Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý ví điện tử tại Việt Nam

HOÀN THIỆN KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÍ ĐIỆN TỬ  
TẠI VIỆT NAM  
Đồng Thị Huyền Nga  
Tóm tắt: Việt Nam là một trong những quốc gia có mức tăng trưởng về thanh  
toán điện tử cao nhất thế giới, khoảng 35% mỗi năm, trong đó ví điện tử đang là một  
trong những lựa chọn của phương thức thanh toán hiện đại và tiện ích. Tuy nhiên, các  
quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quản lý ví điện tử còn tương đối sơ  
khai và do đó sớm bộc lộ nhiều bất cập. Từ việc nghiên cứu, phân tích những hạn chế  
của pháp luật Việt Nam hiện hành, bài viết hướng đến việc đề xuất một số giải pháp  
nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý ví điện  
tử tại Việt Nam.  
Từ khoá: ví điện tử, thanh toán điện tử, thông tin cá nhân, rủi ro thanh toán.  
1. Đặt vấn đề  
Đại dịch Covid19 đã thực sự thay đổi sâu sắc cách thức nền kinh tế vận hành.  
Như hệ quả tất yếu của những yêu cầu về giãn cách xã hội, hạn chế tiếp xúc và đi lại  
trên phạm vi rộng lớn, các hình thức thanh toán không tiền mặt nổi bật lên như một  
phương thức trao đổi giá trị phù hợp với bối cảnh mới. Bên cạnh các giao dịch thực  
hiện qua Mobile Banking, Internet Banking, quẹt thẻ, quét QR Code, thanh toán bằng  
nhận diện gương mặt... ví điện tử cũng là phương thức được nhiều người sử dụng  
trong thời gian qua.  
Theo ông Lê Anh Dũng - Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước  
Việt Nam), Ngân hàng Nhà nước đã cấp phép cho 37 tổ chức trung gian thanh toán,  
trong đó có 34 ví điện tử. Tính đến hết quý I/2020, Việt Nam đang có 13 triệu tài  
khoản ví điện tử được kích hoạt, sử dụng với tổng số dư ví vào khoảng 1,36 nghìn tỷ  
đồng.19Riêng trong những tháng đầu năm 2021, có hơn 200 triệu giao dịch được thực  
hiện thông qua ví điện tử, với giá trị khoảng 77,7 nghìn tỷ đồng.Vụ trưởng Vụ Thanh  
Thạc sĩ, giảng viên Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Đại học Huế, Email: [email protected]  
19https://vneconomy.vn/thanh-toan-qua-vi-dien-tu-lam-sao-de-dam-bao-an-toan-tien-loi-646155.htm(truy cập  
ngày 12/8/2021)  
23  
toán Ngân hàng Nhà nước Phạm Tiến Dũng cũng thừa nhận rằng: «Một trong những  
dấu ấn đặc biệt nhất trên thị trường thanh toán 05 năm qua là sự nổi lên của ví điện  
tử. Dù giá trị giao dịch chưa bằng ngân hàng, song số giao dịch qua ví điện tử đã gần  
tương đương giao dịch ngân hàng.20  
Sự thuận lợi, tích hợp đa tiện ích, đa kết nối và an toàn về mặt xã hội đã giúp  
cho ví điện tử trở thành phương tiện thanh toányêu thích của người tiêu dùng Việt  
Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, hình thức thanh toán thông qua  
ví điện tử vẫn còn hàm ẩn rất nhiều nguy cơ liên quan đến tính bảo mật thông tin cá  
nhân người dùng cũng như an ninh, an toàn trong thanh toán.Theo số liệu của Trung  
tâm giám sát và phản ứng trên không gian mạng (Công ty An ninh mạng Viettel -  
VSC), 8 tháng đầu năm 2020 đã phát hiện hơn 03 triệu cảnh báo tấn công mạng vào  
các hệ thống tài chính, ngân hàng, mạng công nghệ thông tin một số tỉnh thành trên  
cả nước, trong đó 90% nhắm vào các hệ thống tài chính, ngân hàng.21  
Thực tế này đòi hỏi các quy định về kiểm soát và quản lý hoạt động của ví điện  
tử, về tăng cường các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng cũng như bảo  
đảm an toàn trong thanh toán là một trong những thách thức đặt ra đối với pháp luật  
Việt Nam.  
2. Nhận diện ví điện tử  
Ví điện tử (e-wallet) được hiểu là một ứng dụng điện tử cho phép thực hiện các  
giao dịch thương mại điện tử trực tuyến như mua hàng hóa, thanh toán hóa đơn điện  
nước, chuyển tiền, đặt vé máy bay, v.v. bằng một công cụ tài chính (chẳng hạn như  
thẻ tín dụng hoặc tiền kỹ thuật số) sử dụng điện thoại thông minh hoặc máy tính. Hầu  
hết các ví điện tử hiện nayđều được cung cấp trực tuyến và miễn phí để tải xuống  
thông qua các kho "ứng dụng" trên nền tảng di động, để hỗ trợ cả giao dịch điểm bán  
hàng (PoS) và giao dịch ngang hàng giữa các cá nhân.  
Sự phát triển mạnh mẽ của ví điện tử được giải thích bởi những tiện ích vượt  
bậc của ví điện tử so với ví truyền thống khi cung cấp khả năng quản lý tốt hơn đối  
20https://vneconomy.vn/covid-19-thuc-day-thi-truong-vi-dien-tu.htm(truy cập ngày 14/8/2021)  
21https://thaibinh.gov.vn/attt/tin-tuc-su-kien/hon-3-trieu-dot-tan-cong-mang-vao-viet-nam-trong-8-thang-  
dau.html(truy cập ngày 15/8/2021);  
24  
với các khoản thanh toán cũng như tài khoản, cập nhật thường xuyên các ưu đãi, các  
cảnh báo từ người bán, lưu trữ biên lai kỹ thuật số cũng như các thông tin bảo hành.  
Đồng thời ví điện tử cũng được bảo mật các phần mềm chỉ cho phép truy cập thông  
qua cụm mật khẩu, mật khẩu chính xác và thông tin xác thực tương ứng. Trong hoạt  
động của ví điện tử, một số thông tin nhận dạng cá nhân (PII) của khách hàng như họ  
tên, số điện thoại di động và thông tin riêng tư của khách hàng được bảo vệ nhưsố  
thẻ, mã PIN bí mật, thông tin đăng nhập ngân hàng trực tuyến, v.v. được lưu trữ vĩnh  
viễn trong ví điện tử và chỉ cần được ủy quyền cuối cùng từ người dùng thông qua  
các phương tiện như xác thực sinh trắc học, mật khẩu một lần (OTP), v.v. Quy trình  
thanh toán trong ví điện tử liên quan đến các cơ chế bảo mật như ghim chứng chỉ và  
sử dụng mã hóa.  
3. Thực trạng mất an toàn trong thanh toán qua ví điện tử tại Việt Nam  
hiện nay  
Bên cạnh những tiện ích vượt trội mà ví điện tử mang lại cho hoạt động thanh  
toán, người dùng ví điện tử cũng đang phải đối diện với nhiều rủi ro trong bảo đảm  
an toàn dữ liệu cá nhân cũng như dễ trở thành đối tượng bị chiếm đoạt tài sản thông  
qua các hành vi tấn công kỹ thuật và các hành vi có dấu hiệu lừa đảo hoặc trộm cắp  
tài sản.  
3.1. Một số mối đe doạ về kỹ thuật phổ biến đối với tính an toàn trong giao  
dịch qua ví điện tử  
Ví điện tử là hình thức thanh toán vận hành trên các nền tảng công nghệ, đồng  
thời chịu sự chi phối và tuân theo các yêu cầu, điều kiện về kỹ thuật. Do đó, quyền  
sở hữu của người dùng ví điện tử cũng sẽ dễ bị xâm phạm bởi các hành vi chiếm đoạt  
tài sản có tính chất kỹ thuật, cụ thể:  
Thứ nhất, hành vi mạo danh hoặc tráo SIM. Hành vi mạo danh xảy ra khi chủ  
thể lừa đảo đánh cắp thông tin và sau đó đóng giả người dùng để thực hiện giao dịch  
bằng cách sử dụng chi tiết và mật khẩu ví điện tử bị đánh cắp. Hành vi tráo đổi SIM  
xảy ra khi chủ thể lừa đảo thu thập thông tin của người dùng hợp pháp trong lần đầu  
tiên kích hoạt, sau đó sử dụng thông tin này để chặn thẻ SIM điện thoại di động của  
người dùng hợp pháp. Chủ thể lừa đảo sẽ liên hệ với nhà khai thác di độngđể xin cấp  
25  
lại một thẻ SIM mới trùng lặp với bằng chứng nhận dạng giả. Nhà cung cấp dịch vụ  
di động, theo đó, sẽ hủy kích hoạt thẻ của người dùng hợp pháp đã bị chặn và cấp  
một thẻ SIM mới cho chủ thể lừa đảo.  
Thứ hai, hành vi tấn công trung gian. Đây là dạng hành vi rất tinh vi, biểu hiện  
thông qua các hoạt động tấn công Man-in-the-Browser hoặc Man-in-the-Middle  
nhằmvào các giao dịch trực tuyến bằng cách đọc dữ liệu thanh toán từ trình duyệt  
Internet trong khi người dùng đang nhập chi tiết thẻ tín dụng hoặc tài khoản ngân  
hàng của mình. Các cuộc tấn công này hướng đếnviệc để đánh cắp thông tin đăng  
nhập và dữ liệu cá nhân của người dùng ví điện tử.  
Thứ ba, hành vi tấn công bằng phần mềm độc hại. Đối với hành vi này, các chủ  
thể vi phạm sẽ sử dụng phần mềm độc hại tấn công vào các ví điện, từ đó thu thập  
thông tin chi tiết từ ví điện tử của người dùng và sử dụng cho các mục đích bất hợp  
pháp của mình.  
3.2. Một số hành vi có dấu hiệu lừa đảo hoặc trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài  
sản từ ví điện tử  
Các hành vi có dấu hiệu lừa đảo hoặc trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản từ ví  
điện tử thường được tiến hành dưới hai hình thức sau đây:  
Thứ nhất, hành vi lừa đảo thông qua mời chào vay vốn hoặc thông báo khách  
hàng trúng thưởng, nhận được quà. Các chủ thể lừa đảo đưa ra lời mời chào khách  
hàng vay vốn trực tuyến hoặc thông báo về việc người dùng trúng thưởng, được nhận  
quà rồi yêu cầu người dùng cung cấp các thông tin, hình ảnh như chứng minh nhân  
dân, số thẻ ngân hàng, mật khẩu OTP… Sau khi lấy được những thông tin này, chủ  
thể lừa đảo sẽthao tác mở ví điện tử đối với khách hàng chưa từng mở ví, tiến hành  
liên kết với tài khoản ngân hàngvà thực hiện việc trộm cắp tiền từ ví điện tử và mua  
sắm hoặc chuyển qua một ví điện tử khác để chiếm đoạt.  
Thứ hai, lừa đảo bằng cách giả mạo các chủ thể công quyền hoặc nhân viên  
ngân hàng. Trong dạng hành vi này, chủ thể lừa đảo lợi dụng sự thiếu hiểu biết, sự  
nhẹ dạ cả tin của người dùng ví điện tử để chiếm đoạt tài sản. Thông thường, chủ để  
lừa đảo sẽ giả mạo nhân viên ngân hàng để thông báo cho khách hàng tài khoản liên  
kết với ví điện tử có vấn đề phát sinh, yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin cá  
26  
nhân, thông tin bảo mật của tài khoản (mật khẩu, OTP, số thẻ…) để xử lý. Bên cạnh  
đó, chủ thể lừa đảo cũng có thể giả mạo các cơ quan chức năng (công an, tòa án…)  
thông báo thẻ, tài khoản bị xâm nhập, cần cung cấp thông tin để phối hợp điều tra hay  
thậm chí thông báo người dùng ví điện tử đang liên quan đến một tội phạm nguy hiểm  
từ đó yêu cầu người dùng phải cung cấp các thông tin cần thiết để phối hợp điều tra.  
Ngoài ra, các chủ thể lừa đảo cũng có thể giả mạo người thân, bạn bè nhờ nhập thông  
tin để chuyển khoản hộ/nhận tiền… Sau khi cung cấp các thông tin cá nhân, thông tin  
bảo mật của tài khoản, các đối tượng sử dụng thông tin để tạo tài khoản ví điện tử rồi  
nạp tiền vào ví điện tử từ chính tài khoản của khách hàng, mua sắm, chuyển tiền sang  
ví khác rồi chiếm đoạt.  
4. Quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý ví điện tử  
Tại Việt Nam, ví điện tử được xác định loại hình trung gian thanh toán và được  
quy định lần đầu tại Nghị định 101/2012/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày  
22/11/2012 (và được sửa đổi bởi Nghị định 80/2016/NĐ-CPcủa Chính phủ ban hành  
ngày 01/7/2016) và Thông tư số 39/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban  
hành ngày 11/12/2014 (và được sửa đổi bởi Thông tư số 23/2019/TT-NHNN ngày 22  
tháng 11 năm 2019). Căn cứ vào khoản 1 Điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ-CP, dịch vụ  
ví điện tử được hiểu là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định  
danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin  
(như chip điện tử, SIM điện thoại di động, máy tính...), cho phép lưu giữ một giá trị  
tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ  
tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán  
của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử theo tỷ lệ 1:1.  
Các quy định cốt lõi về quản lý hoạt động của ví điện tử được ghi nhận tại Điều  
9 Thông tư số 23/2019/TT-NHNN với những nội dung chính liên quan đến tổng hạn  
mức giao dịch, các thông tin người dùng phải cung cấp, các nghĩa vụ và trách nhiệm  
của người dùng cũng như của các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử. Cụ thể, tổng  
hạn mức giao dịch qua các ví điện tử cá nhân của một khách hàng tại một tổ chức  
cung ứng dịch vụ ví điện tử (bao gồm giao dịch thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ  
hợp pháp và giao dịch chuyển tiền từ ví điện tử cho ví điện tử khác do cùng tổ chức  
27  
cung ứng dịch vụ ví điện tử mở) tối đa là 100 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, để siết  
chặt việc quản lý kiểm soát thông tin chủ ví điện tử phải cung cấp, cập nhật đầy đủ,  
chính xác các thông tin trong hồ sơ mở ví điện tử cho tổ chức cung ứng dịch vụ và  
chịu trách nhiệm về tính trung thực của các thông tin cung cấp. Các thông tin cá nhân  
định danh như chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước, hộ chiếu… đều phải chính  
xác, đầy đủ. Chủ ví điện tử cũng không được cho thuê, cho mượn ví điện tử hoặc  
mua, bán thông tin ví điện tử. Khách hàng muốn nạp tiền vào ví điện tử phải thông  
qua tài khoản thanh toán hoặc thẻ ATM của khách hàng là chủ ví điện tử; nhận tiền  
từ ví khác do cùng tổ chức cung ứng dịch vụ ví mở. Nghiêm cấm việc sử dụng ví điện  
tử để thực hiện các giao dịch cho các mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo,  
gian lận và các hành vi vi phạm pháp luật khác; nghiêm cấm việc thuê, cho thuê,  
mượn, cho mượn ví điện tử hoặc mua, bán thông tin ví điện tử. Ngoài ra, các tổ chức  
cung ứng dịch vụ ví điện tử không được phép cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng  
ví điện tử, trả lãi trên số dư ví điện tử hoặc bất kỳ hành động nào có thể làm tăng giá  
trị tiền tệ trên ví điện tử so với giá trị tiền khách hàng nạp vào... Ngoài ra, Thông tư  
quy định tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử không được phép phát hành hơn một ví  
điện tử cho một khách hàng tại một tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử nhằm tránh  
lãng phí, ngăn ngừa tình trạng khách hàng đăng ký mở ví điện tử tràn lan, dẫn đến  
việc sử dụng ví điện tử không thực chất, hoặc lợi dụng mở nhiều ví điện tử để thực  
hiện hành vi rửa tiền, bất hợp pháp. Đây cũng là giải pháp ngăn ngừa tình trạng có  
những món tiền được lấy cắp do chiếm đoạt tài khoản, mã OTP, lừa đảo người sử  
dụng qua website rồi chuyển tiền từ ngân hàng vào ví điện tử. Với cơ chế xác thực  
thông tin bắt buộc theo Thông tư 23/2019/TT-NHNN thì việc thu hồi được số tiền đó  
sẽ đơn giản, dễ dàng hơn bởi thông tin người gửi và người nhận sẽ được xác định rõ.  
Các cơ quan quản lý cũng dễ dàng truy xuất thông tin, xử lý sự cố xảy ra phù hợp với  
các quy định về phòng chống rửa tiền. Đặc biệt, một điểm mới theo quy định của  
Thông tư là các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải cung cấp công cụ để Ngân  
hàng Nhà nước giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ ví điện tử, bảo đảm cho phép  
giám sát tổng số lượng ví điện tử.  
28  
5. Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản lý  
ví điện tử  
5.1. Một số tồn tại, hạn chế của pháp luật Việt Nam về quản lý ví điện tử  
Có thể nói rằng Thông tư 23/2019/TT-NHNN đã có nhiều quy định tiến bộ trong  
nâng cao hiệu quả quản lý ví điện tử và tăng cường sự an toàn, tính bảo mật trong  
hoạt động thanh toán qua ví điện tử. Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn bỏ sót  
nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến giải quyết các rủi ro về mặt kỹ thuật, về mối  
quan hệ với đơn vị chấp nhận thanh toán ví điện tử, cũng như đạo đức kinh doanh  
của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử, của cán bộ, nhân viên, người lao động của  
các tổ chức này trong vận hành ví điện tử, cụ thể như sau:  
Về phương diện kỹ thuật: Về nguyên tắc, đối với các rủi ro do kỹ thuật như lỗi  
hệ thống, lỗi để lộ thông tin khách hàng và các lỗi khác do lỗi của tổ chức cung ứng  
dịch vụ ví điện tử thì tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử sẽ phải bồi thường thiệt hại  
cho khách hàng. Tuy nhiên, trong mối quan hệ với tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện  
tử, việc xác định các lỗi này của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử là vấn đề không  
dễ dàng giải quyết, bởi lẽ các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử hoàn toàn có thể  
sử dụng các thủ thuật trên mạng điện tử để “che lấp” các lỗi này trước khách hàng và  
Ngân hàng Nhà nước.Vì vậy, các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử có thể vận dụng  
các quy định về miễn trách nhiệm để “lẩn trốn” trách nhiệm pháp lý của mình và “bỏ  
mặc” khách với những thiệt hại mà mình đã gây ra.  
Về mối quan hệ với các đơn vị chấp nhận thanh toán ví điện tử: Thông tư  
23/2019/TT-NHNN cũng chưa làm rõ được mối quan hệ về trách nhiệm pháp lý của  
tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử và các đơn vị chấp nhận thanh toán bằng ví điện  
tử. Hoạt động thanh toán thông qua ví điện tử, trong đa số các trường hợp, là hoạt  
động có sự tham gia của ba chủ thể: tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử, đơn vị chấp  
nhận thanh toán ví điện tử và khách hàng (người tiêu dùng). Về mặt lý thuyết khi  
khách hàng thực hiện việc mua hàng hoá hoặc nhận cung ứng dịch vụ, tiền trong ví  
điện tử của khách hàng sẽ được chuyển cho các đơn vị chấp nhận thanh toán bằng ví  
điện tử thông qua các thao tác và các lệnh của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử.  
Trong quá trình này, nếu có những vấn đề phát sinh liên quan đến kỹ thuật, có thể do  
29  
lỗi trong khâu thực hiện lệnh thanh toán tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử hoặc lỗi  
trong khâu nhận thanh toán của đơn vị nhận thanh toán bằng ví điện tử. Vậy trong  
trường hợp này, việc phân định trách nhiệm pháp lý sẽ được thực hiện như thế nào  
và có cơ chế nào để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.  
Bên cạnh đó, trên thực tế hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng những trục trặc trong  
thanh toán do sự yếu kém của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử. Những trục trặc  
này cũng dễ dẫn đến sự khó chịu cho khách hàng sử dụng dịch vụ và do đó có thể  
khiến họ từ bỏ việc mua sắm hoặc nhận cung ứng dịch vụ.22Vậy những thiệt hại này  
của đơn vị chấp nhận thanh toán bằng ví điện tử này sẽ được bồi thường như thế nào  
cũng là một vấn đề pháp luật còn bỏ ngỏ.  
Về phương diện đạo đức: Những rủi ro về đạo đức như trường hợp nhân viên  
của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử câu kết với nhân viên của ngân hàng thương  
mại nơi khách hàng mở tài khoản thanh toán, dùng các số liệu giả hoặc các thủ thuật  
trên mạng điện tử để rút/ chiếm dụng tiền trong ví điện tử của khách hàng là hoàn  
toàn có thể xảy ra. Trường hợp này rõ ràng là các nhà làm luật cũng như các bên trong  
quan hệ pháp luật về dịch vụ ví điện tử chưa hề đề cập trong các quy định. Thực tế  
này đặt khách hàng vào trong nhiều bất lợi vô cùng nguy hại.Như đã đề cập, việc bị  
để lộ những thông tin cá nhân quan trọng hoặc có tính chất xác thực hay định danh  
có thể sẽ dẫn đến những thiệt hại về mặt kinh tế cho khách hàng. Những thiệt hại vật  
chất này không chỉ trong phạm vi giá trị của ví điện tử liên quan mà có thể mở rộng  
nguy cơ đối với các ví điện tử khác hoặc các tài khoản trực tuyến khác. Điều này  
được giải thích bởi một khách hàng là người dùng có thể sử dụng nhiều ví điện tử  
khác nhau cũng như các ứng dụng mobile banking hay Internet banking khác.  
5.2. Một số giải pháp cụ thể  
Trên cơ sở nhận diện những bất cập còn tồn tại của pháp luật Việt Nam về quản  
lý ví điện tử, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản hướng đến hoàn thiện pháp luật  
và nâng cao hơn nữa hiệu quả thực thi nhằm tận dụng những ưu thế vượt trội của ví  
điện tử trong phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện đại trong tương lai gần.  
22ThS. Trần Thanh Bình (2020), Những bất cập của các quy định pháp luật về ví điện tử, xem thêm tại:  
15/8/2021).  
30  
Trước hết, về phương diện kỹ thuật: pháp luật Việt Nam cần nêu rõ quan điểm  
về vai trò của yếu tố “lỗi” trong cấu thành trách nhiệm pháp lý đối với các sai sót kỹ  
thuật của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử đối với thiệt hại của khách hàng là  
người dùng. Theo quan điểm của tác giả, trong trường hợp này cần suy đoán rằng tổ  
chức cung ứng dịch vụ ví điện tử luôn luôn có lỗi bởi việc bảo đảm thanh toán thông  
qua ví điện tử được an toàn, ổn định, chính xác và kịp thời là nghĩa đương nhiên của  
các tổ chức này. Tương tự, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử sẽ không được áp  
dụng trường hợp về sự kiện bất khả kháng để được hưởng miễn trách nhiệm. Khách  
hàng phải luôn có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại từ sai sót kỹ thuật của tổ  
chức cung ứng dịch vụ ví điện tử.  
Bên cạnh đó, về mối quan hệ với các đơn vị chấp nhận thanh toán ví điện tử:  
pháp luật Việt Nam cần có các quy định cụ thể về các tiêu chí và cách thức phân định  
trách nhiệm của các bên trên nguyên tắc ưu tiên bảo vệ quyền lợi của khách hàng là  
người sử dụng dịch vụ. Theo đó, quy định của pháp luật nên được xây dựng trên  
nguyên tắc người sử dụng dịch vụ có quyền yêu cầu một trong hai bên bồi thường  
các thiệt hại (nếu có) và các biện pháp khác để bảo đảm cho giao dịch được thực hiện.  
Cuối cùng, về phương diện đạo đức: pháp luật Việt Nam cũng cần có các quy  
định chặt chẽ hơn về trách nhiệm và đạo đức của các cán bộ, nhân viên tổ chức cung  
ứng dịch vụ ví điện tử trong thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Bên cạnh đó,  
theo quan điểm của tác giả, Ngân hàng Nhà nước cần hướng dẫn cho các tổ chức  
cung ứng dịch vụ ví điện tử và các ngân hàng thương mại xây dựng bộ quy tắc đạo  
đức nghề nghiệp liên quan đến các hoạt động thanh toán bằng ví điện tử. Đồng thời,  
các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử và các ngân hàng thương mại cũng cần cùng  
nhau xây dựng cơ chế kiểm soát rủi ro, cả về tài chính và đạo đức nghề nghiệp, với  
mục tiêu chung vai sát cánh cùng pháp luật trong bảo vệ sự an toàn tài chính của  
khách hàng.  
6. Kết luận  
Sự phát triển của ví điện tử là xu thế tất yếu của thời đại. Là một đất nước có  
nền kinh tế năng động với nguồn nhân lực trẻ, ví điện tử đã dần trở thành một phương  
thức thanh toán điện tử nổi trội. Trên cả nước hiện có 23 loại ví điện tử của 27 công  
31  
ty trung gian thanh toán (fintech) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép, mỗi  
loại ví điện tử đi theo phân khúc khách hàng riêng biệt, nhưng có điểm chung là không  
thu phí giao dịch và đặc biệt luôn khuyến mại trực tiếp bằng tiền cho người dùng.  
Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích như thanh toán nhanh, gọn, không dùng tiền mặt,  
ví điện tử cũng bộc lộ nhiều bất cập về quản lý tài khoản, dòng tiền luân chuyển giữa  
các ngân hàng hay bảo mật thông tin khách hàng. Trên cơ sở phân tích và nhận diện  
những bất cập này, tác giả mong muốn rằng với những giải pháp mà mình đề xuất,  
trong tương lai ví điện tử sẽ phát huy được vai trò và động lực to lớn của mình trong  
nâng cao trải nghiệm cho người dùng, cho đổi mới và hiện đại hoá phương thức thanh  
toán, góp phần vào phát triển kinh tế đất nước.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. ThS. Trần Thanh Bình (2020), Những bất cập của các quy định pháp luật  
về ví điện tử, xem thêm tại: https://iluatsu.com/ngan-hang/nhung-bat-cap-cua-cac-  
toan-tien-loi-646155.htm (truy cập ngày 12/8/2021)  
cập ngày 14/8/2021)  
vao-viet-nam-trong-8-thang-dau.html (truy cập ngày 15/8/2021);  
32  
pdf 10 trang Thùy Anh 14880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý ví điện tử tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_khuon_kho_phap_luat_ve_quan_ly_vi_dien_tu_tai_vie.pdf