Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN  
KHOA LUẬT  
LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC  
VÀ PHÁP LUẬT  
HỌC PHẦN 1  
(Dùng cho sinh viên chuyên ngành luật)  
HÀ NỘI, 2018  
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC  
Nội dung:  
Nội dung chương này nghiên cứu những vấn đề khái  
quát nhất về nhà nước như: sự hình thành nhà nước, bản  
chất nhà nước; các đặc trưng của nhà nước, vị trí, chức  
năng của nhà nước, kiểu, hình thức nhà nước và bộ máy  
nhà nước.  
Mục tiêu:  
- Giúp sinh viên nắm được nguồn gốc của nhà nước, các  
đặc trưng cơ bản của Nhà nước;  
- Giúp sinh viên hiểu được vị trí, chức năng của Nhà nước.  
- Giúp sinh viên hiểu được các kiểu, hình thức và bộ máy  
nhà nước.  
Hướng dẫn học:  
Để học tốt bài này, học viên cần tham khảo các phương  
pháp học sau:  
- Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài  
luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn.  
- Đọc tài liệu: Trường Đại học Luật Hà Nội, 2015. Giáo  
trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân  
dân.  
- Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên  
trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.  
2
- Trang Web môn học.  
Tình huống dẫn nhập 1:  
Nhà nước là gì? Nhà nước xuất hiện trong xã hội như thế  
nào?  
Tình huống dẫn nhập 2:  
Nhà nước có nguyên thủ quốc gia do nhân dân trực tiếp  
hoặc gián tiếp bầu ra, làm việc theo nhiệm kỳ có phải là  
Nhà nước theo hình thức chính thể quân chủ hay không?  
- Để giải quyết các tình huống trên, cần làm rõ: nguồn gốc  
của Nhà nước và hình thức Nhà nước.  
- Tất cả những vấn đề này được nghiên cứu trong bài học  
này.  
1.1. Nguồn gốc, bản chất và các đặc trưng của  
Nhà nước  
1.1.1. Nguồn gốc của Nhà nước  
Sự hình thành những nhà nước đầu tiên ở các khu vực  
khác nhau trên thế giới rất đa dạng. Có nhiều học thuyết  
khác nhau về nguồn gốc của Nhà nước, như: thuyết thần  
học, thuyết gia trưởng, thuyết khế ước xã hội, thuyết tâm  
lý, thuyết bạo lực, thuyết siêu trái đất… Tuy nhiên, học  
thuyết Mác - Lênin được phổ biến giảng dạy tại các cấp  
học.  
3
Theo học thuyết Mác, trong thời kỳ cộng sản nguyên  
thủy, do trình độ phát triển hết sức thấp kém của lực lượng  
sản xuất cho nên con người cùng sống chung, cùng lao  
động và cùng hưởng thụ những thành quả do lao động  
chung mang lại. Mọi người đều bình đẳng trong lao động  
và hưởng thụ, xã hội không phân biệt kẻ giàu người  
nghèo, không có sự phân chia thành giai cấp.  
Cơ sở kinh tế của xã hội cộng sản nguyên thuỷ tạo ra  
hình thức tổ chức xã hội là thị tộc, bào tộc, bộ lạc. Để tổ  
chức và quản lý thị tộc, xã hội đã hình thành hình thức Hội  
đồng thị tộc bao gồm tất cả những người lớn tuổi trong thị  
tộc với quyền hạn rất lớn. Tổ chức quản lý bào tộc là Hội  
đồng bào tộc bao gồm các tù trưởng, thủ lĩnh quân sự của  
các thị tộc, với các nguyên tắc tổ chức quyền lực tương tự  
như nguyên tắc tổ chức quyền lực của thị tộc nhưng có sự  
tập trung cao hơn. Hội đồng bộ lạc là hình thức tổ chức  
quản lý của bộ lạc với nguyên tắc tổ chức quyền lực tương  
tự như thị tộc và bào tộc nhưng mức độ tập trung quyền  
lực cao hơn nữa. Như vậy, trong xã hội cộng sản nguyên  
thuỷ đã xuất hiện và tồn tại quyền lực nhưng đó là quyền  
lực xã hội xuất phát từ xã hội và phục vụ cho lợi ích của  
toàn xã hội. Những người đứng đầu thị tộc, bào tộc, bộ lạc  
không có đặc quyền, đặc lợi nào, họ cùng sống, cùng lao  
4
động và hưởng thụ như mọi thành viên khác và chịu sự  
kiểm tra của cộng đồng.  
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã làm thay đổi  
cơ cấu tổ chức xã hội của xã hội cộng sản nguyên thuỷ.  
Sau ba lần phân công lao động xã hội, chế độ tư hữu xuất  
hiện đã phân chia xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, hình  
thành hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ. Cùng với sự  
xuất hiện các giai cấp trong xã hội, mâu thuẫn giữa các  
tầng lớp, giai cấp cũng đã xuất hiện. Cùng với sự phát  
triển của xã hội, mâu thuẫn giữa các tầng lớp, giai cấp  
trong xã hội ngày càng phát triển, đến mức xã hội không  
thể điều hòa. Khi ấy, giai cấp thống trị - là giai cấp nắm về  
kinh tế trong xã hội - đã lập ra một tổ chức đặc biệt nhằm  
bảo vệ địa vị và quyền lợi của mình, duy trì sự bóc lột của  
mình với các tầng lớp giai cấp khác, đồng thời để thiết lập  
trật tự, ổn định cho xã hội. Tổ chức đặc biệt này được gọi  
là Nhà nước.  
Ănghen đã bổ sung vào học thuyết của Mác, cho  
rằng sự hình thành các nhà nước trong thực tế lịch sử rất  
đa dạng, ngoài sự hình thành nhà nước theo cách cơ bản  
(như nhà nước Aten), còn có một số nhà nước phương Tây  
được hình thành theo những cách đặc thù (như Roma,  
Giecmanh) hoặc các nhà nước ở phương Đông. Các nhà  
nước ở phương Đông xuất hiện không phải do mâu thuẫn  
không thể điều hòa giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội  
5
mà do nhu cầu thủy lợi, trị thủy phục vụ sản xuất nông  
nghiệp và chống ngoại xâm. Tổ chức đứng ra quản lý trị  
thủy, thủy lợi dần dần kiêm thêm quản lý các vấn đề khác  
nhau của đời sống xã hội và trở thành Nhà nước.  
1.1.2. Bản chất của Nhà nước  
Nhà nước luôn thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc.  
Bản chất giai cấp của nhà nước thể hiện ở chỗ: nhà nước  
chỉ ra đời và tồn tại trong xã hội có giai cấp, nhà nước do  
giai cấp thống trị trong xã hội lập ra nhằm để bảo vệ địa vị  
và quyền lợi cho giai cấp thống trị. Bên cạnh bản chất giai  
cấp, nhà nước còn mang bản chất xã hội. Nhà nước được  
lập ra còn nhằm để quản lý xã hội, thiết lập trật tự và ổn  
định của xã hội. Bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của giai cấp  
thống trị mà, nhà nước còn phải bảo vệ lợi ích chung của  
xã hội, các tầng lớp, giai cấp khác trong xã hội ở những  
mức độ nhất định.  
Ở mỗi kiểu nhà nước, mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể,  
bản chất giai cấp và bản chất xã hội của nhà nước được thể  
hiện ở các mức độ khác nhau.  
1.1.3. Các đặc trưng của Nhà nước  
Nhà nước là một hiện tượng của kiến trúc thượng  
tầng xã hội, tồn tại và hoạt động trong hệ thống chính trị.  
Trong hệ thống chính trị này, ngoài nhà nước, còn có  
6
nhiều tổ chức chính trị, chính trị - xã hội khác cùng tồn tại  
trong mối liên hệ biện chứng. Tuy nhiên, nhà nước luôn  
giữ vị trí trung tâm của hệ thống chính trị, nhờ có những  
đặc trưng sau đây:  
Thứ nhất, nhà nước thiết lập một quyền lực công  
đặc biệt. Quyền lực công cộng được thực hiện thông qua  
một hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức trên toàn  
lãnh thổ, từ trung ương đến địa phương. Mỗi cơ quan nhà  
nước lại thực hiện quyền lực thông qua các cán bộ, công  
chức, viên chức được bầu, tuyển dụng, bổ nhiệm làm việc  
trong cơ quan đó. Một hệ thống các cơ quan nhà nước với  
các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước tạo thành một  
bộ máy chuyên nghiệp, thực hiện các chức năng và nhiệm  
vụ của nhà nước.  
Thứ hai, nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ,  
thành các đơn vị hành chính. Việc phân chia các đơn vị  
hành chính không phụ thuộc chính kiến, huyết thống, giới  
tính, nghề nghiệp.  
Thứ ba, nhà nước có chủ quyền quốc gia. Chủ  
quyền quốc gia là quyền của người làm chủ quốc gia đối  
với quốc gia đó. Về nguyên tắc, chủ quyền quốc gia thuộc  
về toàn thể Nhân dân, nhưng nhà nước được đại diện  
Nhân dân để thực hiện một số quyền này. Chủ quyền quốc  
gia thể hiện quyền tự quyết của nhà nước về đối nội và đối  
ngoại, không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài.  
Thứ tư, nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện  
sự quản lý bằng pháp luật đối với toàn xã hội. Là người  
7
đại diện cho xã hội, nhà nước thực hiện sự quản lý xã hội  
bằng pháp luật - các quy định do nhà nước quy đặt ra và  
bắt buộc mọi người thực hiện.  
Thứ năm, nhà nước ban hành ra các loại thuế và tổ  
chức thực hiện việc thu thuế. Thuế là nguồn thu chính để  
hình thành ngân sách nhà nước, dùng để duy trì hoạt động  
thường xuyên của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức  
năng của nhà nước.  
1.2. Vị trí, chức năng của Nhà nước  
1.2.1. Vị trí của Nhà nước trong xã hội  
Nhà nước là một hiện tượng thuộc kiến trúc thượng  
tầng xã hội1. Nhà nước chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng  
xã hội2, có mối quan hệ chặt chẽ với các thiết chế khác  
thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội. Với bản chất và đặc  
trưng vốn có của Nhà nước, đã tạo cho Nhà nước một vị  
trí quan trọng trong thượng tầng kiến trúc xã hội.  
1
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã  
hội cùng với các thiết chế chính trị-xã hội tương ứng, được hình thành trên  
một cơ sở hạ tầng nhất định. Theo đó, kiến trúc thượng tầng là toàn bộ  
những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ  
thuật, v.v. cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như Nhà nước, đảng  
phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội, v.v.  
2 Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tế  
của một xã hội nhất định. Thông thường, cơ sở hạ tầng của một xã hội ở một  
giai đoạn lịch sử nhất định bao gồm ba loại quan hệ sản xuất: quan hệ sản  
xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất mầm mống (tương  
lai) - trong đó, quan hệ sản xuất thống trị quy định, chi phối các quan hệ sản  
xuất còn lại.  
8
Nhà nước tựa hồ như đứng trên các tầng lớp giai  
cấp trong xã hội để thiết lập, duy trì trật tự, ổn định của xã  
hội. Tuy vậy, Nhà nước luôn là công cụ thực hiện chuyên  
chính của giai cấp thống trị, thông qua Nhà nước, giai cấp  
thống trị thể hiện sự thống trị của mình về kinh tế, chính  
trị và tư tưởng.  
1.2.2. Chức năng của Nhà nước  
Chức năng của nhà nước là phương diện hoạt động  
chủ yếu của nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt  
ra cho nhà nước. Chức năng của nhà nước bị chi phối bởi  
điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội ở từng giai đoạn lịch  
sử cũng như bản chất nhà nước đó. Căn cứ vào phạm vi  
hoạt động, chức năng của nhà nước được chia thành chức  
năng đối nội và chức năng đối ngoại.  
Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu  
trong nội bộ đất nước trên các mặt về chính trị, kinh tế, xã  
hội: (1) Về chính trị, gồm các hoạt động chủ yếu như: tổ  
chức quyền lực nhà nước; bảo vệ an ninh, trật tự trong  
nước; duy trì sự thống trị về tư tưởng của giai cấp thống  
trị; trấn áp áp phần tử, thế lực phản động, chống đối chính  
quyền, ảnh hưởng đến địa vị thống trị của giai cấp cầm  
quyền. (2) Về kinh tế, gồm các hoạt động chủ yếu như:  
Bảo vệ cơ sở kinh tế của xã hội đương thời; đặt ra và tổ  
chức thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế. (3) Về xã  
9
hội, gồm các hoạt động chủ yếu như: duy trì trật tự ổn  
định và phát triển xã hội; giải quyết các vấn đề phát sinh  
để bảo vệ các lợi ích chung của xã hội.  
Chức năng đối ngoại thể hiện những mặt hoạt động  
của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước trên thế giới  
và các dân tộc khác như: bảo vệ (mở rộng) lãnh thổ và chủ  
quyền quốc gia; thiết lập mối bang giao với các quốc gia  
khác, với các tổ chức quốc tế và khu vực.  
Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại có mối liên  
hệ chặt chẽ do cùng là các mặt hoạt động để thực hiện các  
nhiệm vụ đặt ra đối với nhà nước. Mỗi nhà nước đều thực  
hiện cả hai chức năng đối nội và đối ngoại. Không có nhà  
nước nào chỉ thực hiện một chức năng đối nội hoặc đối  
ngoại. Chức năng đối nội là cơ bản, quyết định tính chất  
và mức độ của chức năng đối ngoại; ngược lại, chức năng  
đối ngoại lại có tác động hỗ trợ cho sự phát triển của chức  
năng đối nội.  
1.3. Kiểu Nhà nước  
1.3.1. Khái niệm kiểu Nhà nước  
Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu cơ bản đặc  
thù của nhà nước, thể hiện bản chất và những điều kiện  
tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh  
tế - xã hội nhất định.  
1.3.2. Các kiểu Nhà nước  
10  
Lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh  
tế - xã hội: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ  
nghĩa, xã hội chủ nghĩa. Tương ứng với bốn hình thái kinh  
tế - xã hội đó là bốn kiểu nhà nước - kiểu nhà nước chủ  
nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản, nhà nước xã  
hội chủ nghĩa.  
Các kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản tuy có  
những đặc điểm riêng về bản chất, nhiệm vụ, chức năng,  
nhưng đều mang một đặc điểm chung - kiểu nhà nước bóc  
lột. Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa có sứ mệnh lịch sử là  
xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng chủ nghĩa xã  
hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công  
bằng xã hội.  
Từ sự thay đổi của hạ tầng xã hội dẫn đến những thay  
đổi trong kiến trúc thượng tầng, trong đó có nhà nước.  
Những thay đổi có tính cách mạng, làm thay đổi cơ bản hạ  
tầng xã hội, chuyển từ hình thái kinh tế xã hội này sang  
hình thái kinh tế xã hội khác, cũng dẫn đến sự thay đổi từ  
kiểu nhà nước này sang kiểu nhà nước khác. Theo nguyên  
lý về sự phát triển, kiểu nhà nước sau tuy vẫn còn những  
yếu tố kế thừa từ kiểu nhà nước cũ, nhưng luôn chứa đựng  
các yếu tố mới đặc trưng, tiến bộ hơn kiểu nhà nước trước  
đó. Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, sự thay đổi các kiểu nhà  
nước cũng không nhất thiết theo trật tự kiểu nhà nước chủ  
nô, phong kiến, tư sản, XHCN.  
11  
1.4. Hình thức Nhà nước  
1.4.1. Khái niệm hình thức Nhà nước  
Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực  
nhà nước. Hình thức nhà nước bao gồm ba yếu tố chủ yếu:  
hình thức chính thể và hình thức cấu trúc và chế độ chính  
trị.  
1.4.2. Hình thức chính thể  
Hình thức chính thể là cách thức tổ chức và trình tự  
thành lập các cơ quan có quyền lực cao nhất của nhà nước  
cùng với mối quan hệ giữa các cơ quan đó. Hình thức  
chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và  
chính thể cộng hoà.  
Chính thể quân chủ là hình thức chính thể trong đó  
quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ hoặc một  
phần vào tay người đứng đầu nhà nước (nguyên thủ quốc  
gia) hình thành theo nguyên tắc truyền ngôi (thế tập). Vua,  
hoàng đế, quốc trưởng là nguyên thủ quốc gia của các  
nước theo chính thể này. Nhà nước theo chính thể quân  
chủ gọi là nhà nước quân chủ. Chính thể quân chủ được  
chia thành quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế.  
Quân chủ tuyệt đối là hình thức chính thể quân chủ,  
trong đó nguyên thủ quốc gia (vua, hoàng đế) có quyền  
lực vô hạn. Trong các nhà nước theo chính thể quân chủ  
hạn chế thì quyền lực tối cao của nhà nước được trao một  
12  
phần cho người đứng đầu nhà nước, còn một phần được  
trao cho một cơ quan cao cấp khác (như nghị viện trong  
nhà nước tư sản hoặc hội nghị đại diện đẳng cấp trong nhà  
nước phong kiến). Chính thể quân chủ hạn chế trong các  
nhà nước tư sản gọi là quân chủ lập hiến (quân chủ đại  
nghị). Trong các nhà nước tư sản theo chính thể quân chủ  
lập hiến, quyền lực của nguyên thủ quốc gia (vua, nữ  
hoàng) bị hạn chế rất nhiều. Với tư cách nguyên thủ quốc  
gia, Nhà vua chỉ mang tính chất tượng trưng, đại diện cho  
truyền thống, cho sự thống nhất của quốc gia, không có  
nhiều quyền hành trong thực tế, “Nhà vua trị vì nhưng  
không cai trị”. Chính thể quân chủ lập hiến theo mô hình  
đại nghị đang tồn tại ở nhiều nước tư bản phát triển như  
Nhật Bản, Vương quốc Anh, Thụy Điển v.v. do những  
nguyên nhân lịch sử nhất định.  
Chính thể cộng hoà là hình thức chính thể, trong đó  
quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan  
được bầu ra trong một thời hạn nhất định. Nhà nước theo  
chính thể cộng hoà gọi là nhà nước cộng hoà. Chính thể  
cộng hoà có hai hình thức chủ yếu là cộng hoà quý tộc và  
cộng hoà dân chủ. Cộng hoà quý tộc là hình thức chính  
thể, trong đó cơ quan đại diện là do giới quý tộc bầu ra.  
Chính thể này chỉ tồn tại ở kiểu nhà nước chủ nô và nhà  
nước phong kiến. Cộng hoà dân chủ là hình thức chính  
thể, trong đó người đại diện là do dân bầu ra. Chính thể  
13  
này tồn tại ở tất cả bốn kiểu nhà nước đã có trong lịch sử,  
với khái niệm “dân chủ” rất khác nhau. Chính thể cộng  
hoà dân chủ là hình thức tổ chức chính quyền nhà nước  
phổ biến nhất hiện nay ở các nhà nước tư sản. Chính thể  
cộng hoà trong các nhà nước tư sản có hai biến dạng:  
Cộng hoà đại nghị và cộng hoà tổng thống.  
Trong chính thể cộng hoà đại nghị, nghị viện là một  
thiết chế quyền lực trung tâm. Nghị viện có vị trí, vai trò  
rất lớn trong cơ chế thực thi quyền lực nhà nước. Ở đây,  
nguyên thủ quốc gia (tổng thống) do nghị viện bầu ra, chịu  
trách nhiệm trước nghị viện. Chính phủ do các đảng chính  
trị chiếm đa số ghế trong nghị viện thành lập và chịu trách  
nhiệm trước nghị viện, nghị viện có thể bỏ phiếu tín nhiệm  
Chính phủ. Vì vậy, trong các nước này, nghị viện có khả  
năng thực tế kiểm tra các hoạt động của Chính phủ còn  
tổng thống hầu như không trực tiếp tham gia giải quyết  
các công việc của đất nước. Hiện nay, Cộng hoà liên bang  
Đức, Cộng hoà Áo, Cộng hoà Italia.v.v... là những nước tổ  
chức theo chính thể cộng hoà đại nghị.  
Trong chính thể cộng hoà tổng thống, nguyên thủ  
quốc gia (Tổng thống) có vị trí và vai trò rất quan trọng.  
Tổng thống do nhân dân trực tiếp (hoặc gián tiếp thông  
qua đại cử tri) bầu ra. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc  
gia, vừa là người đứng đầu chính phủ. Chính phủ không  
phải do nghị viện thành lập. Các thành viên chính phủ do  
14  
Tổng thống bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Tổng thống.  
Ở các nước theo chính thể cộng hoà tổng thống, sự phân  
định giữa các quyền lập pháp và hành pháp rất rõ ràng:  
Tổng thống và các bộ trưởng có toàn quyền trong lĩnh vực  
hành pháp, nghị viện có quyền lập pháp; Nghị viện không  
có quyền lật đổ chính phủ, Tổng thống không có quyền  
giải tán Nghị viện trước thời hạn. Hợp chủng quốc Hoa  
Kỳ và một số nước Châu Mỹ la tinh là những quốc gia tổ  
chức nhà nước theo chính thể cộng hoà tổng thống.  
Ngoài chính thể cộng hoà đại nghị và cộng hoà tổng  
thống, hiện nay còn tồn tại một hình thức cộng hoà "lưỡng  
tính” nghĩa là vừa mang tính chất cộng hoà đại nghị, vừa  
mang tính chất cộng hoà tổng thống. Chính thể cộng hoà  
“lưỡng tính” có những đặc điểm cơ bản sau: Nghị viện do  
nhân dân bầu ra; Trung tâm bộ máy quyền lực là tổng  
thống. Tổng thống cũng do dân bầu, có quyền hạn rất lớn  
kể cả quyền giải tán Nghị viện, quyền thành lập chính phủ,  
hoạch định chính sách quốc gia; Chính phủ có thủ tướng  
đứng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng thống,  
chịu trách nhiệm trước Tổng thống và Nghị viện. Cộng  
hoà Pháp và một số nước Châu Âu là những nước tổ chức  
theo chính thể cộng hoà “lưỡng tính”.  
Chính thể cộng hoà cũng tồn tại ở các nước xã hội  
chủ nghĩa (Việt Nam, Cu Ba, Trung Quốc , Lào...) với  
những tên gọi khác nhau về quốc hiệu (cộng hoà, cộng hoà  
15  
dân chủ, cộng hoà xã hội chủ nghĩa...) tuỳ thuộc đặc điểm  
lịch sử của mỗi nước.  
1.4.3. Hình thức cấu trúc  
Hình thức cấu trúc nhà nước là sự cấu tạo nhà nước  
thành các đơn vị hành chính - lãnh thổ và xác lập các mối  
quan hệ giữa các đơn vị ấy với nhau cũng như giữa các cơ  
quan nhà nước ở trung ương với các cơ quan nhà nước ở  
địa phương. Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là  
hình thức nhà nước đơn nhất và hình thức nhà nước liên  
bang.  
Nhà nước đơn nhất là nhà nước có chủ quyền chung,  
có một hệ thống pháp luật thống nhất, có một quốc hội và  
một hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất từ trung ương  
đến địa phương. Các đơn vị hành chính - lãnh thổ thường  
bao gồm tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường) hoạt  
động trên cơ sở các quy định của chính quyền trung ương.  
Việt Nam, Trung Quốc, Pháp... là những nhà nước theo  
hình thức cấu trúc đơn nhất.  
Nhà nước liên bang là nhà nước được hình thành từ  
hai hay nhiều nhà nước thành viên (hoặc nhiều bang) hợp  
lại. Trong nhà nước liên bang, ngoài các cơ quan quyền  
lực nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước chung cho toàn  
liên bang, hệ thống pháp luật chung của liên bang, thì mỗi  
nhà nước thành viên còn có hệ thống cơ quan nhà nước và  
16  
hệ thống pháp luật riêng của mỗi nhà nước thành viên. Nói  
một cách khác, trong nhà nước liên bang, không chỉ liên  
bang có dấu hiệu nhà nước mà mỗi nhà nước thành viên ở  
những mức độ nhất định, cũng có dấu hiệu nhà nước, tuy  
dấu hiệu đó không đầy đủ theo khái niệm nhà nước như  
nguyên nghĩa của nó. Hợp chủng quốc Hoa kỳ, Cộng hoà  
liên bang Đức, Cộng hoà liên bang Nga... là những nhà  
nước liên bang.  
1.4.4. Chế độ chính trị  
Chế độ chính trị được hiểu là tổng thể những  
phương pháp và thủ đoạn mà giai cấp thống trị sử dụng để  
thực hiện quyền lực nhà nước. Dựa theo mức độ tham gia  
của nhân dân vào việc thực hiện quyền lực nhà nước, chế  
độ chính trị được chia thành 2 loại cơ bản: Chế độ dân chủ  
và chế độ phản dân chủ. Ở chế độ dân chủ, người dân  
được tham gia vào việc thực hiện quyền lực nhà nước ở  
những mức độ nhất định. Ngược lại, chế độ phản dân chủ  
lại thể hiện sự độc tài, chuyên chế, không dành cơ hội cho  
nhân dân tham gia vào thực hiện quyền lực nhà nước.  
1.5. Bộ máy nhà nước  
1.5.1. Khái niệm bộ máy nhà nước  
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước  
được tổ chức từ trung ương tới địa phương để thực hiện  
các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.  
17  
1.5.2. Các cơ quan trong bộ máy nhà nước  
Thông thường, bộ máy nhà nước sẽ bao gồm nhiều cơ  
quan khác nhau, được phân định thành các cơ quan ở  
trung ương và các cơ quan nhà nước địa phương. Các cơ  
quan nhà nước ở trung ương, địa phương lại được thiết kế,  
tổ chức khác nhau ở mỗi kiểu và hình thức nhà nước, cũng  
như ở mỗi quốc gia cụ thể.  
Việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phụ  
thuộc vào kiểu nhà nước và hình thức nhà nước của quốc  
gia đó. Mỗi kiểu nhà nước và hình thức nhà nước khác  
nhau, việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước dựa  
trên những nguyên tắc đặc trưng nhất định. Có hai nguyên  
tắc phổ biến được áp dụng là: nguyên tắc tập quyền và  
nguyên tắc phân quyền.  
Nguyên tắc tập quyền đòi hỏi sự tập trung quyền lực  
theo chiều dọc và chiều ngang. Theo chiều dọc, quyền lực  
cơ quan cấp dưới phải tập trung vào cơ quan cấp trên,  
quyền lực địa phương phải tập trung vào trung ương. Theo  
chiều ngang, ở mỗi cấp tổ chức cơ quan nhà nước, quyền  
lực tập trung vào một cơ quan hoặc một chức danh nhất  
định.  
Nguyên tắc phân quyền lại đòi hỏi quyền lực nhà  
nước được phân chia theo chiều dọc và chiều ngang. Theo  
chiều dọc, quyền lực nhà nước phải có sự phân chia rõ  
18  
ràng giữa trung ương và địa phương, giữa cấp dưới và cấp  
trên. Theo chiều ngang, quyền lực nhà nước được chia  
thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; các quyền  
này phải được giao cho các cơ quan khác nhau thực hiện;  
giữa các cơ quan có cơ chế phối hợp và giám sát, kiềm chế  
quyền lực lẫn nhau.  
19  
Tóm lược  
1. Nhà nước là một sản phẩm của xã hội có giai cấp. Nhà  
nước xuất hiện khi các mâu thuẫn giai cấp trong xã hội đã  
phát triển đến mức không thể điều hòa, giai cấp thống trị  
lập ra nhà nước làm nhiệm vụ thiết lập trật tự, ổn định của  
xã hội, duy trì và bảo vệ địa vị, quyền lợi cho giai cấp  
thống trị.  
2. Nhà nước luôn thể hiện bản chất giai cấp và bản chất xã  
hội. Tuy nhiên, ở mỗi kiểu nhà nước khác nhau, mỗi giai  
đoạn lịch sử khác nhau, bản chất giai cấp và bản chất xã  
hội của Nhà nước được thể hiện ở các mức độ khác nhau.  
3. Nhà nước là một hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc  
xã hội, chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng xã hội, đồng  
thời có mối quan hệ chặt chẽ với các hiện tượng khác của  
thượng tầng kiến trúc xã hội. Vị trí của Nhà nước có được  
xuất phát từ những đặc trưng riêng có của Nhà nước.  
4. Vị trí của Nhà nước trong xã hội đã xác định các chức  
năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước. Hai chức năng  
này của Nhà nước có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với  
nhau. Trong đó, chức năng đối nội là cơ bản, quyết định  
tính chất, mức độ của chức năng đối ngoại; chức năng đối  
ngoại có tác động hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của chức  
năng đối nội.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 117 trang Thùy Anh 9962 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_ly_luan_ve_nha_nuoc_va_phap_luat.pdf