Các loại hình hợp danh theo pháp luật thương mại của Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam

TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021  
CÁC LOẠI HÌNH HỢP DANH THEO PHÁP LUẬT THƢƠNG MẠI  
CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM  
ĐỒNG THỊ HUYỀN NGA  
Ngày nhận bài: 09/01/2021  
Ngày phản biện: 17/01/2021  
Ngày đăng bài: 30/03/2021  
Tóm tắt:  
Abstract:  
Bài nghiên cứu này sẽ giới thiệu và  
This article will introduce and analyze  
phân tích các quy định hiện hành của pháp the current provisions of the French  
luật thương mại tại Cộng hòa Pháp về các commercial law on various types of  
loại hình hợp danh. Đồng thời, trên cơ sở partnerships. At the same time, on the basis of  
đánh giá và so sánh các đặc trưng pháp l  của an assessment and comparison of the legal  
công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp characteristics of a partnership under the  
2020, bài viết sẽ giải thích vai trò mờ nhạt Enterprise Law 2020, the article will explain  
của công ty hợp danh trong tiến trình phát the limited role of the partnership in  
triển kinh tế của Việt Nam và đề xuất một số Vietnam's economic development. The article  
giải pháp theo hướng đa dạng hoá các loại will also propose a number of solutions  
hình hợp danh nhằm tăng cường tính hấp dẫn towards diversifying types of partnerships in  
của công ty hợp danh không chỉ đối với các order to enhance the attractiveness of  
nhà đầu tư trong nước mà còn đối với các nhà partnership not only for domestic but also for  
đầu tư nước ngoài.  
foreign investors.  
Từ khóa:  
Key words:  
Hợp danh, công ty hợp danh, pháp luật  
Partnership, partnership enterprise, law  
on enterprises.  
doanh nghiệp  
1. Đặt vấn đề  
Thực tế cho thấy, từ khi được quy định trong các văn bản pháp luật về doanh nghiệp tại  
Việt Nam đến nay, số lượng công ty hợp danh (CTHD) tồn tại hoặc đăng k  mới cũng như số  
vốn góp cho thị trường luôn chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn so với các loại hình doanh  
nghiệp còn lại. Tính đến năm 2015, tức gần 10 năm thực thi Luật Doanh nghiệp (LDN) 2005  
ThS., GV Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Luật, Đại học Huế; Email: [email protected]  
38  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
thì số lượng CTHD trên cả nước vẫn chỉ dừng lại ở con số vài chục1. Đến năm 2019, năm  
năm sau khi LDN 2014 có hiệu lực, ở thị trường năng động nhất cả nước là Thành phố Hồ  
Chí Minh đã ghi nhận 44.004 doanh nghiệp được thành lập mới với tổng vốn đăng k  là  
643.244 tỷ đồng nhưng nếu phân theo loại hình và số lượng thì Công ty TNHH chiếm tỷ trọng  
cao nhất 86,5%; Công ty CP chiếm 12,8%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 0,7%; CTHD chỉ  
chiếm 0,01%2. Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ rằng: “nguyên nhân cơ bản khiến cho CTHD  
không thành công như mong đợi là do khung pháp lý điều chỉnh CTHD vẫn còn nhiều bất  
cập, vướng mắc”3 hay “những người làm luật đã thiết kế chưa thành công mô hình CTHD,  
còn quá nhiều điều chưa rõ ràng và mâu thuẫn, do vậy mô hình này chưa được giới kinh  
doanh ở Việt Nam hưởng ứng”4. Một trong những yếu tố bất cập cố hữu duy trì từ Luật Công  
ty 1990 đến Luật Doanh nghiệp 2020 khiến cho loại hình doanh nghiệp này thiếu hấp dẫn  
trong mắt các nhà đầu tư chính là sự đơn điệu trong mô hình hợp danh trong khi hầu hết pháp  
luật doanh nghiệp của các quốc gia phát triển hiện nay như Pháp, Anh, Mỹ,… đều quy định  
rất đa dạng các loại hình hợp danh.  
2. Nội dung  
2.1. Các loại hình hợp danh theo pháp luật thƣơng mại của Cộng hòa Pháp  
Hiện nay, tồn tại ba loại CTHD trong hệ thống pháp luật thương mại của Pháp, bao gồm  
hợp danh thôg thường, hợp danh hữu hạn và hợp danh hữu hạn bởi vốn góp. Ngoài ra, trong  
hệ thống pháp luật Pháp còn quy định sự tồn tại của các công ty hợp tác hay còn gọi là liên  
doanh và loại hình công ty này không có tư cách pháp nhân. Do đó, một số nhà nghiên cứu  
cho rằng loại hình công ty này có tính chất tương tự như hình thức Hợp danh ngầm/Hợp danh  
ẩn (Silent Partnership) tương tự như quy định của pháp luật Đức và Hà Lan,5 tuy nhiên, quan  
điểm này chưa được thừa nhận rộng rãi nên sẽ không được phân tích trong nghiên cứu này.  
2.1.1. Hợp danh thông thường  
Hợp danh thông thường là loại hợp danh có mặt trong hầu hết pháp luật các nước chịu  
sự ảnh hưởng của pháp luật La Mã trong lĩnh vực này. Tên gọi «société en nom collectif»  
1 Đoàn Thị Ngọc Hải (2015), "Một số vấn đề về công ty hợp danh ở Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp và  
truy cập ngày 10/3/2020  
2
Số liệu trên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra tại cuộc Kỳ họp thứ mười  
bảy Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa IX đang diễn ra 3 ngày từ 7 tới 9/12.  
3 Minh Ngọc, Ngọc Hà (2011), "Giáo trình Luật Kinh tế", Nxb Lao động, tr.224.  
4
Nguyễn Như Phát, Phạm Duy Nghĩa (2001), "Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam", Khoa Luật - Đại học  
Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 179.  
5 Frank Wooldridge, “The general partnership under French law, Amicus Curiae Issue 77 Spring 2009”, p.29.  
39  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021  
(hay SNC) dường như bắt nguồn từ các tác phẩm của các luật gia nổi tiếng người Pháp là  
Pothier và Savary6. Tên gọi CTHD tại Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng từ cách gọi này của  
pháp luật Pháp.  
Hợp danh thông thường (HDTT) luôn luôn là loại hình công ty thương mại dựa vào  
hình thức/cách thức tổ chức mà không cần phải căn cứ vào đối tượng hoặc mục đích hoạt  
động của nó. HDTT là loại chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân và để đảm bảo được thừa  
nhận tư cách pháp nhân, HDTT phải được đăng k  tại Cơ quan Đăng k  công ty và Thương  
mại (Registre de Commerce et des Sociétés) trực thuộc Bộ Tư pháp và để được cấp giấy  
chứng nhận đăng k  (extrait Kbis) thì HDTT không yêu cầu phải đáp ứng mức vốn pháp định.  
Trong HDTT luôn phải có ít nhất hai thành viên (les associés de SNC), các thành viên này có  
thể là cá nhân7 hoặc pháp nhân. Thành viên của HDTT phải đáp ứng được các điều kiện của  
một thương nhân (la qualité de commerçant)8 theo Điều 121-1 BLTM 18079. Các thành viên  
luôn cùng phải liên đới chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ tài sản của HDTT. Các thành viên  
của HDTT chỉ được chuyển nhượng phần vốn góp nếu được sự nhất trí của tất cả các thành  
viên còn lại. Thành viên chuyển nhượng phần vốn góp sẽ tiếp tục chế độ trách nhiệm của  
mình đối với công ty đến thời điểm hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng theo quy định của  
pháp luật. HDTT có thể được quản lý bởi chính các thành viên hoặc được thuê mướn thông  
qua hợp đồng. Tuy nhiên, nếu không được nêu rõ trong Điều lệ công ty thì quyền quản lý  
thuộc về tất cả các thành viên.  
2.1.2. Hợp danh hữu hạn  
Hợp danh hữu hạn (HDHH) là loại CTHD là loại công ty đối nhân, có tư cách pháp  
nhân tương tự như HDTT và khi thành lập cũng không phải đáp ứng mức vốn pháp định, tuy  
nhiên lại có sự khác biệt đáng kể về tư cách thành viên giữa hai loại CTHD này. Trong  
HDHH, có hai loại thành viên, bao gồm TVHD (Les associés “commandités” hay “associés  
en nom”) và TVGV (Les associés “commanditaires” hay “apporteurs en capitaux”). Thành  
viên hợp danh (TVHD) phải là những chủ thể có tư cách thương nhân, luôn luôn phải liên đới  
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong khi các thành  
viên góp vốn (TVGV) chỉ phải gánh chịu các trách nhiệm tài chính của công ty trong phạm vi  
6 François Malepeyre (2018), “Traité des sociétes commerciales suivi de modèles des divers genres d'actes  
de sociétés commerciales: accompagné d'un précis de l'arbitrage forcé et suivi... de sociétés commerciales”,  
HardPress (May 26, 2018), p.29.  
7
Không phân biệt về quốc tịch, cá nhân và pháp nhân nước ngoài cũng có thể trở thành thành viên của  
HDHH.  
8 Tuy nhiên, một số ngành nghề không được tổ chức dưới hình thức HDTT, ví dụ như hoạt động bảo hiểm  
hay hoạt động của phòng thí nghiệm phân tích y tế.  
9 Như vậy, tất cả các pháp nhân là công ty dân sự và các cá nhân là luật sư, công chứng viên, kế toán viên  
điều lệ, kiểm toán viên, công chức hoặc nhân viên của các tổ chức tín dụng cũng không đáp ứng được điều  
kiện để trở thành một thương nhân và do đó cũng không thể trở thành thành viên của HDTT.  
40  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
số vốn mà họ góp vào công ty. Trong một công ty HDHH đòi hỏi phải có ít nhất 01 TVHD và  
01 TVGV. Tất cả cá nhân và pháp nhân đều có thể trở thành TVHD hoặc TVGV của công ty  
HDHH nhưng nếu muốn trở thành TVHD thì các chủ thể này phải có tư cách của thương nhân.  
Intuitu personae là một nguyên tắc chủ đạo trong quản trị công ty HDHH. Theo đó, chỉ  
có các TVHD mới được phép điều hành và quản lý HDHH. Các TVHD chỉ được chuyển  
nhượng phần vốn góp của mình nếu được sự chấp thuận của tất cả các TVHD còn lại. Tất cả  
các TVHD đều sẽ là người đại diện theo pháp luật và là người quản lý của công ty trừ khi  
trong điều lệ công ty chỉ định chỉ một hoặc một số thành viên có quyền đại diện hay quản lý  
và và việc một TVHD chấm dứt tư cách TVHD trong nhiều trường hợp sẽ là cơ sở pháp lý  
khiến công ty HDHH phải giải thể.  
2.1.3. Hợp danh hữu hạn cổ phần  
Hợp danh hữu hạn cổ phần là loại hình CTHD đối vốn thay vì đối nhân như hai loại  
CTHD vừa được trình bày. HDHH bởi cổ phần cũng có tư cách pháp nhân và cũng có hai loại  
thành viên có tên gọi tương tự như HDHH, bao gồm TVHD và TVGV. HDHH bởi cổ phần  
luôn phải đảm bảo có ít nhất 01 TVHD và 03 TVGV. HDHH cổ phần có một đặc điểm rất  
quan trọng đó là vốn điều lệ của công ty được chia thành các phần nhỏ bằng nhau và do đó  
được gọi là cổ phần (action). Các TVGV chính là chủ thể nắm giữ cổ phần, tức có tư cách của  
cổ đông và họ được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình. Vốn góp của các TVHD, do đó,  
không đóng vai trò trong việc hình thành vốn điều lệ. Vốn điều lệ của công ty HDHH cổ phần  
tối thiểu là € 37.000 (đối với các công ty không niêm yết công khai) và € 225.000 (đối với các  
công ty niêm yết công khai). Tư cách pháp l  và chế độ trách nhiệm của hai loại thành viên  
cũng có nhiều nét tương đồng với HDHH. Những người quản l  công ty được chọn ra bởi  
những TVHD bằng việc lựa chọn chính các TVHD hoặc thuê mướn trên cơ sở hợp đồng lao  
động và phải được sự đồng thuận của TVGV. Chủ thể quản lý, vì vậy, có thể là cá nhân hoặc  
pháp nhân. Những người quản lý hoạt động dưới quyền giám sát của Ban kiểm soát (Conseil  
de Surveillance) được lập ra bởi các TVGV và phải bao gồm ít nhất 03 thành viên.  
2.2. Tính đơn nhất của loại hình hợp danh trong Luật Doanh nghiệp 2020 và những hệ lụy  
đối với quy chế pháp lý của công ty hợp danh  
2.2.1. Đặc trưng pháp lý của công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp 2020  
Khoản 1 Điều 177 LDN 2020 quy định: “CTHD là loại hình doanh nghiệp, trong đó: a)  
Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới  
một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty  
có thể có thêm thành viên góp vốn”. Như vậy, CTHD là loại hình doanh nghiệp có hai loại  
thành viên, bao gồm TVHD và TVGV. Trong đó, TVHD là loại thành viên bắt buộc của công  
ty và luôn phải đảm bảo số lượng tối thiểu là 02 thành viên. TVGV là loại thành viên “tùy  
41  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021  
chọn” trong CTHD. Điều đó có nghĩa là TVGV là loại thành viên không bắt buộc phải có  
trong tất cả các CTHD mà tùy thuộc vào sự lựa chọn của chính các chủ thể khi thành lập công  
ty. Chính vì tính tùy chọn này mà LDN 2020 cũng đồng thời không quy định số lượng TVGV  
tối thiểu trong CTHD. Bên cạnh đó, TVHD chỉ có thể là cá nhân và các cá nhân này được luật  
xác định là chủ sở hữu chung của công ty. Ngoài ra, TVHD phải chịu trách nhiệm bằng toàn  
bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty trong khi đó, TVGV chỉ chịu trách nhiệm về  
các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.  
Trong CTHD, chỉ có TVHD mới có quyền tham gia điều hành, quản lý công ty. Nếu các  
TVHD không có thỏa thuận gì khác thì mỗi TVHD đều có thẩm quyền quản l  như nhau và  
đều là người đại diện theo pháp luật của công ty. Các TVHD tự phân công nhiệm vụ trong  
việc tổ chức, điều hành công ty. Tuy nhiên, LDN 2020 cũng quy định bắt buộc CTHD phải tổ  
chức cơ quan quản lý Hội đồng thành viên và chức danh Chủ tịch Hội đồng thành viên. Hội  
đồng thành viên là tập hợp của tất cả các thành viên công ty và có thẩm quyền quyết định các  
vấn đề quan trọng nhất của công ty với tỷ lệ chấp thuận tương ứng. Tuy là tập hợp của tất cả  
các thành viên nhưng TVGV chỉ được thảo luận và biểu quyết những vấn đề rất hạn hữu.  
2.2.2. Một số bất cập trong quy chế pháp lý của công ty hợp danh gây ra bởi tính đơn nhất  
của loại hình hợp danh theo Luật Doanh nghiệp 2020  
Hầu hết pháp luật các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận ít nhất hai hình thức hợp danh  
cơ bản đó là HDTT và HDHH với sự khác biệt về đặc điểm pháp l  tương đối rõ ràng. HDTT  
chỉ có một loại thành viên và HDHH là loại hợp danh có hai loại thành viên với tư cách pháp  
lý, chế độ trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ khác nhau và do đó sẽ có các ưu thế, nhược điểm  
tương ứng cho các nhà đầu tư được cân nhắc và lựa chọn. Nếu so sánh với lịch sử phát triển  
của pháp luật về CTHD của Pháp, có thể nhận thấy rằng CTHD theo pháp luật Việt Nam  
dường như là sự “nhất thể hóa” của ba loại hình CTHD tại Pháp hiện nay.  
Việc học hỏi từ pháp luật các nước trong công cuộc xây dựng chế định hợp danh là cần  
thiết và là yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, việc “trộn lẫn” các đặc điểm như cách thức của LDN  
2020 hiện nay cần hết sức cẩn trọng mặc dù ở một khía cạnh nhất định, việc phối hợp đặc  
điểm pháp lý của ba loại hình hợp danh của Pháp vào trong CTHD mang đến một sự tiện lợi  
cơ học nhất định cho các nhà lập pháp và các nhà đầu tư (NĐT). Tuy nhiên, cũng cần lưu   
rằng để có thể có cơ chế pháp lý hoàn thiện về hợp danh như ở Pháp mà bài viết đã vừa giới  
thiệu đòi hỏi quá trình phát triển lâu dài, tương hợp với thực tiễn và đòi hỏi của các quan hệ  
xã hội của các quốc gia qua từng thời kỳ. Do đó, việc quy định “ận dụng” khiên cưỡng theo  
cách thức của LDN 2020 có thể dẫn đến nhiều hệ lụy khó tránh khỏi.  
Thứ nhất, cách thức quy định như hiện nay có thể dẫn đến tình trạng cùng một loại hình  
CTHD nhưng các CTHD khác nhau lại có cơ cấu thành viên hoàn toàn khác nhau.  
42  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
Thứ hai, đó là cơ cấu tổ chức quản lý của CTHD theo LDN 2020 hiện nay là quá cồng  
kềnh đối với thực tế của một số CTHD, ví dụ như những CTHD chỉ có một vài TVHD và  
không có TVGV nhưng buộc phải tổ chức Hội đồng thành viên.  
Thứ ba, mặc dù TVGV hiện nay có quyền tự do chuyển nhượng vốn góp của mình, tuy  
nhiên, vì được xác định là CTHD nên phần vốn góp này không được xem là chứng khoán và  
không được giao dịch trên thị trường chứng khoán.  
Thứ tư, do gắn liền với tên gọi CTHD nên dường như trong cách thức quy định các  
quyền và nghĩa vụ của TVGV trong LDN 2020 hiện nay có xu hướng xem nhẹ vai trò của  
TVGV và do đó còn nhiều hạn chế đối với TVGV.  
Thứ năm, cách thức quy định “gộp chung” của LDN 2020 hiện nay khiến cho chế định  
CTHD của Việt Nam trở lên xa lạ và khó hiểu đối với các NĐT nước ngoài.  
2.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp Việt Nam đối với loại hình  
công ty hợp danh trong tƣơng lai  
2.3.1. Quy định đa dạng các loại hình hợp danh trong Luật Doanh nghiệp  
Luật Doanh nghiệp 2020 cần sớm đa dạng hóa các hình thức hợp danh tại Việt Nam.  
Việc phân loại các hình thức hợp danh đã xuất hiện ngay từ trong pháp luật La Mã cổ đại.  
Pháp luật La Mã ghi nhận bốn hình thức hợp danh bao gồm: hợp danh toàn thể (universial  
partnership), hợp danh thương mại (commercial partnership), hợp danh điều hành kinh doanh  
(partnership for conducting a business) và hợp danh cho các giao dịch đơn lẻ (partnership for  
single transaction)10. Xuyên suốt chiều dài lịch sử phát triển của chế định hợp danh ở các  
nước, chúng ta cũng nhận thấy có sự phát triển theo hướng đa dạng hóa các hình thức hợp  
danh11 và rất ít quốc gia lựa chọn đơn nhất một hình thức hợp danh như Việt Nam chúng ta  
hiện nay. Khi phân định rõ các loại hình hợp danh sẽ tạo ra sự gần gũi nhất định giữa pháp  
luật Việt Nam và pháp luật thế giới và do đó giúp cho các NĐT nước ngoài sớm quan tâm đến  
loại hình kinh doanh này. Việc phân loại và có hệ hống các quy định riêng biệt sẽ mang lại  
những điều chỉnh chính xác, chặt chẽ, phù hợp, “tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư  
trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật để tổ chức vận hành các loại hình doanh nghiệp  
này”12 và qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động cho từng loại hợp danh.  
10 P.W. Barker and E. G. Holder (1938), “Rubber statistics 1900-1937, Production, absorption, stocks and  
prices”, Trade Promotion Series: Issues 180-186, U.S. Government Printing Office, p.75.  
11 Ngoài Anh và Pháp như đã được phân tích cụ thể trong bài viết, có thể liệt kê ra rất nhiều quốc gia có sự  
phân định rạch ròi về các loại hình hợp danh như Hoa Kỳ với Luật Hợp danh thống nhất 1914 (sửa đổi năm  
1992 và hoàn thiện năm 1997), Luật về Hợp danh hữu hạn ban hành 1916 và đã sửa đổi vào các năm 1976,  
1985, 2001. Pháp luật của các quốc gia như Đức, Ý, Canada, Úc, Thái Lan,… cũng tiến hành phân loại  
tương tự.  
12 Nguyễn Như Phát (2011), “Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam”, Viện Đại học Mở Hà Nội, Nxb Công an  
nhân dân, tr.104.  
43  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021  
2.3.2. Quy định phù hợp về cơ cấu tổ chức, quản lý cho từng loại hình hợp danh  
Luật Doanh nghiệp 2020 hiện nay đang can thiệp quá sâu vào cơ cấu tổ chức, quản lý và  
điều hành của CTHD. Đặc trưng pháp l  và cũng là ưu thế của hợp danh so với các loại hình  
công ty đó là tính linh hoạt trong cơ cấu tổ chức, quản l  và điều hành của các TVHD. Pháp  
luật hầu hết các quốc gia đều rất hạn chế can thiệp vào quy chế quản trị nội bộ của hợp danh.  
LDN 2020 do bởi chỉ ghi nhận một loại hình hợp danh duy nhất do đó LDN 2020 phải quy  
định theo hướng cố gắng bao quát các trường hợp CTHD có cấu thành phức tạp nhưng điều  
này cũng gián tiếp khiến cho cơ cấu của CTHD đơn giản bị trở nên quá cồng kềnh. Một lần  
nữa, LDN 2020 cần tách bạch các loại hình hợp danh và tùy thuộc vào mức độ tham gia của  
các loại thành viên để xây dựng các quy định về quản trị thực sự phù hợp. Ở vấn đề này  
chúng ta hoàn toàn có thể học hỏi thêm kinh nghiệm từ cách thức tiếp cận của pháp luật Anh,  
theo đó, cần trao quyền tối đa trong quản l  điều hành cho các TVHD đối với loại hình HDTT  
và từng bước quy định chặt chẽ hơn đối với các loại hình hợp danh có sự tham gia của  
TVGV. Ngoài ra, hiện nay LDN 2020 quy định chỉ có TVHD mới được tham gia điều hành,  
quản lý CTHD nhằm mục tiêu đặt ra giới hạn và đối trọng đối với TVGV. Tuy nhiên, quy  
định này cũng ảnh hưởng đến «quyền tự do ý chí» của chính các TVHD. Thiết nghĩ, LDN  
2020 nên theo hướng quy định cho phép chủ thể không phải là TVHD được tham gia điều  
hành, quản lý CTHD nếu quyết định này phù hợp với ý chí của tất cả các TVHD. Quy định  
này sẽ nâng cao tính linh hoạt của CTHD và giúp CTHD dễ dàng thích ứng trong các trường  
hợp khẩn cấp liên quan đến nhân sự quản lý hoàn toàn có thể xảy ra trong quá trình hoạt động  
của công ty. Quy định này, tất nhiên, cần được loại trừ đối với TVGV và phải tách biệt ra  
khỏi quy định về tư cách người đại diện theo pháp luật của TVHD trong CTHD.  
2.3.3. Điều chỉnh tư cách pháp lý cho thành viên góp vốn phù hợp với từng loại hình hợp danh  
Có thể thấy rằng xuyên suốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của TVGV, TVGV chỉ  
đơn thuần là những NĐT hoàn toàn thụ động với vai trò hết sức mờ nhạt. Đầu tiên, TVGV  
không thể tham gia điều hành, quản lý CTHD. TVGV là thành viên của Hội đồng thành viên  
trong CTHD nhưng không có quyền được biểu quyết về hầu hết các vấn đề của công ty, trừ  
quyền “Tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ  
sung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của TVGV, về tổ chức lại và  
giải thể công ty và các nội dung khác của Điều lệ công ty có liên quan trực tiếp đến quyền và  
nghĩa vụ của họ” (điểm a khoản 1 Điều 187 LDN 2020). Tiếp theo đó, TVGV mặc dù “được  
cung cấp báo cáo tài chính hằng năm của công ty; có quyền yêu cầu Chủ tịch Hội đồng thành  
viên, TVHD cung cấp đầy đủ và trung thực các thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh  
của công ty; xem xét sổ kế toán, biên bản, hợp đồng, giao dịch, hồ sơ và tài liệu khác của  
công ty” (điểm c khoản 1 Điều 187 LDN 2020) nhưng trên thực tế rất khó để bảo đảm được  
quyền này cho TVGV. LDN 2020 chưa quy định cụ thể cách thức để TVGV thực hiện các  
quyền này, ví dụ luật không chỉ rõ hình thức đưa ra yêu cầu của TVGV hay thời hạn mà các  
chủ thể phải đáp ứng khi có yêu cầu của TVGV. Bên cạnh đó, LDN 2020 cũng không quy  
44  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
định cơ chế giúp bảo vệ quyền lợi của TVGV trong trường hợp họ phát hiện các vấn đề bất  
thường của CTHD có liên quan đến các TVHD và các chức danh quản lý khác của công ty khi  
họ được cung cấp những tài liệu đó hoặc khi họ bị xâm phạm quyền được thông tin của mình.  
Nguyên nhân dẫn đến những bất cập nói trên chính bởi LDN 2020 hiện nay chỉ quy  
định một loại hình hợp danh duy nhất. Theo logic thông thường, trong CTHD thì những vị trí  
và vai trò tối quan trọng cần thuộc về TVHD. Tuy nhiên, với quy định rằng TVGV là loại  
thành viên không bắt buộc của CTHD đã gián tiếp khẳng định rằng, sự tồn tại của các nhà đầu  
tư là TVGV không có nhiều   nghĩa với CTHD và do đó cũng không quá cần thiết đối với nền  
kinh tế. Cuối cùng lại, sự tồn tại của những quy định của LDN 2020 về TVGV hoàn toàn không  
nhằm một   nghĩa rõ ràng nào ngoài việc bổ sung một loại hình thành viên “cho giống” với  
pháp luật các nước.  
Do vậy, việc quy định đa dạng các loại hình hợp danh là tối cần thiết đối với nhiệm vụ  
thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư mới, nhà đầu tư thụ  
động tham gia vào hoạt động kinh tế với tư cách là TVGV và từ đó trả TGVG về đúng vị trí  
vốn có của họ. Tương tự như pháp luật thương mại của Pháp, có loại hình hợp danh hoàn toàn  
chỉ dành cho các chủ thể hợp danh nhưng cũng có loại hình hợp danh cho phép sự tham gia  
của TVGV hạn chế và cũng có loại hình hợp danh cho phép TVGV tham gia tích cực và rộng  
rãi. Đồng thời, khi cho phép TVGV tham gia đầu tư, pháp luật trao cho họ đầy đủ các quyền  
và nghĩa vụ của một nhà đầu tư cũng như có cơ chế để cân bằng quyền và nghĩa vụ của  
TVHD và TVGV. Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam có  
thể học tập kinh nghiệm của pháp luật Pháp trong việc xây dựng cơ chế giám sát của TVGV  
đối với những hoạt động nhất định của các TVHD.  
3. Kết luận  
Hợp danh là một trong những loại hình kinh doanh xuất hiện sớm nhất trong lịch sử loài  
người và đồng thời cũng là một trong những hạt nhân tạo nên cuộc Cách mạng Thương mại  
tại châu Âu vào thế kỷ thứ XIII, từ đó khiến nền kinh tế các nước châu Âu trở nên vượt trội so  
với phần còn lại của thế giới. Với đặc trưng kinh tế nông nghiệp, hợp danh tại Việt Nam ra  
đời muộn và do đó, pháp luật về hợp danh tại Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ pháp luật  
của các quốc gia, đặc biệt là Cộng hoà Pháp. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan, pháp luật  
về hợp danh của Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Một trong số đó chính là sự quy  
định duy nhất một loại hình hợp danh - công ty hợp danh - trong suốt chiều dài phát triển của  
pháp luật doanh nghiệp. Bất cập này đã trở thành những trở lực ngăn cản sự phát triển của  
hợp danh, khiến hợp danh trở nên kém hấp dẫn đối với NĐT và do đó không phát huy được  
vai trò của mình. Thông qua bài nghiên cứu, tác giả hi vọng cung cấp được cho người đọc bức  
tranh toàn cảnh và khách quan pháp luật về hợp danh của Cộng hoà Pháp - “nơi gần như đã  
tập hợp tất cả những đặc điểm của cách tổ chức công ty của nền kinh tế hàng hóa ở nhiều  
45  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021  
nước trên thế giới”13. Từ bài học kinh nghiệm của Pháp, bài nghiên cứu xây dựng hệ thống  
các đề xuất cấp thiết trong việc tái cấu trúc chế định CTHD trong pháp luật doanh nghiệp hiện  
nay theo hướng đa dạng hoá các loại hình hợp danh và thiết kế cấu trúc pháp l  tương ứng  
nhằm thúc đẩy CTHD sớm phát huy tiềm năng, trở thành chủ thể kinh doanh chủ lực, tạo sức  
bật cho nền kinh tế Việt Nam tương tự như cách thức mà CTHD đã thay đổi lịch sử nền kinh  
tế của cả châu Âu.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đoàn Thị Ngọc Hải (2015), “Một số vấn đề về công ty hợp danh ở Việt Nam theo  
Luật Doanh nghiệp và hướng đề xuất hoàn thiện”, tại https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/  
nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1872, truy cập ngày 10/3/2020.  
2. Minh Ngọc, Ngọc Hà (2011), Giáo trình Luật Kinh tế, Nxb Lao động.  
3. Nguyễn Như Phát (2011), Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, Viện Đại học Mở Hà  
Nội, Nxb Công an nhân dân.  
4. Nguyễn Như Phát, Phạm Duy Nghĩa (2001), Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, Khoa  
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.  
5. P. W. Barker and E. G. Holder (1938), “Rubber statistics 1900-1937, Production,  
absorption, stocks and prices”, Trade Promotion Series: Issues 180-186, U.S. Government  
Printing Office.  
6. Frank Wooldridge, “The general partnership under French law”, Amicus Curiae  
Issue 77 Spring 2009.  
7. Maurice Cozian, Alian Viandier (1988), “Droit des societes”, Litec.  
8. François Malepeyre (2018), “Traité des sociétes commerciales suivi de modèles des  
divers genres d'actes de sociétés commerciales: accompagné d'un précis de l'arbitrage forcé  
et suivi... de sociétés commerciales”, HardPress (May 26, 2018).  
truy cập ngày 22/12/2020.  
13 Maurice Cozian, Alian Viandier (1988), “Droit des societes”, Litec, p.165.  
46  
pdf 9 trang Thùy Anh 11140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các loại hình hợp danh theo pháp luật thương mại của Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_loai_hinh_hop_danh_theo_phap_luat_thuong_mai_cua_cong_ho.pdf