Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý ví điện tử tại Việt Nam
HOÀN THIỆN KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÍ ĐIỆN TỬ
TẠI VIỆT NAM
Đồng Thị Huyền Nga
Tóm tắt: Việt Nam là một trong những quốc gia có mức tăng trưởng về thanh
toán điện tử cao nhất thế giới, khoảng 35% mỗi năm, trong đó ví điện tử đang là một
trong những lựa chọn của phương thức thanh toán hiện đại và tiện ích. Tuy nhiên, các
quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quản lý ví điện tử còn tương đối sơ
khai và do đó sớm bộc lộ nhiều bất cập. Từ việc nghiên cứu, phân tích những hạn chế
của pháp luật Việt Nam hiện hành, bài viết hướng đến việc đề xuất một số giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý ví điện
tử tại Việt Nam.
Từ khoá: ví điện tử, thanh toán điện tử, thông tin cá nhân, rủi ro thanh toán.
1. Đặt vấn đề
Đại dịch Covid19 đã thực sự thay đổi sâu sắc cách thức nền kinh tế vận hành.
Như hệ quả tất yếu của những yêu cầu về giãn cách xã hội, hạn chế tiếp xúc và đi lại
trên phạm vi rộng lớn, các hình thức thanh toán không tiền mặt nổi bật lên như một
phương thức trao đổi giá trị phù hợp với bối cảnh mới. Bên cạnh các giao dịch thực
hiện qua Mobile Banking, Internet Banking, quẹt thẻ, quét QR Code, thanh toán bằng
nhận diện gương mặt... ví điện tử cũng là phương thức được nhiều người sử dụng
trong thời gian qua.
Theo ông Lê Anh Dũng - Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam), Ngân hàng Nhà nước đã cấp phép cho 37 tổ chức trung gian thanh toán,
trong đó có 34 ví điện tử. Tính đến hết quý I/2020, Việt Nam đang có 13 triệu tài
khoản ví điện tử được kích hoạt, sử dụng với tổng số dư ví vào khoảng 1,36 nghìn tỷ
đồng.19Riêng trong những tháng đầu năm 2021, có hơn 200 triệu giao dịch được thực
hiện thông qua ví điện tử, với giá trị khoảng 77,7 nghìn tỷ đồng.Vụ trưởng Vụ Thanh
19https://vneconomy.vn/thanh-toan-qua-vi-dien-tu-lam-sao-de-dam-bao-an-toan-tien-loi-646155.htm(truy cập
ngày 12/8/2021)
23
toán Ngân hàng Nhà nước Phạm Tiến Dũng cũng thừa nhận rằng: «Một trong những
dấu ấn đặc biệt nhất trên thị trường thanh toán 05 năm qua là sự nổi lên của ví điện
tử. Dù giá trị giao dịch chưa bằng ngân hàng, song số giao dịch qua ví điện tử đã gần
tương đương giao dịch ngân hàng.20
Sự thuận lợi, tích hợp đa tiện ích, đa kết nối và an toàn về mặt xã hội đã giúp
cho ví điện tử trở thành phương tiện thanh toányêu thích của người tiêu dùng Việt
Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, hình thức thanh toán thông qua
ví điện tử vẫn còn hàm ẩn rất nhiều nguy cơ liên quan đến tính bảo mật thông tin cá
nhân người dùng cũng như an ninh, an toàn trong thanh toán.Theo số liệu của Trung
tâm giám sát và phản ứng trên không gian mạng (Công ty An ninh mạng Viettel -
VSC), 8 tháng đầu năm 2020 đã phát hiện hơn 03 triệu cảnh báo tấn công mạng vào
các hệ thống tài chính, ngân hàng, mạng công nghệ thông tin một số tỉnh thành trên
cả nước, trong đó 90% nhắm vào các hệ thống tài chính, ngân hàng.21
Thực tế này đòi hỏi các quy định về kiểm soát và quản lý hoạt động của ví điện
tử, về tăng cường các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng cũng như bảo
đảm an toàn trong thanh toán là một trong những thách thức đặt ra đối với pháp luật
Việt Nam.
2. Nhận diện ví điện tử
Ví điện tử (e-wallet) được hiểu là một ứng dụng điện tử cho phép thực hiện các
giao dịch thương mại điện tử trực tuyến như mua hàng hóa, thanh toán hóa đơn điện
nước, chuyển tiền, đặt vé máy bay, v.v. bằng một công cụ tài chính (chẳng hạn như
thẻ tín dụng hoặc tiền kỹ thuật số) sử dụng điện thoại thông minh hoặc máy tính. Hầu
hết các ví điện tử hiện nayđều được cung cấp trực tuyến và miễn phí để tải xuống
thông qua các kho "ứng dụng" trên nền tảng di động, để hỗ trợ cả giao dịch điểm bán
hàng (PoS) và giao dịch ngang hàng giữa các cá nhân.
Sự phát triển mạnh mẽ của ví điện tử được giải thích bởi những tiện ích vượt
bậc của ví điện tử so với ví truyền thống khi cung cấp khả năng quản lý tốt hơn đối
21https://thaibinh.gov.vn/attt/tin-tuc-su-kien/hon-3-trieu-dot-tan-cong-mang-vao-viet-nam-trong-8-thang-
24
với các khoản thanh toán cũng như tài khoản, cập nhật thường xuyên các ưu đãi, các
cảnh báo từ người bán, lưu trữ biên lai kỹ thuật số cũng như các thông tin bảo hành.
Đồng thời ví điện tử cũng được bảo mật các phần mềm chỉ cho phép truy cập thông
qua cụm mật khẩu, mật khẩu chính xác và thông tin xác thực tương ứng. Trong hoạt
động của ví điện tử, một số thông tin nhận dạng cá nhân (PII) của khách hàng như họ
tên, số điện thoại di động và thông tin riêng tư của khách hàng được bảo vệ nhưsố
thẻ, mã PIN bí mật, thông tin đăng nhập ngân hàng trực tuyến, v.v. được lưu trữ vĩnh
viễn trong ví điện tử và chỉ cần được ủy quyền cuối cùng từ người dùng thông qua
các phương tiện như xác thực sinh trắc học, mật khẩu một lần (OTP), v.v. Quy trình
thanh toán trong ví điện tử liên quan đến các cơ chế bảo mật như ghim chứng chỉ và
sử dụng mã hóa.
3. Thực trạng mất an toàn trong thanh toán qua ví điện tử tại Việt Nam
hiện nay
Bên cạnh những tiện ích vượt trội mà ví điện tử mang lại cho hoạt động thanh
toán, người dùng ví điện tử cũng đang phải đối diện với nhiều rủi ro trong bảo đảm
an toàn dữ liệu cá nhân cũng như dễ trở thành đối tượng bị chiếm đoạt tài sản thông
qua các hành vi tấn công kỹ thuật và các hành vi có dấu hiệu lừa đảo hoặc trộm cắp
tài sản.
3.1. Một số mối đe doạ về kỹ thuật phổ biến đối với tính an toàn trong giao
dịch qua ví điện tử
Ví điện tử là hình thức thanh toán vận hành trên các nền tảng công nghệ, đồng
thời chịu sự chi phối và tuân theo các yêu cầu, điều kiện về kỹ thuật. Do đó, quyền
sở hữu của người dùng ví điện tử cũng sẽ dễ bị xâm phạm bởi các hành vi chiếm đoạt
tài sản có tính chất kỹ thuật, cụ thể:
Thứ nhất, hành vi mạo danh hoặc tráo SIM. Hành vi mạo danh xảy ra khi chủ
thể lừa đảo đánh cắp thông tin và sau đó đóng giả người dùng để thực hiện giao dịch
bằng cách sử dụng chi tiết và mật khẩu ví điện tử bị đánh cắp. Hành vi tráo đổi SIM
xảy ra khi chủ thể lừa đảo thu thập thông tin của người dùng hợp pháp trong lần đầu
tiên kích hoạt, sau đó sử dụng thông tin này để chặn thẻ SIM điện thoại di động của
người dùng hợp pháp. Chủ thể lừa đảo sẽ liên hệ với nhà khai thác di độngđể xin cấp
25
lại một thẻ SIM mới trùng lặp với bằng chứng nhận dạng giả. Nhà cung cấp dịch vụ
di động, theo đó, sẽ hủy kích hoạt thẻ của người dùng hợp pháp đã bị chặn và cấp
một thẻ SIM mới cho chủ thể lừa đảo.
Thứ hai, hành vi tấn công trung gian. Đây là dạng hành vi rất tinh vi, biểu hiện
thông qua các hoạt động tấn công Man-in-the-Browser hoặc Man-in-the-Middle
nhằmvào các giao dịch trực tuyến bằng cách đọc dữ liệu thanh toán từ trình duyệt
Internet trong khi người dùng đang nhập chi tiết thẻ tín dụng hoặc tài khoản ngân
hàng của mình. Các cuộc tấn công này hướng đếnviệc để đánh cắp thông tin đăng
nhập và dữ liệu cá nhân của người dùng ví điện tử.
Thứ ba, hành vi tấn công bằng phần mềm độc hại. Đối với hành vi này, các chủ
thể vi phạm sẽ sử dụng phần mềm độc hại tấn công vào các ví điện, từ đó thu thập
thông tin chi tiết từ ví điện tử của người dùng và sử dụng cho các mục đích bất hợp
pháp của mình.
3.2. Một số hành vi có dấu hiệu lừa đảo hoặc trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài
sản từ ví điện tử
Các hành vi có dấu hiệu lừa đảo hoặc trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản từ ví
điện tử thường được tiến hành dưới hai hình thức sau đây:
Thứ nhất, hành vi lừa đảo thông qua mời chào vay vốn hoặc thông báo khách
hàng trúng thưởng, nhận được quà. Các chủ thể lừa đảo đưa ra lời mời chào khách
hàng vay vốn trực tuyến hoặc thông báo về việc người dùng trúng thưởng, được nhận
quà rồi yêu cầu người dùng cung cấp các thông tin, hình ảnh như chứng minh nhân
dân, số thẻ ngân hàng, mật khẩu OTP… Sau khi lấy được những thông tin này, chủ
thể lừa đảo sẽthao tác mở ví điện tử đối với khách hàng chưa từng mở ví, tiến hành
liên kết với tài khoản ngân hàngvà thực hiện việc trộm cắp tiền từ ví điện tử và mua
sắm hoặc chuyển qua một ví điện tử khác để chiếm đoạt.
Thứ hai, lừa đảo bằng cách giả mạo các chủ thể công quyền hoặc nhân viên
ngân hàng. Trong dạng hành vi này, chủ thể lừa đảo lợi dụng sự thiếu hiểu biết, sự
nhẹ dạ cả tin của người dùng ví điện tử để chiếm đoạt tài sản. Thông thường, chủ để
lừa đảo sẽ giả mạo nhân viên ngân hàng để thông báo cho khách hàng tài khoản liên
kết với ví điện tử có vấn đề phát sinh, yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin cá
26
nhân, thông tin bảo mật của tài khoản (mật khẩu, OTP, số thẻ…) để xử lý. Bên cạnh
đó, chủ thể lừa đảo cũng có thể giả mạo các cơ quan chức năng (công an, tòa án…)
thông báo thẻ, tài khoản bị xâm nhập, cần cung cấp thông tin để phối hợp điều tra hay
thậm chí thông báo người dùng ví điện tử đang liên quan đến một tội phạm nguy hiểm
từ đó yêu cầu người dùng phải cung cấp các thông tin cần thiết để phối hợp điều tra.
Ngoài ra, các chủ thể lừa đảo cũng có thể giả mạo người thân, bạn bè nhờ nhập thông
tin để chuyển khoản hộ/nhận tiền… Sau khi cung cấp các thông tin cá nhân, thông tin
bảo mật của tài khoản, các đối tượng sử dụng thông tin để tạo tài khoản ví điện tử rồi
nạp tiền vào ví điện tử từ chính tài khoản của khách hàng, mua sắm, chuyển tiền sang
ví khác rồi chiếm đoạt.
4. Quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý ví điện tử
Tại Việt Nam, ví điện tử được xác định loại hình trung gian thanh toán và được
quy định lần đầu tại Nghị định 101/2012/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày
22/11/2012 (và được sửa đổi bởi Nghị định 80/2016/NĐ-CPcủa Chính phủ ban hành
ngày 01/7/2016) và Thông tư số 39/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban
hành ngày 11/12/2014 (và được sửa đổi bởi Thông tư số 23/2019/TT-NHNN ngày 22
tháng 11 năm 2019). Căn cứ vào khoản 1 Điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ-CP, dịch vụ
ví điện tử được hiểu là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định
danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin
(như chip điện tử, SIM điện thoại di động, máy tính...), cho phép lưu giữ một giá trị
tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ
tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán
của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử theo tỷ lệ 1:1.
Các quy định cốt lõi về quản lý hoạt động của ví điện tử được ghi nhận tại Điều
9 Thông tư số 23/2019/TT-NHNN với những nội dung chính liên quan đến tổng hạn
mức giao dịch, các thông tin người dùng phải cung cấp, các nghĩa vụ và trách nhiệm
của người dùng cũng như của các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử. Cụ thể, tổng
hạn mức giao dịch qua các ví điện tử cá nhân của một khách hàng tại một tổ chức
cung ứng dịch vụ ví điện tử (bao gồm giao dịch thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ
hợp pháp và giao dịch chuyển tiền từ ví điện tử cho ví điện tử khác do cùng tổ chức
27
cung ứng dịch vụ ví điện tử mở) tối đa là 100 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, để siết
chặt việc quản lý kiểm soát thông tin chủ ví điện tử phải cung cấp, cập nhật đầy đủ,
chính xác các thông tin trong hồ sơ mở ví điện tử cho tổ chức cung ứng dịch vụ và
chịu trách nhiệm về tính trung thực của các thông tin cung cấp. Các thông tin cá nhân
định danh như chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước, hộ chiếu… đều phải chính
xác, đầy đủ. Chủ ví điện tử cũng không được cho thuê, cho mượn ví điện tử hoặc
mua, bán thông tin ví điện tử. Khách hàng muốn nạp tiền vào ví điện tử phải thông
qua tài khoản thanh toán hoặc thẻ ATM của khách hàng là chủ ví điện tử; nhận tiền
từ ví khác do cùng tổ chức cung ứng dịch vụ ví mở. Nghiêm cấm việc sử dụng ví điện
tử để thực hiện các giao dịch cho các mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo,
gian lận và các hành vi vi phạm pháp luật khác; nghiêm cấm việc thuê, cho thuê,
mượn, cho mượn ví điện tử hoặc mua, bán thông tin ví điện tử. Ngoài ra, các tổ chức
cung ứng dịch vụ ví điện tử không được phép cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng
ví điện tử, trả lãi trên số dư ví điện tử hoặc bất kỳ hành động nào có thể làm tăng giá
trị tiền tệ trên ví điện tử so với giá trị tiền khách hàng nạp vào... Ngoài ra, Thông tư
quy định tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử không được phép phát hành hơn một ví
điện tử cho một khách hàng tại một tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử nhằm tránh
lãng phí, ngăn ngừa tình trạng khách hàng đăng ký mở ví điện tử tràn lan, dẫn đến
việc sử dụng ví điện tử không thực chất, hoặc lợi dụng mở nhiều ví điện tử để thực
hiện hành vi rửa tiền, bất hợp pháp. Đây cũng là giải pháp ngăn ngừa tình trạng có
những món tiền được lấy cắp do chiếm đoạt tài khoản, mã OTP, lừa đảo người sử
dụng qua website rồi chuyển tiền từ ngân hàng vào ví điện tử. Với cơ chế xác thực
thông tin bắt buộc theo Thông tư 23/2019/TT-NHNN thì việc thu hồi được số tiền đó
sẽ đơn giản, dễ dàng hơn bởi thông tin người gửi và người nhận sẽ được xác định rõ.
Các cơ quan quản lý cũng dễ dàng truy xuất thông tin, xử lý sự cố xảy ra phù hợp với
các quy định về phòng chống rửa tiền. Đặc biệt, một điểm mới theo quy định của
Thông tư là các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải cung cấp công cụ để Ngân
hàng Nhà nước giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ ví điện tử, bảo đảm cho phép
giám sát tổng số lượng ví điện tử.
28
5. Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản lý
ví điện tử
5.1. Một số tồn tại, hạn chế của pháp luật Việt Nam về quản lý ví điện tử
Có thể nói rằng Thông tư 23/2019/TT-NHNN đã có nhiều quy định tiến bộ trong
nâng cao hiệu quả quản lý ví điện tử và tăng cường sự an toàn, tính bảo mật trong
hoạt động thanh toán qua ví điện tử. Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn bỏ sót
nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến giải quyết các rủi ro về mặt kỹ thuật, về mối
quan hệ với đơn vị chấp nhận thanh toán ví điện tử, cũng như đạo đức kinh doanh
của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử, của cán bộ, nhân viên, người lao động của
các tổ chức này trong vận hành ví điện tử, cụ thể như sau:
Về phương diện kỹ thuật: Về nguyên tắc, đối với các rủi ro do kỹ thuật như lỗi
hệ thống, lỗi để lộ thông tin khách hàng và các lỗi khác do lỗi của tổ chức cung ứng
dịch vụ ví điện tử thì tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử sẽ phải bồi thường thiệt hại
cho khách hàng. Tuy nhiên, trong mối quan hệ với tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện
tử, việc xác định các lỗi này của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử là vấn đề không
dễ dàng giải quyết, bởi lẽ các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử hoàn toàn có thể
sử dụng các thủ thuật trên mạng điện tử để “che lấp” các lỗi này trước khách hàng và
Ngân hàng Nhà nước.Vì vậy, các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử có thể vận dụng
các quy định về miễn trách nhiệm để “lẩn trốn” trách nhiệm pháp lý của mình và “bỏ
mặc” khách với những thiệt hại mà mình đã gây ra.
Về mối quan hệ với các đơn vị chấp nhận thanh toán ví điện tử: Thông tư
23/2019/TT-NHNN cũng chưa làm rõ được mối quan hệ về trách nhiệm pháp lý của
tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử và các đơn vị chấp nhận thanh toán bằng ví điện
tử. Hoạt động thanh toán thông qua ví điện tử, trong đa số các trường hợp, là hoạt
động có sự tham gia của ba chủ thể: tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử, đơn vị chấp
nhận thanh toán ví điện tử và khách hàng (người tiêu dùng). Về mặt lý thuyết khi
khách hàng thực hiện việc mua hàng hoá hoặc nhận cung ứng dịch vụ, tiền trong ví
điện tử của khách hàng sẽ được chuyển cho các đơn vị chấp nhận thanh toán bằng ví
điện tử thông qua các thao tác và các lệnh của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử.
Trong quá trình này, nếu có những vấn đề phát sinh liên quan đến kỹ thuật, có thể do
29
lỗi trong khâu thực hiện lệnh thanh toán tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử hoặc lỗi
trong khâu nhận thanh toán của đơn vị nhận thanh toán bằng ví điện tử. Vậy trong
trường hợp này, việc phân định trách nhiệm pháp lý sẽ được thực hiện như thế nào
và có cơ chế nào để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Bên cạnh đó, trên thực tế hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng những trục trặc trong
thanh toán do sự yếu kém của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử. Những trục trặc
này cũng dễ dẫn đến sự khó chịu cho khách hàng sử dụng dịch vụ và do đó có thể
khiến họ từ bỏ việc mua sắm hoặc nhận cung ứng dịch vụ.22Vậy những thiệt hại này
của đơn vị chấp nhận thanh toán bằng ví điện tử này sẽ được bồi thường như thế nào
cũng là một vấn đề pháp luật còn bỏ ngỏ.
Về phương diện đạo đức: Những rủi ro về đạo đức như trường hợp nhân viên
của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử câu kết với nhân viên của ngân hàng thương
mại nơi khách hàng mở tài khoản thanh toán, dùng các số liệu giả hoặc các thủ thuật
trên mạng điện tử để rút/ chiếm dụng tiền trong ví điện tử của khách hàng là hoàn
toàn có thể xảy ra. Trường hợp này rõ ràng là các nhà làm luật cũng như các bên trong
quan hệ pháp luật về dịch vụ ví điện tử chưa hề đề cập trong các quy định. Thực tế
này đặt khách hàng vào trong nhiều bất lợi vô cùng nguy hại.Như đã đề cập, việc bị
để lộ những thông tin cá nhân quan trọng hoặc có tính chất xác thực hay định danh
có thể sẽ dẫn đến những thiệt hại về mặt kinh tế cho khách hàng. Những thiệt hại vật
chất này không chỉ trong phạm vi giá trị của ví điện tử liên quan mà có thể mở rộng
nguy cơ đối với các ví điện tử khác hoặc các tài khoản trực tuyến khác. Điều này
được giải thích bởi một khách hàng là người dùng có thể sử dụng nhiều ví điện tử
khác nhau cũng như các ứng dụng mobile banking hay Internet banking khác.
5.2. Một số giải pháp cụ thể
Trên cơ sở nhận diện những bất cập còn tồn tại của pháp luật Việt Nam về quản
lý ví điện tử, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản hướng đến hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hơn nữa hiệu quả thực thi nhằm tận dụng những ưu thế vượt trội của ví
điện tử trong phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện đại trong tương lai gần.
22ThS. Trần Thanh Bình (2020), Những bất cập của các quy định pháp luật về ví điện tử, xem thêm tại:
https://iluatsu.com/ngan-hang/nhung-bat-cap-cua-cac-quy-dinh-phap-luat-ve-vi-dien-tu/ (truy cập ngày
15/8/2021).
30
Trước hết, về phương diện kỹ thuật: pháp luật Việt Nam cần nêu rõ quan điểm
về vai trò của yếu tố “lỗi” trong cấu thành trách nhiệm pháp lý đối với các sai sót kỹ
thuật của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử đối với thiệt hại của khách hàng là
người dùng. Theo quan điểm của tác giả, trong trường hợp này cần suy đoán rằng tổ
chức cung ứng dịch vụ ví điện tử luôn luôn có lỗi bởi việc bảo đảm thanh toán thông
qua ví điện tử được an toàn, ổn định, chính xác và kịp thời là nghĩa đương nhiên của
các tổ chức này. Tương tự, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử sẽ không được áp
dụng trường hợp về sự kiện bất khả kháng để được hưởng miễn trách nhiệm. Khách
hàng phải luôn có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại từ sai sót kỹ thuật của tổ
chức cung ứng dịch vụ ví điện tử.
Bên cạnh đó, về mối quan hệ với các đơn vị chấp nhận thanh toán ví điện tử:
pháp luật Việt Nam cần có các quy định cụ thể về các tiêu chí và cách thức phân định
trách nhiệm của các bên trên nguyên tắc ưu tiên bảo vệ quyền lợi của khách hàng là
người sử dụng dịch vụ. Theo đó, quy định của pháp luật nên được xây dựng trên
nguyên tắc người sử dụng dịch vụ có quyền yêu cầu một trong hai bên bồi thường
các thiệt hại (nếu có) và các biện pháp khác để bảo đảm cho giao dịch được thực hiện.
Cuối cùng, về phương diện đạo đức: pháp luật Việt Nam cũng cần có các quy
định chặt chẽ hơn về trách nhiệm và đạo đức của các cán bộ, nhân viên tổ chức cung
ứng dịch vụ ví điện tử trong thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Bên cạnh đó,
theo quan điểm của tác giả, Ngân hàng Nhà nước cần hướng dẫn cho các tổ chức
cung ứng dịch vụ ví điện tử và các ngân hàng thương mại xây dựng bộ quy tắc đạo
đức nghề nghiệp liên quan đến các hoạt động thanh toán bằng ví điện tử. Đồng thời,
các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử và các ngân hàng thương mại cũng cần cùng
nhau xây dựng cơ chế kiểm soát rủi ro, cả về tài chính và đạo đức nghề nghiệp, với
mục tiêu chung vai sát cánh cùng pháp luật trong bảo vệ sự an toàn tài chính của
khách hàng.
6. Kết luận
Sự phát triển của ví điện tử là xu thế tất yếu của thời đại. Là một đất nước có
nền kinh tế năng động với nguồn nhân lực trẻ, ví điện tử đã dần trở thành một phương
thức thanh toán điện tử nổi trội. Trên cả nước hiện có 23 loại ví điện tử của 27 công
31
ty trung gian thanh toán (fintech) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép, mỗi
loại ví điện tử đi theo phân khúc khách hàng riêng biệt, nhưng có điểm chung là không
thu phí giao dịch và đặc biệt luôn khuyến mại trực tiếp bằng tiền cho người dùng.
Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích như thanh toán nhanh, gọn, không dùng tiền mặt,
ví điện tử cũng bộc lộ nhiều bất cập về quản lý tài khoản, dòng tiền luân chuyển giữa
các ngân hàng hay bảo mật thông tin khách hàng. Trên cơ sở phân tích và nhận diện
những bất cập này, tác giả mong muốn rằng với những giải pháp mà mình đề xuất,
trong tương lai ví điện tử sẽ phát huy được vai trò và động lực to lớn của mình trong
nâng cao trải nghiệm cho người dùng, cho đổi mới và hiện đại hoá phương thức thanh
toán, góp phần vào phát triển kinh tế đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ThS. Trần Thanh Bình (2020), Những bất cập của các quy định pháp luật
về ví điện tử, xem thêm tại: https://iluatsu.com/ngan-hang/nhung-bat-cap-cua-cac-
toan-tien-loi-646155.htm (truy cập ngày 12/8/2021)
cập ngày 14/8/2021)
vao-viet-nam-trong-8-thang-dau.html (truy cập ngày 15/8/2021);
32
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý ví điện tử tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_khuon_kho_phap_luat_ve_quan_ly_vi_dien_tu_tai_vie.pdf

