateral Trade System, RTA  
Exchange.  
10. OECD (2020), Measuring the economic value of data and cross-border data  
flows, A business perspective, OECD Digital economy papers, https://www.oecd-  
border-data-flows_6345995e-en, truy cập ngày 30/8/2021  
321  
pdf 13 trang Thùy Anh 12680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ dữ liệu cá nhân phù hợp với các cam kết trong một số hiệp định thương mại tự do", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_phap_luat_viet_nam_ve_bao_ve_du_lieu_ca_nhan_phu.pdf