Một số ý kiến về quản lý nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÔN NHÂN
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Lê Anh Tuấn, Nguyễn Huyền Trang, Võ Thị Diệu Mỹ*
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
GVHD: ThS. Lê Thị Minh Thư
TÓM TẮT
Theo thống kê của Bộ Công an, từ năm 2008 đến nay, trung bình mỗi năm Việt Nam có
khoảng 18.000 công dân kết hôn với người nước ngoài. Trong đó, 72% là nữ, và chủ yếu kết
phụ nữ kết hôn với người nước ngoài là có hoàn cảnh gia đình nghèo khó, trình độ học vấn
thấp và thất nghiệp, sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Riêng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong 10 năm, có tới 70.000 phụ nữ lấy chồng
người nước ngoài. Đáng chú ý, các cuộc hôn nhân thông qua môi giới và gần đây là hôn
nhân du lịch được xếp đặt ngày càng nhiều để tránh việc đăng ký kết hôn[6]. Tỷ lệ các cuộc
hôn nhân thông qua môi giới rất cao, ở nhiều địa phương kết hôn mang tính phong trào, ít
xuất phát từ tình yêu mà phần nhiều vì mục đích kinh tế trong hoàn cảnh kinh tế ở nông thôn
hiện nay còn nhiều khó khăn. Chính vì thế, việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài đang trở thành một yêu cầu cấp bách và quan trọng nhằm làm ổn định và phát triển
giao lưu dân sự quốc tế, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các
nước có liên quan. Để kịp thời điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, quan
hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài nói riêng. Cần có biện pháp quản
lý một cách cụ thể nhằm ổn định và duy trì sự phát triển của quan hệ này trông xã hội. Trong
phạm vi bài viết này nhóm tác giả sẽ phân tích về thực trạng quản lý nhà nước về hôn nhân
có yếu tố nước ngoài và kiến nghị hoàn thiện nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về hôn
nhân có yếu tố nước ngoài để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về hôn nhân
có yếu tố nước ngoài.
Từ khóa: hôn nhân, kết hôn, pháp luật, quản lý Nhà nước, yếu tố nước ngoài.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với các nước trong khu vực và quốc
tế, kèm với sự phát triển mạnh mẽ của giao lưu kinh tế - thương mại, văn hóa, du lịch, hôn
nhân với người nước ngoài là một xu hướng tất yếu và là quan hệ hôn nhân được luật pháp
Việt Nam bảo hộ. Hôn nhân là một phần quan trọng để xây dựng nên gia đình mà gia đình là
tế bào của xã hội. Chính vìthế việc quản lý của Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài
đòi hỏi phải chặt chẽ. Đặc biệt hoạt động quản lý nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước
2032
ngoài là hoạt động của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp nhằm thực
hiện các chức năng đối nội đối ngoại trên lĩnh vực hôn nhân. Quản lý Nhà nước về hôn nhân
có yếu tố nước ngoài là hoạt động hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sử
dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh các hành vi, cá nhân trong lĩnh vực hôn nhân có
yếu tố nước ngoài nhằm duy trì, phát triển, điều chỉnh và bảo vệ các mối quan hệ hôn nhân
có yếu tố nước ngoài.
Ở góc nhìn pháp luật, quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền
lực Nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động con người trên tất cả các
lĩnh vực đời sống xã hội, do cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện nằm thỏa mãn nhu
cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Quản lý Nhà nước
được hiểu theo theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy Nhà nước từ lập
pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thể thống nhất. Tuy nhiên, nếu hiểu theo
nghĩa hẹp thì quản lý nhà nước là hướng dẫn chấp hành, điều hành do các cơ quan hành
pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước. Theo đó, quản lý hành chính
nhà nước là các hoạt động được giới hạn trong các cơ quan hànhpháp. Chủ thể quản lý Nhà
nước là các cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước thuộc cơ quan
hành pháp như Chính phủ, UBND các cấp, hệ thống các cơ quan: quyền lực, xét xử và kiểm
sát. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quản lý Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài
là một nội dung trong hệ thống quản lý hành chính Nhà nước, thể hiện quyền lực Nhà nước
được tiếnhành bởi các chủ thể có quyền năng hành pháp nhằm chỉ đạo một cách trực tiếp và
thường xuyên đến đối tượng quản lý. Mỗi đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước sẽ mang
một đặc điểm riêng biệt; do đó, khi tiến hành hoạt động quản lý, các cơ quan Nhà nước, các
chủ thể có thẩm quyền ngoài việc tuân thủ các quy tắc chung được pháp luật quy định cần
lựa chọn những phương thức quản lý phù hợp với những đặc điểm đặc thù của đối tượng
chịu sự quản lý. Đây cũng chính là cơ sở tạo nên những đặc điểm riêng của các hoạt động
quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau. Nhìn chung, hoạt động quản lý nhà nước về
hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam có những đặc điểm như: quản lý Nhà
nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài là hoạt động được tiến hành mang tính quyền lực
Nhà nước; hoạt động quản lý Nhà nước được tiến hành bởi những chủ thể có quyền hành
pháp; hoạt động quản lý Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài có tính thống nhất
cao; hoạt động có tính liên tục với khách thể.
Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài có tính phức tạp và nhạy cảm nên các chủ thể
quản lý Nhà nước cần thể hiện chức năng quản lý của mình bằng nhiều hình thức hoạt động
khác nhau. Quản lý Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài là hoạt động rất cần thiết,
đóng vai trò quyết định trong việc triển khai có hiệu quả các quy định của pháp luật trong
toàn dân. Do đó, hoạt động này có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý, xây dựng, ổn
định và phát triển đất nước. Đối với vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài của Việt Nam
hiện nay, việc quản lý Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài không những đảm bảo
việc quản lý xã hội của Nhà nước mà còn góp phần đảm bảo về nhân quyền, về ổn định trật
tự xã hội.
2033
2 THỰC TRẠNG
Trong thời gian qua công tác quản lý Nhà nước đối với hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã
từng bước được nâng cao. Những quy định về hôn nhân có yếu tố nước ngoài được ban
hành và quản lý chặt chẽ hơn. Nhằm thực hiện tốt công việc quản lý Nhà nước về lĩnh vực
hôn nhân có yếu tố nước ngoài được chặt chẽ và ổn định và đem lại hiệu quả cao thì các cơ
quan nhà nước đã thực hiện các công tác sơ kết, tổng kết đánh giá thực tiễn để xác định
những mặt ưu điểm, nhược điểm của công tácquản lý hôn nhân có yếu tố nước ngoài, từ đó
tìm ra những nguyên nhân và cách khắc phục để hạn chế nhược điểm của công tác quản lý
Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, có thể thấy rằng, Pháp luật Việt Nam đã thể hiện được
chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng quan hệ kết hôn tự nguyện, tiến bộ, tuân
theo quy định của pháp luật Việt Nam. Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, hội
nhập quốc tế sâu rộng, pháp luật về hôn nhân và gia đình đã tạo ra bộ khung pháp lý quan
trọng trong việc ghi nhận và bảo hộ các quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam trong nước với công dân
Việt Nam định cư tại nước ngoài và giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt
Nam. Công tác quản lý Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã nhận được sự
quan tâm, chỉ đạo của Đảng, của hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước các cấp bằng hệ
thống các văn bản pháp luật.
Việc giải quyết đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của UBND cấp
huyện giúp người dân dễ dàng hơn trong việc đăng ký việc kết hôn. Các địa bàn vùng sâu
vùng xa dễ dàng hơn khi không phải đến tận UBND cấp tỉnh để thực hiện các thủ tục đăng
ký, không chỉ như vậy việc thay đổi thẩm quyền giải quyết công việc có yếu tố nước ngoài
còn giúp làm giảm gánh nặng cho UBND cấp tỉnh. Vì vậy, công tác quản lý Nhà nước đúng
thẩm quyền đã phát huy đúng năng lực trách nhiệm của chính quyền các cấp, tăng cường
tối đa vai trò quản lý Nhà nước của các cơ quan trên địa bàn tỉnh. Việc phân cấp này cũng
sẽ khắc phục được sự chồng chéo, bất cập, tiết kiệm được thời gian chi phí cho người dân
Việt, phụ nữ Việt Nam chiếm tỷ lệ lớn trong các mối quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
đặt ra vô vàn những khó khăn và thách thức trong công tác quản lýNhà nước về hôn nhân có
yếu tố nước ngoài. Việc gia tăng về cả tốc độ và số lượng sẽ kéo theo những rủi ro và hệ lụy
vô cùng nguy hiểm. Trên thực tế, trong những năm gần đây, tình trạng kết hôn giữa các cô
gái Việt Nam với người nước ngoài xuất phát từ mục đích giúp đỡ kinh tế gia đình ngày càng
phổ biến và có diễn biến phức tạp. Chưa kể đến việc tiến hành các thủ tục đăng ký kết hôn
ở một sốquốc gia quá đơn giản, dễ dàng và hầu hết phía phụ nữ Việt Nam vắng mặt khi đăng
ký kết hôn. Tìnhtrạng đó càng tạo cơ hội cho các công ty môi giới hôn nhân nước ngoài hoạt
động mạnh mẽ và sử dụng những hình thức quảng cáo xâm phạm đến danh dự nhân phẩm
của phụ nữ Việt Nam và làm ảnh hưởng đến uy tín quốc gia Việt Nam như dư luận báo chí
đã phản ánh trong thời gian gần đây. Kèm theo đó, sự gia tăng về nguy cơ tiềm ẩn các loại
tội phạm liên quan đến buôn bán phụ nữ là không thể tránh khỏi, điều này cũng đặt ra cho
nhà nước những thử thách đối với việc đảm trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Vì vậy,
việc đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý là vô cùng quan trọng và cấp thiết. Các yếu tố
2034
trong hoạt động quản lý cần được thực hiện một cách rõ ràng, chặt chẽ và có sự nhất quán
trên mọi mặt từ công tác ban hành văn bản và chủ tọa triển khai thực hiện, tổ chức bộ máy
thực hiện công tác quản lý, tổ chức thực hiện quy định pháp luật đến công tác thanh tra và
kiểm tra.
Hiện tượng lợi dụng việc kết hôn với người nước ngoài để hướng đến các quan hệ lợi ích.
Cụ thể đó là việc một bộ phận không nhỏ phụ nữ Việt Nam có xu hướng lấy chồng nước
ngoài, tất nhiên nếu những cuộc hôn nhân này là kết quả của tình yêu nam nữ thì không có
gì để nói, nhưng có những người phụ nữ hướng đến mục tiêu kinh tế, với suy nghĩ rất nông
cạn là “ở nước ngoài, dù gì cũng đỡ khổ, cũng tốt hơn ở quê”. Đây là suy nghĩ rất phổ biến
của các cô gái vùng thôn quê, có trình độ văn hoá thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn, muốn
lấy chồng nước ngoài mong cải thiện cuộcsống. Tất nhiên, những cuộc hôn nhân này, những
cuộc hôn nhân vì tiền chứ không có tình yêu, không xuất phát từ tình yêu chân chính thì
sớm muộn gì cũng sẽ đổ vỡ. Thậm chí, ở một số địa phương còn xảy ra tình trạng một số
phụ nữ đứng tuổi hoặc do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bị lừa sang Trung Quốc ép lấy
chồng hoặc sống như vợ chồng với đàn ông Trung Quốc mà không đăng ký kết hôn [4].
Vẫn còn không ít trường hợp kết hôn với người nước ngoài thông qua hoạt động môi giới;
thời gian tìm hiểu, quen biết quá ngắn và chưa được tư vấn đầy đủ, thiếu những hiểu biết
cần thiết về pháp luật, hôn nhân và gia đình, ngôn ngữ, phong tục tập quán của nước sở tại;
chưa tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài. Ở nước ta,
tình trạng phụ nữ lấy chồng nước ngoài chủ yếu tập trung ở khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long, một số tỉnh biên giới phía Bắc trong đó nhiều trường hợp thông qua môi giới bất hợp
pháp nên gặp phải nhiều rủi ro, trong hôn nhâncó khi bị lừa bán [5]. Mặt khác, công tác tuyên
truyền pháp luật về hôn nhân và gia đình từng nơi, từng lúc chưa đi vào chiều sâu do sự
phối hợp giữa các ngành, các cấp đôi lúc chưa được thường xuyên; hình thức thông tin
tuyên truyền qua báo, đài phản ánh tình hình phụ nữ Việt Nam lấy chồngnước ngoài còn hạn
chế và một số quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài chưa phù hợp,
gây khó khăn trong quá trình thực hiện [7].
3 KIẾN NGHỊ
Cần phải nhìn nhận rằng, hôn nhân có yếu tố nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh
hội nhập hiện nay và việc khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong vấn đề kết hôn có yếu
tố nước ngoài là một đòi hỏi cấp bách. Bởi lẽ, đây là vấn đề liên quan chặt chẽ đến xã hội,
đến con người cụ thể. Trong khi đó, những hạn chế, khó khăn liên quan đến quản lý Nhà
nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài hiện nay ảnh hưởng không ít đến sự ổn định trật tự
xã hội, làm phát sinh nhiều điều tiêu cực ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân và gia đình
của mỗi cá nhân [8]. Do đó, một số quy định cần được sửa đổi và bổ sung để phù hợp. Vì
vậy, nhóm tác giả xin được đưa ra một số kiến nghị sau đây:
Thứ nhất, phối hợp với các cơ quan có liên quan để nâng cao chất lượng quản lý nhà nước
trong lĩnh vực hôn nhân có yếu tố nước ngoài: cần huy động sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn
thể, nhất là Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ tạo ra những sân chơi vui tươi, lành
mạnh, cuốn hút thanh niên, tạo nhiều hội nhóm sinh hoạt, tuyên truyền, giáo dục phẩm chất,
2035
đạo đức con người Việt Nam, chống lối sống thực dụng, đua đòi, văn hóa ngoại lai trong một
bộ phận thanh niên. Đồng thời, tăng cường công tác dạy nghề giải quyết việc làm cho người
lao động, đặc biệt là phụ nữ vùng xa, vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số, những người bị buôn
bán hoặc do hôn nhân bất hạnh trở về quê hương. Đây là yếu tố có ý nghĩa then chốt của
vấn đề, khi có công ăn việc làm ổn định, không quá bị áp lực về vấn đề thu nhập con người
sẽ không rơi vào tình trạng nhắm mắt đưa chân. Hơn nữa, có việc làm không chỉ giúp con
người có thu nhập mà còn tăng thêm nhận thức về các hoạt động của mình để không đem
hôn nhân, hạnh phúc của cuộc đời mình ra đánh đổi.
Thứ hai, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
cho đội ngũ làm công tác thực hiện và quản lý Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài:
Pháp luật Việt Nam cần có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn tình trạng kết hôn giả tạo, xử lý
triệt để hoạt động môi giới hôn nhân trái phép. Cần củng cố và duy trì hoạt động của Trung
tâm Hỗ trợ kết hôn thành phố để hỗ trợ cho người có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài,
giúp các phụ nữ kết hôn có yếu tố nước ngoài có thông tin về đất nước, con người nơi họ sẽ
đến nhằm sớm hòa nhập, góp phần ngăn chặn các trường hợp bị lợi dụng trong hôn nhân,
hôn nhân bất hợp pháp. Thường xuyên thực hiện công tác giáo dục, chính trị, tư tưởng cho
đội ngũ cán bộ, công chức, đảm bảo đội ngũ cán bộ công chức làm công tác đăng ký và
quản lý Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài đủ năng lực chuyên môn và phẩm chất
đạo đức, luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao và chống lại sự quan liêu, tham
nhũng, né tránh trách nhiệm, thờ ơ, coi thường, lơ là trước những đòi hỏi của nhân dân,
chống phương pháp làm việc bàn giấy hình thức bên cạnh đó cũng cần có chính sách
khuyến khích, hỗ trợ cán bộ, công chức tự học nâng cao trình độ, đặc biệt là ngoại ngữ.
Đảm bảo được đội ngũ cán bộ, công chức vừa có năng lực chuyên môn vừa có đạo đức tốt
là một trong những điều kiện tiên quyết, quan trọng hàng đầu để tổ chức triển khai thực hiện
có hiệu quả pháp luật về hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Thứ ba, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các văn bản pháp luật có liên
quan đến hoạt động quản lý Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài: nhận thức của
chính những chủ thể tham gia vào quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài sẽ ảnh hưởng
không nhỏ đến công tác quản lý nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, là một trong
những yếu tố tác động đến quản lýNhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài và việc thay
đổi nhận thức này chính là nhiệm vụ của công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.
Thông thường, người dân chỉ quan tâm tới pháp luật khi bản thân họ phải rơi vào tình thế sự
việc miễn cưỡng, lợi ích bị xâm hại... dính líu tới pháp luật (kiện cáo, tranh chấp...). Bởi vậy,
cái khó của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là cần giải thích, phân tích
cho người dân hiểu được rằng, pháp luật không chỉ dùng để giải quyết những tranh chấp còn
bao gồm các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi họ tuân theo pháp
luật. Trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đa số chỉ đến cơ quan nhà nước khi cần
thực hiện thủ tục kết hôn, ly hôn, hoặc giải quyết những tranh chấp liên quan đến hôn nhân
và lúc đó các bên mới thật sự quan tâm đến pháp luật. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục về hôn nhân và gia đình để làm chuyển biến phần nào ý thức của người
dân trong việc kết hôn với người nước ngoài; cho họ biết những quy định pháp luật về điều
kiện kết hôn, những trường hợp cấm kết hôn; những hành vi lợi dụng hôn nhân nhằm mục
2036
đích trục lợi cho cá nhân hay tổ chức; cảnh báo những rủi ro cho công dân trong độ tuổi kết
hôn và các bậc cha mẹ về những rủi ro có thể gặp phải khi chấp nhận kết hôn với người
nước ngoài (những bất đồng ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, việc làm…); những điều
kiện để được nhập quốc tịch, cấp thẻ xanh,… Để đạt được mục đích trên, việc tuyên truyền,
phổ biến giáo dục pháp luật phải đa dạng, phong phú, phù hợp với đối tượng tuyên truyền
và và đặc biệt là phải thực hiện dưới nhiều hình thức có thể như tọa đàm cho đối tượng học
sinh cấp 3, đoàn viên thanh niên, những buổi nói chuyện, hoạt cảnh tình huống, lời ca, tiếng
hát,... trong các buổi sinh hoạt tại địa phương; câu chuyện pháp luật qua các hoạt cảnh trên
phát thanh hoặc truyền hình.
Đội ngũ làm công tác phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) cần tuyển chọn những người có
phẩm chất, năng lực, trình độ, có khả năng thu hút người nghe, có lòng nhiệt tình, say mê
với công việc PBGDPL. Và việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật không chỉ dừng lại ở đối
tượng là người dân mà ngay cả những cán bộ, công chức có liên quan đến công tác quản lý
nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài để nâng cao ý thức, thái độ tôn trọng pháp luật
để thực thi nhiệm vụ hiệu quả. Ngoài ra, cần áp dụng các quy định của pháp luật và hướng
dẫn của Bộ Tư pháp trên các phương tiện thông tin – trang web của Sở Tư pháp về việc kết
hôn có yếu tố nước ngoài để người dân có thể biết rõ để thực hiện tốt. Hiện nay, chỉ có Sở
Tư pháp là cơ quan đầu tiên áp dụng quản lý hộ tịch bằng website, bao gồm nhiều vấn đề:
kết hôn có yếu tố nước ngoài, lý lịch tư pháp, khai sinh, nhận cha mẹ con,… Tất cả các khâu
từ đăng ký hồ sơ cho đến khâu cuối cùng là hoàn thành và lưu hồ sơ đều được xử lý qua hệ
thống máy tính có nối mạng của sở. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã góp phần tiết kiệm
thời gian, công sức, tiền bạc của người dân và của các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một
ưu điểm cần được phát huy rộng rãi trong hệ thống các cơ quan Nhà nước, và cần phổ biến
rộng rãi để người dân biết và thực hiện đúng pháp luật.
4 KẾT LUẬN
Có thể thấy rằng, quản lý Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài đóng vai trò quan
trọng trong đời sống kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế hiện nay. Trong thời gian qua công tác
quản lý Nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã có nhiều chuyển biến tích cực so với
trước đây. Công tác quản lý Nhà nước đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài như:
giáo dục, tuyên truyền, phối hợp của các cơ quan từ trung ương đến địa phương được triển
khai thường xuyên hơn, đồng bộ hơn, phổ biến pháp luật, giám sát và thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc đảm bảo an ninh trật tự xã hội về hôn
nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng được nâng cao.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp cần nhận
thức sâu sắc rằng tình hình phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài là một vấn đề
liên quan đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, trật tự xã hội, đối
ngoại. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan nói trên cần tăng cường
thực hiện chức năng quản lýNhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các cơ quan và địa phương có liên quan để có biện
pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời tổ chức, cá nhân sai phạm, chấm dứt ngay tình trạng môi giới
kết hôn bất hợp pháp, làm lành mạnh hóa các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
2037
ngoài, đảm bảo thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, góp phần xây dựng gia
đình hạnh phúc, bền vững; tôn trọng, giữ gìn những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam, góp phần bảo vệ uy tín của dân tộc Việt Nam và của Nhà nước Việt Nam trong
quan hệ quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ luật Dân sự 2015.
[2] Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
[3] Chỉ thị số 15/2005/CT-UB về tăng cường quản lý Nhà nước đối với quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài.
[4] Hoàng Phương, Báo Thanh niên. “18.000 công dân Việt Nam kết hôn với người nước
dan-viet-nam-ket-hon- voi-nguoi-nuoc-ngoai-moi-nam-438073.html
[5] Quỳnh Giang. Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam. “Chống buôn bán người qua môi
ban-nguoi-qua-moi-gioi-hon-nhan-post182733.gd
[6] Phương Anh, Báo Dân sinh - cơ quan của Bộ LĐ-TB&XH, “Mỗi năm Việt Nam có
khoảng 18.000công dân kết hôn với người nước ngoài”. Nguồn:
nguoi-nuoc-ngoai-20200306151117877.htm
[7] Trọng Cần, báo Ấp Bắc. “Phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, thực trạng và giải
nguoi-nuoc-ngoai-thuc-trang-va-giai-phap-quan-ly-616772/
[8] Dân Kinh tế. “Một số kiến nghị về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài thông qua việc
so-kien-nghi-ve-van- de-ket-hon-co-yeu-to-nuoc-ngoai-thong-qua-viec-tim-hieu-tai-so-
tu-phap-tp-hcm
2038
Bạn đang xem tài liệu "Một số ý kiến về quản lý nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_y_kien_ve_quan_ly_nha_nuoc_ve_hon_nhan_co_yeu_to_nuoc.pdf

