Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

1
CHUYÊN MỤC  
TRIẾT HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC - XÃ HỘI HỌC  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN  
DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN  
TRẦN BÁ HÙNG*  
Để đảm bảo xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do  
nhân dân và vì nhân dân, nhà nước Việt Nam đã xây dựng và từng bước hoàn  
thiện hệ thống pháp luật về các quyền công dân. Việc xây dựng và hoàn thiện  
pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn sẽ tạo ra cơ sở pháp lý để người  
dân có thể thực hiện các quyền dân chủ của mình, đồng thời cũng là cơ sở để  
Nhà nước đảm bảo thực hiện các quyền của người dân. Bài viết tìm hiểu thực  
trạng pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn hiện nay và đề xuất các hướng  
hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về lĩnh vực này.  
Từ khóa: pháp luật, dân chủ cơ sở, chính quyền cấp xã  
Nhận bài ngày: 15/8/2020; đưa vào biên tập: 20/8/2020; phản biện: 3/9/2020; duyệt  
đăng: 24/9/2020  
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÂN CHỦ Công nguyên. Theo tiếng Hy Lạp cổ  
Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN VÀ PHÁP  
LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƯỜNG,  
THỊ TRẤN  
dân chủ là do từ “demos” là nhân dân và  
“kuatos” là quyền lực hay chính quyền  
hợp thành. “Demoskratia” - dân chủ –  
có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân  
dân (Nguyễn Minh Tuấn, 2007). Đây là  
thuật ngữ thời sơ khai trong xây dựng  
nhà nước cổ đại, nêu vai trò, trách  
nhiệm của người dân đối với đất nước.  
Dân chủ còn được hiểu là hình thức tổ  
chức thiết chế chính trị của xã hội dựa  
trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn  
gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên  
tắc bình đẳng, tự do và quyền con  
1.1. Khái lược về dân chủ và dân  
chủ ở xã, phường, thị trấn  
Khái niệm dân chủ được tiếp cận dưới  
nhiều góc độ khác nhau, khái niệm  
này xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại  
vào khoảng thế kỷ thứ VII-VI trước  
* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân  
văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí  
Minh.  
2
TRẦN BÁ HÙNG – HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆNꢀ  
người (Hoàng Minh Nghĩa, 2003: 106).  
chủ nghĩa, thể hiện được bản chất tất  
cả quyền lực nhà nước vì nhân dân.  
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -  
Lênin thì dân chủ là một hiện tượng  
lịch sử gắn liền với xã hội có giai cấp  
và được biến đổi dưới nhiều hình thức  
khác nhau trong điều kiện tương ứng  
của các hình thái kinh tế - xã hội (C.  
Mác và Ph. Ăng ghen, 1976: 51).  
1.2. Pháp luật về dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn  
Pháp luật về dân chủ ở xã, phường,  
thị trấn là hệ thống các quy tắc xử sự  
chung do cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền ban hành nhằm tạo cơ sở pháp  
lý cho việc thực hiện dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn. Pháp luật về dân chủ  
ở xã, phường, thị trấn cũng được hiểu  
là một hệ thống các chuẩn mực, yêu  
cầu các cơ quan, đơn vị, tổ chức phải  
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ  
của mình có liên quan đến quyền, lợi  
ích người dân ở xã, phường, thị trấn.  
Đối với Việt Nam, để đảm bảo xây  
dựng nhà nước pháp quyền xã hội  
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân  
và vì nhân dân, chính quyền các cấp  
cần tạo điều kiện để người dân có thể  
thực hiện các quyền dân chủ, đặc biệt  
là tại chính quyền cơ sở(1), bởi “Cấp  
xã là cấp gần dân nhất” (Hồ Chí Minh,  
1995: 371). Chính quyền xã, phường,  
thị trấn có vị trí, vai trò đặc biệt quan  
trọng trong hệ thống chính trị, đồng  
thời đây là cấp gần dân nhất, cụ thể  
hóa các chủ trương, đường lối của  
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà  
nước đến với người dân.  
Pháp luật về dân chủ ở xã, phường,  
thị trấn tập trung vào những vấn đề  
chính như:  
- Nguyên tắc thực hiện dân chủ;  
- Các hành vi cấm;  
- Quyền và nghĩa vụ của người dân  
trong thực hiện dân chủ ở xã, phường,  
thị trấn;  
Dân chủ ở xã, phường, thị trấn là một  
nội dung của dân chủ ở cơ sở. Dân  
chủ ở xã, phường, thị trấn có thể  
được hiểu là việc phát huy và đảm  
bảo các quyền của nhân dân, đảm  
bảo thực hiện tốt các quyền và lợi ích  
hợp pháp của nhân dân là những biểu  
hiện bảo đảm cho người dân làm chủ  
trực tiếp ở địa bàn cấp xã nơi người  
dân sống và làm việc.  
- Quyền và nghĩa vụ của các cơ quan  
nhà nước, các cán bộ, công chức  
trong việc đảm bảo thực hiện dân chủ  
xã, phường, thị trấn;  
- Nội dung thực hiện dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn bao gồm dân biết,  
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra;  
- Hình thức thực hiện dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn.  
Dân chủ ở xã, phường, thị trấn có vai  
trò quan trọng trong xây dựng nhà  
nước dân chủ, đảm bảo các quyền và  
lợi ích của người dân (Trần Bá Hùng,  
2020: 69). Đây là nền tảng trong xây  
dựng nhà nước pháp quyền xã hội  
2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ  
DÂN CHỦ Ở XÃ PHƯỜNG, THỊ TRẤN  
HIỆN NAY  
2.1. Quá trình hình thành và phát  
triển của pháp luật về dân chủ ở xã,  
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
phường, thị trấn  
vụ Quốc hội về việc ban hành Quy  
chế thực hiện dân chủ. “Trên cơ sở  
Nghị quyết này, Ủy ban Thường vụ  
Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan  
nhà nước khác cũng triển khai hàng  
loạt các văn bản hướng dẫn thi hành  
đối với từng loại hình cơ sở, trong đó  
có pháp luật về dân chủ ở xã, phường,  
thị trấn” (Nguyễn Thị Minh Châu,  
2018).  
Hiện nay mặc dù Việt Nam chưa có  
ngành luật riêng quy định về dân chủ  
cơ sở nhưng vấn đề dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn được đề cập ở rất  
nhiều văn bản pháp luật khác nhau.  
Pháp luật về dân chủ ở xã, phường,  
thị trấn được thay đổi và hoàn thiện  
qua thời gian.  
Qua các bản Hiến pháp thì thuật ngữ  
dân chủ xã, phường, thị trấn không  
được đề cập trực tiếp mà được đề  
cập thông qua các quyền của người  
dân nói chung. Hiến pháp năm 1946  
khẳng định “Nước Việt Nam là một  
nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền  
bính trong nước là của toàn thể nhân  
dân Việt Nam, không phân biệt nòi  
giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp,  
tôn giáo”. Kế thừa và phát huy tư  
tưởng ấy, Hiến pháp 1959, 1980,  
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và  
Hiến pháp 2013 đều tiếp tục khẳng  
định điều này. Khoản 1, Điều 2, Hiến  
pháp 2013 khẳng định “Nhà nước  
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  
là nhà nước pháp quyền xã hội chủ  
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì  
nhân dân”. Nhà nước có trách nhiệm  
tôn trọng và đảm bảo các quyền dân  
chủ của nhân dân từ kinh tế, chính trị,  
văn hóa, xã hộiꢀ Trong các quyền đó  
có quyền dân chủ ở xã, phường, thị  
trấn.  
Ngày 11/5/1998 Chính phủ đã ban  
hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về  
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn. Đồng thời, Thủ  
tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị  
số 22/1998/CT-TTg ngày 15/5/1998  
về việc triển khai quy chế dân chủ ở  
xã, phường, thị trấn. Ngày 06/7/1998,  
Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ(2) đã  
ban hành Thông tư số 03/1998/TT-  
TCCP về hướng dẫn áp dụng Quy  
chế thực hiện dân chủ ở xã, phường  
và thị trấn.  
Sau một thời gian áp dụng, để hoàn  
thiện các quy định về thực hiện dân  
chủ ở xã, phường, thị trấn, Chính phủ  
đã ban hành Nghị định số 79/2003/  
NĐ-CP ngày 07/7/2003 về Quy chế  
thực hiện dân chủ ở xã, thay thế Nghị  
định số 29/1998/CP ngày 11/5/1998.  
Sau đó, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông  
tư số 12/2004/TT-BNV ngày 20/2/2004  
về hướng dẫn thực hiện quy chế dân  
chủ ở xã, phường, thị trấn.  
Một trong những văn bản pháp lý đầu  
tiên đề cập đến vấn đề dân chủ nói  
chung và dân chủ cơ sở nói riêng là  
Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10  
ngày 26/02/1998 của Ủy ban Thường  
Với việc cần phải “nâng tầm” các quy  
định về dân chủ ở xã, phường, thị trấn  
thì ngày 20/4/2007, Ủy ban Thường  
vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh  
số 34/2007/PL-UBTVQH11 thực hiện  
4
TRẦN BÁ HÙNG – HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆNꢀ  
dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Để cụ ích hợp pháp của người dân. Ngày  
thể hóa nội dung của Pháp lệnh, nay với sự phát triển mạnh mẽ của xu  
Chính phủ đã phối hợp với Ủy ban hướng dân chủ hóa các lĩnh vực của  
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt đời sống kinh tế - xã hội thì vấn đề  
Nam ban hành Nghị quyết liên tịch số dân chủ cơ sở càng được quan tâm  
9/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày từ phía người dân và chính quyền các  
17/4/2008 về hướng dẫn thi hành các cấp. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chỉ  
điều 11, 14, 16, 22, 26 của Pháp lệnh mới dừng lại ở pháp lệnh mà chưa có  
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị luật về thực hiện dân chủ cơ sở. Vì  
trấn.  
vậy tính chất pháp lý của pháp luật về  
dân chủ cơ sở chưa cao. Điều này tạo  
ra nhiều khó khăn trong thực hiện dân  
chủ ở xã, phường, thị trấn.  
Như vậy, hiện nay văn bản quy phạm  
pháp luật trực tiếp điều chỉnh về dân  
chủ ở xã, phường, thị trấn là Pháp  
lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về  
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị  
trấn (gọi chung là Pháp lệnh 34). Việc  
ban hành Pháp lệnh thực hiện dân  
chủ ở xã, phường, thị trấn đã đánh  
dấu một bước phát triển mới trong  
việc phát huy dân chủ xã hội chủ  
nghĩa cũng như xây dựng nhà nước  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của  
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân  
trong bối cảnh phát triển nền kinh tế  
thị trường định hướng xã hội chủ  
nghĩa hiện nay.  
Vấn đề dân chủ ở xã, phường, thị trấn  
là vấn đề quan trọng, tuy nhiên toàn  
bộ Pháp lệnh 34 chỉ có 28 điều, do đó  
chưa thể khẳng định được tầm quan  
trọng của dân chủ cơ sở. Trong khi đó  
dân chủ cơ sở đã được khẳng định  
trong các bản hiến pháp, nhất là Hiến  
pháp 2013. Vì vậy, cần thiết phải  
được luật hóa, chứ không chỉ dừng lại  
ở việc quy định trong pháp lệnh.  
Hầu hết các pháp lệnh sau một thời  
gian ban hành thì được nâng cấp  
thành luật để nâng cao giá trị pháp lý  
của vấn đề điều chỉnh như Pháp lệnh  
Cán bộ công chức năm 1998, sửa đổi,  
bổ sung năm 2002 và năm 2003 được  
nâng cấp thành Luật Cán bộ công  
chức năm 2008, sửa đổi bổ sung năm  
2019; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành  
chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung  
năm 2007 và 2008 được nâng cấp  
thành Luật Xử lý vi phạm hành chính  
năm 2012; Pháp lệnh Giải quyết khiếu  
nại tố cáo năm 1991 được nâng cấp  
thành Luật Khiếu nại, tố cáo năm  
1998 (nay là Luật Khiếu nại năm 2011  
2.2. Đánh giá thực trạng pháp luật  
về dân chủ ở xã, phường, thị trấn  
Thực tiễn thực hiện các quy định pháp  
luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn  
trong thời gian qua đã đặt ra một số  
vấn đề cơ bản sau đây:  
Thứ nhất, pháp luật về dân chủ ở  
xã, phường, thị trấn hiện nay chưa  
tương xứng với vị trí, vai trò của  
dân chủ cơ sở  
Dân chủ cơ sở có vai trò quan trọng  
đối với việc đảm bảo các quyền và lợi  
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
và Luật Tố cáo năm 2018)... So sánh Tại Điều 9 quy định về trách nhiệm tổ  
như vậy để thấy rằng đến nay đã trải chức thực hiện các nội dung công  
khai cũng chỉ quy định trách nhiệm  
của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã,  
Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân  
dân cấp xã mà không quy định trách  
nhiệm kiểm tra, giám sát cũng như  
đảm bảo thực hiện của cấp tỉnh và  
cấp huyện.  
qua 13 năm thi hành, Pháp lệnh 34  
cần được nâng cấp thành luật để  
tương xứng với vai trò của vấn đề dân  
chủ cơ sở.  
Thứ hai, pháp luật về dân chủ xã  
phường, thị trấn hiện nay còn quy  
định chung chung, chưa cụ thể  
Hai là, các nội dung quy định về việc  
dân bàn, biểu quyết và quyết định còn  
khá ít.  
Mặc dù Pháp lệnh 34 đã quy định  
nhiều nội dung liên quan đến thực  
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn  
tuy nhiên còn khiêm tốn, chưa đáp  
ứng được yêu cầu của người dân.  
Nhiều nội dung chưa được đề cập  
một cách cụ thể và chi tiết. Chẳng hạn:  
Điều 10 đề cập “chủ trương và mức  
đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng,  
các công trình phúc lợi công cộng  
trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố  
do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc  
một phần kinh phí và các công việc  
khác trong nội bộ cộng đồng dân cư  
phù hợp với quy định của pháp luật”  
(Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2007).  
Thực tiễn ở chính quyền cấp xã có  
nhiều vấn đề phát sinh có thể đưa ra  
dân bàn và quyết định trực tiếp nhưng  
không được đề cập như vấn đề bình  
xét hộ nghèo, xét duyệt các danh hiệu  
gia đình văn hóaꢀ  
Một là, Pháp lệnh chưa quy định cụ  
thể, rõ ràng thẩm quyền, chức năng,  
cơ chế để các cấp hành chính cao  
hơn như cấp tỉnh, cấp huyện trong  
việc theo dõi, kiểm tra và đánh giá  
việc chính quyền cấp xã triển khai  
thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp  
xã.  
Cụ thể, tại Điều 3 chỉ đề cập đến trách  
nhiệm của Ủy ban Nhân dân xã, Hội  
đồng Nhân dân xã, các tổ chức chính  
trị - xã hội ở cấp xã trong việc tổ chức  
thực hiện dân chủ ở cấp xã mà không  
quy định cụ thể trách nhiệm tổ chức  
triển khai thực hiện cũng như cơ chế  
kiểm tra, giám sát việc thực hiện dân  
chủ cơ sở của cấp huyện và cấp tỉnh.  
Điều này dẫn tới khó khăn trong quá  
trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ  
sở đối với những vấn đề có tính phức  
tạp, cần nhiều cấp có ý kiến thông qua  
mới được công khai hoặc thông tin kịp  
thời để người dân biết.  
Ngoài ra, Điều 13 chỉ quy định 3 vấn  
đề đưa ra để dân bàn, biểu quyết:  
“Hương ước, quy ước của thôn, tổ  
dân phố; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm  
trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố;  
bầu, bãi nhiệm thành viên Ban Thanh  
tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư  
của cộng đồng” (Ủy ban Thường vụ  
Quốc hội, 2007). Những nội dung  
người dân tham gia bàn, biểu quyết  
còn khá khiêm tốn và chưa thể hiện  
được tính đa dạng, phong phú. Những  
6
TRẦN BÁ HÙNG – HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆNꢀ  
nội dung để người dân bàn, biểu cụ thể trách nhiệm cá nhân, trách  
quyết chủ yếu liên quan đến các đơn  
vị tự quản ở cơ sở (khu phố, tổ dân  
phố, ấp, thôn bảnꢀ) mà chưa gắn với  
hoạt động của chính quyền cấp xã  
(các hoạt động của Hội đồng Nhân  
dân và Ủy ban Nhân dân cấp xã). Các  
nội dung như người dân tham gia bàn  
bạc về các kế hoạch phát triển kinh tế  
- xã hội, các chương trình, dự án cấp  
xã chưa được quy định; trong khi đó  
đây là những nội dung gắn với hoạt  
động của chính quyền cấp xã cũng  
như liên quan trực tiếp đến quyền và  
lợi ích hợp pháp của người dân. Bên  
cạnh đó, việc người dân tham gia  
đánh giá hoạt động của đội ngũ cán  
bộ, công chức cấp xã cũng chưa  
được quy định trong Pháp lệnh.  
nhiệm của người đứng đầu trong việc  
tuân thủ hoặc không tuân thủ pháp  
luật về lĩnh vực này. Do đó, khi có vi  
phạm xảy ra thì việc xử lý còn hạn chế,  
bị động. Trong toàn bộ nội dung của  
Pháp lệnh 34 không đề cập đến biện  
pháp xử lý đối với các cá nhân, tổ  
chức không thực hiện hoặc thực hiện  
không đúng nội dung của Pháp lệnh;  
và cũng chưa quy định cơ chế tham  
gia thực hiện cũng như tham gia giám  
sát việc thực hiện các nội dung dân  
chủ cơ sở của Mặt trận Tổ quốc Việt  
Nam, các tổ chức thành viên ở cấp xã  
và những người đứng đầu các tổ  
chức này.  
Thứ ba, hiện nay chưa có các văn  
bản hướng dẫn chi tiết các nội  
dung quy định trong Pháp lệnh 34  
Ba là, Pháp lệnh chưa quy định cụ thể  
trách nhiệm thực hiện dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn của cơ quan nhà  
nước và cán bộ, công chức và chế tài  
nếu sai phạm.  
Điều 19 của Luật ban hành văn bản  
quy phạm pháp luật năm 2015, sửa  
đổi, bổ sung năm 2019 quy định  
“Chính phủ ban hành nghị định để quy  
định chi tiết điều, khoản, điểm được  
giao trong luật, nghị quyết của Quốc  
hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban  
Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định  
của Chủ tịch nước”. Đồng thời Khoản  
1, Điều 24 của luật này cũng quy định  
“Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan  
ngang bộ ban hành thông tư để quy  
định chi tiết điều, khoản, điểm được  
giao trong luật, nghị quyết của Quốc  
hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban  
Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định  
của Chủ tịch nước, nghị định của  
Chính phủ, quyết định của Thủ tướng  
Chính phủ”. Tuy nhiên đến nay, Chính  
Tại Điều 3 của Pháp lệnh có quy định  
trách nhiệm thực hiện dân chủ ở cấp  
xã, tuy nhiên, quy định này còn chung  
chung, dẫn đến việc khó xác định  
trách nhiệm của các chủ thể này.  
Đồng thời, Pháp lệnh 34 chưa quy  
định cụ thể trách nhiệm trong việc  
thực hiện các nội dung “Dân biết”,  
“Dân bàn”, “Dân làm”, “Dân kiểm tra”;  
các biện pháp xử lý, chế tài đối với  
các cơ quan nhà nước, cán bộ, công  
chức khi chưa thực hiện hoặc thực  
hiện không đúng dân chủ cơ sở. Pháp  
luật hiện hành về dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn cũng chưa quy định  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
phủ và Bộ Nội vụ vẫn chưa ban hành Quốc hội đã bãi bỏ Điều 26 của Pháp  
Nghị định và Thông tư hướng dẫn chi lệnh 34. Như vậy cần thiết phải sửa  
tiết việc thực hiện Pháp lệnh 34. Việc đổi nội dung trong Pháp lệnh 34.  
thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết  
Bên cạnh đó, 11 nội dung công khai  
đã gây nhiều khó khăn cho người dân  
được quy định tại Điều 5 của Pháp  
và chính quyền cấp xã trong quá trình  
lệnh 34 như kế hoạch phát triển kinh  
thực hiện các nội dung quy định trong  
tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ  
pháp lệnh.  
cấu kinh tế và dự toán, quyết toán  
Thứ tư, pháp luật về dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn chưa đồng bộ với  
các quy định pháp luật có liên quan  
khác.  
ngân sách hằng năm của cấp xã;  
nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ,  
công chức cấp xã trực tiếp giải quyết  
các công việc của nhân dân; việc  
quản lý và sử dụng các loại quỹ,  
khoản đầu tư, tài trợ theo chương  
trình, dự án đối với cấp xã; các khoản  
huy động nhân dân đóng gópꢀ (Ủy  
ban Thường vụ Quốc hội, 2007) thì  
cần phải cập nhật thêm các nội dung  
công khai quy định tại Điều 17 của  
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 như  
các nội dung thông tin về dự toán  
ngân sách nhà nước; báo cáo tình  
hình thực hiện ngân sách nhà nước;  
quyết toán ngân sách nhà nước; dự  
toán, tình hình thực hiện, quyết toán  
ngân sách đối với các chương trình,  
dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử  
dụng vốn ngân sách nhà nước; thủ  
tục ngân sách nhà nước; báo cáo  
công tác định kỳ; báo cáo tài chính  
năm; nội dung và kết quả trưng cầu ý  
dân, tiếp thu ý kiến của nhân dân đối  
với những vấn đề thuộc thẩm quyền  
quyết định của cơ quan nhà nước mà  
đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy  
định của pháp luật;ꢀ  
Hiện nay Quốc hội, Ủy ban Thường  
vụ Quốc hội và Chính phủ đã ban  
hành nhiều văn bản quy phạm pháp  
luật nhằm đảm bảo thực hiện các  
quyền của công dân như Luật Khiếu  
nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011,  
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016,  
Luật Trưng cầu dân ý năm 2015...  
Các văn bản quy phạm này cũng đã  
quy định về cơ chế thực hiện quyền  
của người dân. Tuy nhiên, hiện nay  
Pháp lệnh Dân chủ ở xã, phường, thị  
trấn chưa được điều chỉnh để phù  
hợp với các quy định pháp luật này.  
Cụ thể, Điều 26 quy định về lấy phiếu  
tín nhiệm không còn hiệu lực, do  
Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số  
35/2012/QH13 ngày 21/11/2012 về việc  
lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín  
nhiệm đối với người giữ chức vụ do  
Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu  
hoặc phê chuẩn và Nghị quyết số  
516/2013/UBTVQH13 ngày 16/01/2013  
hướng dẫn thi hành một số điều của  
Nghị quyết số 35/2012/QH13. Tại  
Khoản 2, Điều 15 của Nghị quyết số  
35/2012/QH13 thì Ủy ban Thường vụ  
Bên cạnh những bất cập đã nêu và  
phân tích ở trên thì Pháp lệnh 34  
chưa quy định cụ thể trách nhiệm của  
8
TRẦN BÁ HÙNG – HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆNꢀ  
người dân trong việc thực hiện dân quy chế dân chủ ở cơ sở; cụ thể hóa  
quy định của Hiến pháp năm 2013 về  
quyền dân chủ của nhân dân; đảm  
bảo sự đồng bộ, thống nhất của hệ  
thống pháp luật và giải quyết kịp thời  
những hạn chế, bất cập trong thực  
tiễn.  
chủ cơ sở, hình thức người dân yêu  
cầu cung cấp thông tin.  
3. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ HOÀN  
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở  
XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN  
Trên cơ sở những vấn đề đặt ra đối  
với pháp luật về dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn trong thời gian qua,  
chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau  
đây:  
Luật thực hiện dân chủ cơ sở cần làm  
rõ các nội dung sau:  
- Xác định phạm vi, đối tượng áp dụng;  
- Giải thích các thuật ngữ liên quan  
đến thực hiện dân chủ cơ sở;  
Thứ nhất, sớm ban hành luật thực  
hiện dân chủ ở cơ sở  
- Quy định các nguyên tắc thực hiện  
dân chủ cơ sở;  
Dân chủ và dân chủ cơ sở là một vấn  
đề được hiến định qua các bản hiến  
pháp, nhất là Hiến pháp năm 2013,  
do đó Quốc hội cần nghiên cứu để  
“nâng cấp” Pháp lệnh số 34/2007/PL-  
UBTVQH11 thành luật thực hiện dân  
chủ ở cơ sở. Bộ Nội vụ cần sớm tham  
mưu, đề xuất Chính phủ để trình Quốc  
hội xem xét đưa việc xây dựng luật  
thực hiện dân chủ ở cơ sở vào  
chương trình xây dựng luật. Với việc  
“nâng tầm” thành luật sẽ khẳng định  
quyền dân chủ và sự tham gia của  
người dân, để đảm bảo các quyền  
dân chủ của người dân ở xã, phường,  
thị trấn. Việc xây dựng, ban hành luật  
thực hiện dân chủ ở cơ sở trong thời  
gian tới là một yêu cầu cấp thiết,  
khách quan và nhằm cụ thể hóa các  
quy định của Hiến pháp năm 2013 về  
xây dựng nhà nước pháp quyền, việc  
thực hiện và đảm bảo quyền dân chủ  
của người dân. Ban hành luật thực  
hiện dân chủ cơ sở là một bước nhằm  
- Quy định quyền và nghĩa vụ của  
người dân, các cá nhân, tổ chức;  
- Quy định trách nhiệm của chính  
quyền cấp xã và các tổ chức chính trị  
- xã hội trong thực hiện dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn;  
- Quy định về trách nhiệm kiểm tra,  
giám sát của chính quyền cấp huyện  
và cấp tỉnh trong việc thực hiện dân  
chủ ở xã, phường, thị trấn;  
- Quy định về các hành vi cấm;  
- Quy định các nội dung và hình thức  
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị  
trấn;  
- Quy định về nội dung quản lý nhà  
nước về thực hiện dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn.  
Thứ hai, hoàn thiện các nội dung và  
hướng dẫn chi tiết các quy định  
pháp luật về dân chủ ở xã, phường,  
thị trấn.  
Trong thời gian tới, Chính phủ và Bộ  
thể chế hóa chủ trương, đường lối Nội vụ cần có nghị định và thông tư để  
của Đảng về xây dựng và thực hiện cụ thể hóa và hướng dẫn chi tiết việc  
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
thực hiện các nội dung thực hiện dân tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền  
chủ ở xã, phường, thị trấn. Cần có  
quy định hướng dẫn thực hiện các nội  
dung “Dân biết”, “Dân bàn”, “Dân làm”,  
“Dân kiểm tra” trong Pháp lệnh 34.  
hạn và sơ đồ tổ chức của các cơ quan,  
đơn vị, bộ phận của chính quyền cấp  
xã; thủ tục hành chính của cấp xã;  
phân công công việc; lịch làm việc;  
lịch hẹn; số điện thoại; số fax; địa chỉ  
email của cán bộ, công chức giải  
quyết công việc được phân công liên  
quan đến nhân dân; địa chỉ, trụ sở của  
cơ quan; địa điểm và người có thẩm  
quyền giải quyết công việc của công  
dân; thông tin mà chính quyền cấp xã  
nhận được từ các cơ quan nhà nước  
để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của  
mình và thông tin có liên quan đến  
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của  
công dân; thông tin về dự toán ngân  
sách nhà nước; báo cáo tình hình  
thực hiện ngân sách nhà nước; quyết  
toán ngân sách nhà nước; dự toán,  
tình hình thực hiện, quyết toán ngân  
sách đối với các chương trình, dự án  
đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn  
ngân sách nhà nước; báo cáo công  
tác định kỳ; báo cáo tài chính năm; nội  
dung và kết quả trưng cầu ý dân, tiếp  
thu ý kiến của nhân dân đối với những  
vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định  
của cơ quan nhà nước mà đưa ra lấy  
ý kiến nhân dân theo quy định của  
pháp luật.  
Pháp luật về dân chủ ở xã, phường,  
thị trấn cần sửa đổi, bổ sung, hoàn  
thiện các nội dung sau đây:  
- Cần bãi bỏ nội dung của Điều 26 để  
phù hợp với quy định của Nghị quyết  
số 35/2012/QH13 ngày 21/11/2012  
của Quốc hội về việc lấy phiếu tín  
nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với  
người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội  
đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.  
- Bổ sung thêm các nội dung dân bàn  
và quyết định trực tiếp tại Điều 10 như  
bình xét hộ nghèo, bình xét gia đình  
văn hóa, quyết định sử dụng nguồn  
kinh phí đóng góp của người dânꢀ  
- Bổ sung thêm các quy định về hình  
thức thực hiện dân chủ trực tiếp của  
nhân dân ở xã, phường, thị trấn tại  
Điều 13, như nhân dân được tham  
gia bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chủ  
tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân  
và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban  
Nhân dân cấp xã hay việc tham gia  
đánh giá đối với cán bộ, công chức  
hằng năm, tham gia đóng góp ý kiến  
đối với các kế hoạch phát triển kinh  
tế - xã hội, các chương trình, dự án  
của chính quyền cấp xã, đóng góp  
vào xây dựng và thực hiện các quyết  
định hành chính của chính quyền cấp  
xãꢀ  
- Bổ sung các hình thức công khai  
thông tin vào Chương II của Pháp  
lệnh 34, như công khai thông tin thông  
qua việc lấy ý kiến nhân dân, cơ chế  
đối thoại, tiếp công dân của Ủy ban  
Nhân dân cấp xã; đồng thời công khai  
thông tin bằng các hình thức khác  
thuận lợi cho công dân do cơ quan có  
- Quy định bổ sung các nội dung công  
khai thông tin vào Điều 5, như thông  
10  
TRẦN BÁ HÙNG – HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆNꢀ  
trách nhiệm công khai thông tin xác Nghị định quy định về đánh giá cán bộ,  
định; bổ sung các hình thức công khai công chức cần phải đưa quy định gắn  
thông qua cổng thông tin điện tử gắn việc thực hiện dân chủ cơ sở với tiêu  
với cách mạng công nghiệp 4.0.  
chí đánh giá, phân loại cán bộ, công  
chức cấp xã hằng năm.  
- Bổ sung thêm quy định về trách  
nhiệm của người dân trong thực hiện - Bổ sung quy định về trách nhiệm của  
dân chủ cơ sở.  
chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện trong  
việc theo dõi, kiểm tra và đánh giá  
việc chính quyền cấp xã triển khai  
thực hiện pháp luật về dân chủ. Trong  
đó, cần quy định thời gian kiểm tra,  
hình thức kiểm tra, tiêu chí đánh giá  
và chế tài xử lý khi kiểm tra, đánh giá  
việc thực hiện dân chủ ở xã, phường,  
thị trấn.  
- Bổ sung thêm các hành vi cấm, các  
chế tài đối với chính quyền cấp xã và  
cán bộ, công chức cấp xã không thực  
hiện hoặc thực hiện không đúng các  
quy định pháp luật về dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn.  
- Bổ sung quy định trách nhiệm cá  
nhân của những cán bộ lãnh đạo chủ  
chốt cấp xã như Bí thư Đảng ủy, Chủ  
tịch Hội đồng Nhân dân, Chủ tịch Ủy  
ban Nhân dân cấp xã, người đứng  
đầu các tổ chức chính trị xã hội ở cấp  
xã trong tổ chức thực hiện pháp luật  
về dân chủ ở cấp xã. Trong đó quy  
định trách nhiệm tham gia các cuộc  
họp ấp, tổ dân phố, khu phố đối với  
các chức danh này; trách nhiệm tổ  
chức đối thoại với người dân; trách  
nhiệm lấy ý kiến người dân khi xây  
dựng kế hoạch, chương trình phát  
triển kinh tế - xã hội... Những nơi  
Thứ ba, đảm bảo tính thống nhất  
giữa pháp luật về dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn với các quy định  
khác có liên quan  
Đổi mới các quy định của pháp luật về  
dân chủ ở xã, phường, thị trấn theo  
hướng rà soát, so sánh, đối chiếu giữa  
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11  
với Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố  
cáo năm 2011, Luật Tiếp cận thông tin  
năm 2016, Luật Trưng cầu dân ý năm  
2015... để quy định rõ những vấn đề,  
nội dung hình thức tham gia; các vấn  
không thực hiện hoặc thực hiện mang đề liên quan đến quyền, lợi ích của  
tính hình thức, đối phó, không hiệu người dân cần được công khai, cung  
quả, để xảy ra các vụ việc sai phạm... cấp thông tin kịp thời bằng các  
thì những chức danh trên phải chịu  
trách nhiệm cá nhân trước nhân dân  
địa phương, trước pháp luật. Ngoài ra,  
phương thức khác nhau để người dân  
được biết, được kiểm tra, được bàn;  
những vấn đề về trưng cầu dân ýꢀ  
ß
CHÚ THÍCH  
(1) Chính quyền cơ sở là chính quyền cấp xã bao gồm chính quyền xã, phường, thị trấn.  
(2) Nay là Bộ Nội vụ.  
11  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Hồ Chí Minh. 1995. Toàn tập - tập 5. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
2. Hoàng Minh Nghĩa. 2003. “Dân chủ và việc thực hiện quyền dân chủ”. Tạp chí  
Nghiên cứu Lập pháp, số tháng 1/2003.  
3. C . Mác và Ph. Ăngghen. 1976. Tuyên ngôn Đảng cộng sản (tái bản). Hà Nội: Nxb.  
Chính trị Quốc gia.  
4. Nguyễn Minh Tuấn. 2007. Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới. Hà Nội: Nxb. Chính  
trị Quốc gia.  
5. Nguyễn Thị Minh Châu. 2018. “Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở ở  
Việt Nam”. Tạp chí Tổ chức nhà nước, số tháng 12/2018.  
6. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 1946. Hiến pháp năm 1946.  
Hà Nội.  
7. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 2013. Hiến pháp năm 2013.  
Hà Nội.  
8. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 2015. Luật Ban hành văn bản  
quy phạm pháp luật. Hà Nội.  
9. Trần Bá Hùng. 2020. “Thu hút sự tham gia của người dân vào hoạt động chính quyền  
cấp xã”. Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 291 (4/2020).  
10. Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 2007. Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày  
20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Hà Nội.  
pdf 11 trang Thùy Anh 7820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_phap_luat_ve_thuc_hien_dan_chu_o_xa_phuong_thi_tr.pdf