Hàm ý phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn hiện nay

HÀM Ý PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG  
Ở NÔNG THÔN HIỆN NAY  
PGS.TS. Đào Duy Huân  
Tóm tắt:  
Phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là cần thiết để đáp  
ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của trên 60 triệu dân cư nông thôn. Để phát triển  
thị trường bán lẻ này cần: gia tăng thu nhập bằng tiền của dân cư; phát triển nhu  
cầu của dân cư nông thôn; phát triển các chủ thể tham gia bán lẻ trên thị trường  
nông thôn; đặc biệt phát triển kết cấu hạ tầng bán lẻ trên địa bàn nông thôn; và  
tăng cường công tác quản lý phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông  
thôn…  
Lời mở đầu:  
Thực tế, khu vực nông thôn hiện nay với khoảng 70% dân số sinh sống,  
chiếm trên 60% tổng GDP và có số lượng người tiêu dùng nhiều gấp hơn 2 lần khu  
vực thành thị. Số người có thu nhập trên 2,0 triệu đồng/tháng ngày càng tăng, đủ  
khả năng chi tiêu cho những vật dụng khác ngoài thực phẩm. Theo ước tính của  
chúng tôi, với đà tăng trưởng kinh tế trong tương lài, thì tại khu vực nông thôn sẽ có  
98% hộ gia đình nông thôn sẵn sàng mua tivi, 95% có thể mua bếp điện, bếp gas,  
40% có thể mua máy cassette/radio, 35% muốn mua tủ lạnh, 20% muốn mua máy  
vi tính, 10% muốn kết nối internet... Sự gia tăng nhu cầu mua của dân cư trên địa  
bàn nông thôn đã và đang mang lại cơ hội phát triển thị trường bán lẻ. Tuy nhiên,  
do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là về phương diện tổ chức thị trường, cung  
ứng hàng hóa, nên thị trường bán lẻ ở nông thôn hiện nay vẫn phát triển chậm và  
thiếu bền vững. Nhân hội thảo khoa học về thị trường bán lẽ do khoa quản trị  
kinh doanh tổ chức, chúng tôi, xin viết bài với chủ đề “Phát triển thị trường bán  
lẻ hàng hóa tiêu dùng ở nông thôn hiện nay”. Mục tiêu của bài viết là hàm ý các  
giải pháp góp phần thúc đẩy phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông  
thôn. Phương pháp sử dụng để hoàn thành bài viết là thống kê mô tả, diễn dịch –  
qui nạp và kế thừa có chọn lọc các bài viết của các tác giả đã đăng trên các  
phương tiện thông tin, trong đó tham chiếu bài viết của tác giả Phạm Hồng Tú  
với chủ đề “giải pháp phát triển thị trường bán lẻ”.  
1. Vài nét khái quát về thị trường bán lẻ nông thôn  
Tuy cách diễn đạt có thể khác nhau, song thị trường là tổng thể các quan  
hệ mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có  
quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào. Khái niệm  
này cũng đúng với thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, trong khái niệm  
thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng, ngoại diên đã được thu hẹp và nội hàm được  
5
mở rộng hơn. Cụ thể, người bán là người bán lẻ, họ không chỉ bán hàng hóa mà  
còn cung cấp cho người người mua các dịch vụ hỗ trợ, bổ sung có liên quan đến  
hàng hóa; người mua là người tiêu dùng cuối cùng, họ không chỉ mua hàng hóa  
mà còn quan tâm đến cả dịch vụ do người bán cung cấp; hàng hóa cũng được  
xác định cụ thể là những hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và  
hộ gia đình.  
Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có những đặc trưng cơ  
bản:  
Một, Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có mức độ phân tán  
cao, qui mô nhỏ và mang đậm tính mùa vụ. Đặc trưng này gắn liền với điều kiện  
sản xuất, khả năng gia tăng thu nhập, cũng như đặc điểm phân bố và mật độ dân  
cư ở khu vực nông thôn, nhất là các vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng  
xa.  
Hai, Người bán lẻ hàng tiêu dùng trên thị trường nông thôn phổ biến chỉ  
có một cửa hàng bán lẻ duy nhất, qui mô nhỏ với các mặt hàng bán lẻ quan trọng  
là các mặt hàng lương thực - thực phẩm, may mặc, giầy dép, đồ gia dụng. Trong  
đó, những sản phẩm được đưa trực tiếp từ “đồng ruộng” hoặc từ “nơi” sản xuất  
của các hộ gia đình ra thị trường chiếm tỷ trọng không nhỏ. Tính cá biệt cao của  
hàng hóa về qui cách, chất lượng sản phẩm, về giá thành sản xuất,… Số lượng  
hàng hóa nông sản và sản phẩm làng nghề có mức độ dao động lớn theo ngày,  
mùa, vụ.  
Ba, Quan hệ mua – bán trên thị trường bán lẻ ở nông thôn vẫn chủ yếu là  
quan hệ mua - bán hàng hóa. Các dịch vụ trong hoạt động bán lẻ yếu về chất và  
thiếu về lượng, đồng thời mang tính “tự phát” và “cá biệt” cao. Điều này, trước  
hết do năng lực cung cấp dịch vụ của người bán lẻ trên thị trường bị hạn chế.  
Các đối tượng tham gia hoạt động bán lẻ trên thị trường nông thôn thường chủ  
yếu là các hộ sản xuất trực tiếp bán lẻ và các hộ buôn bán nhỏ, hoạt động tương  
đối độc lập với nhau và thiếu tính chuyên nghiệp. Các điều kiện cơ sở vật chất –  
kỹ thuật để thực hiện hoạt động bán lẻ của các đối tượng tham gia thị trường  
thường khá đơn giản. Thứ hai do thu nhập thấp, người tiêu dùng ở nông thôn  
thường quan tâm đến hàng hóa hóa hơn là các dịch vụ bán lẻ kèm theo. Vì vậy,  
chính người tiêu dùng cũng chưa tạo ra động lực cho người bán lẻ trên thị trường  
gia tăng cung cấp dịch vụ.  
Bốn, Trên thị trường nông thôn, nhất là tại các chợ, sự cạnh tranh diễn ra  
đồng thời giữa người mua và người bán, giữa những người bán lẻ và giữa những  
người mua với nhau. Trong đó, giữa người mua và người bán trên thị trường bán  
lẻ ở nông thôn thường diễn ra thỏa thuận “tay đôi” về giá cả hàng hóa và các  
dịch vụ khác. Cạnh tranh giữa những người bán lẻ trên thị trường nông thôn chủ  
yếu bằng biện pháp giá cả (giảm giá) hơn là các biện pháp phi giá (quảng cáo,  
khuyến mại, các dịch vụ bán hàng,…). Cạnh tranh giữa những mua với nhau  
6
thường diễn ra thỏa thuận cả về giá và lượng mua. Canh tranh làm cho giá cả  
trên thị trường bán lẻ ở nông thôn thường có tính linh động cao theo thời gian và  
theo đối tượng mua bán.  
Các tiêu chí đánh giá sự phát triển của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng  
nông thôn:  
• Khối lượng và giá trị hàng hóa được bán ra (doanh số) trong một  
khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm so với năm trước đó.  
• Phát triển khi chủng loại hàng hóa được tiêu thụ trên thị trường ngày  
càng phong phú đa dạng và mở rộng …  
• Số lượng cơ sở bán lẻ của từng loại hình, hoặc tổng diện tích kinh  
doanh của từng loại hình, hoặc thị phần bán ra của từng loại hình,… tăng nhanh  
và ngày càng chiếm tỷ lệ cao.  
• Chỉ số hài lòng của khách hàng về: chất lượng hàng hóa, khả năng lựa  
chọn hàng hóa, sự mong đợi của khách hàng về các dịch vụ trước trong và sau  
khi bán hàng, sự cảm nhận về chất lượng hàng hóa và dịch vụ so với giá của  
hàng hóa…  
• Tình trạng cạnh tranh trên thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng. …  
2. Những kết quả đạt được của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở  
nông thôn:  
Một, Tốc độ tăng trưởng của tổng cầu về hàng hóa tiêu dùng trên thị  
trường nông thôn đã tăng nhanh, bình quân 22,73%/năm trong giai đoạn 2010 -  
2013 do sự cải thiện về thu nhập bình quân đầu người (tăng 19,51%/năm) và xu  
hướng tăng chi mua hàng hóa (từ 65,9% lên 70,6% tổng thu nhập).  
Hai, Cơ cấu tiêu dùng theo nhóm hàng hóa của dân cư nông thôn đã có  
sự chuyển dịch theo hướng giảm chi mua cho các mặt hàng ăn uống hút, từ  
50,7% năm 2002 còn 68,4% năm 2013. Đồng thời, nhu cầu của người tiêu dùng  
nông thôn ngày càng đa dạng hơn về chủng loại hàng hóa, đặc biệt đang có xu  
hướng mở rộng sang các mặt hàng giá trị cao như điện thoại, máy điều hòa nhiệt  
độ, máy tính, máy giặt...Khối lượng nhu cầu của dân cư nông thôn về các hàng  
hóa lâu bền tăng với tốc độ cao và cao hơn so với tốc độ tăng chung của cả nước.  
Tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền tăng nhanh.  
Ba, Trên thị trường bán lẻ ở nông thôn, bên cạnh loại hình chợ vẫn còn  
tồn tại phổ biến, nhưng các loại hình bán lẻ khác cũng đã tăng nhanh, nhất là các  
cửa hàng bán lẻ của tư nhân. Tại các thị trấn, huyện lỵ, nhiều loại hình bán lẻ  
tiến bộ đang phát triển nhanh, như cửa hàng tự chọn, siêu thị…  
Bốn, Các doanh nghiệp phân phối trên thị trường nông thôn đã phát  
triển nhanh và đang tích cực tham gia vào quá trình hình thành các kênh  
phân phối hàng hóa khác nhau trên thị trường, phát triển các loại hình bán lẻ  
hiện đại, chú trọng gia tăng các dịch vụ bán lẻ như bao gói, tiếp thị, đảm bảo  
7
giao hàng…  
Năm, Tính cạnh tranh trên thị trường bán lẻ ở nông thôn cũng đã có xu  
hướng tăng lên, đặc biệt là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bán lẻ. Cùng với xu  
hướng gia tăng tính cạnh tranh, các doanh nghiệp đã áp dụng nhiều biện pháp  
khác nhau để cung cấp nhiều hơn về thông tin sản phẩm, về chủng loại hàng hóa,  
về các dịch vụ bán lẻ,…  
Sáu, Thị trường bán lẻ ở nông thôn đã phát triển ổn định hơn cùng với xu  
hướng gia tăng thu nhập, quĩ mua của của người dân ở tốc độ cao và ổn định; xu  
hướng gia tăng nhanh của các nguồn cung hàng hóa trong nước và nhập khẩu.  
3. Những hạn chế và nguyên nhân  
Những hạn chế  
Một, Mặc dù qui mô thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn đã tăng  
nhanh trong giai đoạn vừa qua, nhưng qui mô thị trường nông thôn vẫn còn nhỏ.  
Nếu tính theo bình quân đầu người, thì qui mô và mật độ phân bố cầu về hàng  
hóa tiêu dùng ở nông thôn nhỏ và phân tán cao.  
Hai, Trong cơ cấu quĩ mua của dân cư nông thôn, tỷ lệ chi mua hàng hóa  
cho nhu cầu ăn, uống hút vẫn cao, nhất là khu vực nông thôn miền núi, vùng sâu,  
vùng xa. Đồng thời, tuy quĩ mua đồ dùng lâu bền của dân cư nông thôn đã tăng  
nhanh, nhưng quĩ mua bình quân đầu người vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức  
bình quân đầu người ở khu vực đô thị.  
Ba, Cơ sở hạ tầng nông thôn nói chung, hạ tầng thương mại nói riêng còn  
rất thiếu và yếu. Trên thị trường nông thôn vẫn tồn tại phổ biến các loại hình  
bán lẻ truyền thống (chợ, cửa hàng tư nhân), loại hình cửa hàng tự chọn  
chiếm 1,9% và siêu thị mới chỉ chiếm 0,42% số lượng cơ sở bán lẻ. Hơn nữa,  
qui mô của các cửa hàng bán lẻ phổ biến là qui mô hộ gia đình, sử dụng ít lao  
động và thiếu tính chuyên nghiệp. Chợ ở địa bàn nông thôn phân bố không  
đều, phần lớn chợ tập trung ở vùng nông thôn đồng bằng, còn tại địa bàn  
miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người thì mạng lưới chợ còn rất  
thưa thớt. Phần lớn chợ nông thôn có qui mô nhỏ, cơ sở vật chất - kỹ thuật lạc  
hậu, nghèo nàn, số chợ tạm còn nhiều; số chợ hoạt động kém, hoặc không hiệu  
quả.  
Bốn, Cùng với những hạn chế về phát triển loại hình bán lẻ và năng lực  
kinh doanh, khả năng cung cấp các dịch vụ bán lẻ của các cơ sở bán lẻ, kể cả các  
loại hình bán lẻ tiên tiến cũng chưa mang lại khả năng thỏa mãn tốt hơn nhu cầu  
mua sắm của người dân nông thôn. Đồng thời, người tiêu dùng nông thôn vẫn có  
thói quen mua sắm hàng hóa ở các cơ sở bán lẻ truyền thống, chưa quan tâm  
nhiều đến dịch vụ được cung cấp của các cơ sở bán lẻ.  
Năm, Áp lực cạnh tranh trên thị trường bán lẻ ở nông thôn hiện nay còn  
thấp. Trong khi lĩnh vực dịch vụ phân phối được xem là một trong những lĩnh  
vực có tính cạnh tranh cao, thì có đến 42,2% số đơn vị bán lẻ ở khu vực nông  
8
thôn hiện nay cho rằng sức ép cạnh tranh trên thị trường là bình thường.  
Sáu, Tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng quá hạn sử dụng, không rõ  
nguồn gốc xuất xứ,… vẫn còn khá phổ biến. Đây là những rủi ro mà người tiêu  
dùng ở nông thôn phải gánh chịu. Đồng thời, mối liên kết giữa các thương nhân  
bán buôn và bán lẻ, nhất là các hộ bán lẻ chưa chặt chẽ, do đó, mức độ rủi ro khi  
phát triển liên kết kinh doanh của các doanh nghiệp phân phối còn khá cao.  
Nguyên nhân  
Một, Mức GNP bình quân đầu người cả nước nói chung và của dân cư  
nông thôn thấp, ngưỡng thu nhập trung bình thấp. Theo phân loại mức thu nhập  
bình quân đầu người của Ngân hàng thế giới (WB): thu nhập “trung bình thấp”  
(bình quân từ 996 đến 3.945 USD/người/năm); thu nhập “trung bình cao” (bình  
quân từ 3.946 đến 12.195 USD/người/năm). Do đó, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa  
của dân cư nông thôn vẫn ở bậc thấp (theo thang nhu cầu của Maslow) – tỷ lệ chi  
cho nhu cầu cho ăn uống, hút cao, tập trung vào các mặt hàng giá rẻ, chất lượng  
thấp,...  
Hai, Qui mô dân số nông thôn đông gấp hơn 2 lần qui mô dân số đô thị,  
nhưng được phân bố trên diện tích lãnh thổ rộng lớn hơn nhiều lần. Hơn nữa,  
đặc điểm phân bố dân cư nông thôn, nhất là tại các vùng sâu, vùng xa mang tính  
phân tán cao.  
Ba, Các doanh nghiệp phân phối trong nước, nhất là các doanh nghiệp  
phân phối ở nông thôn phổ biến phát triển từ hoạt động kinh doanh của gia đình,  
có qui mô nhỏ, năng lực tài chính yếu, lao động phổ biến chưa qua đào tạo, năng  
lực cung cấp dịch vụ thấp,...Vai trò của thương mại nhà nước chỉ được phát huy  
ở cuối kênh tiêu thụ nông sản và mở đầu kênh phân phối hàng vật tư phục vụ sản  
xuất nông nghiệp. Hoạt động của thương mại tập thể chủ yếu là tham gia cung  
ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, một số hàng tiêu dùng thiết yếu; số  
hợp tác xã thương mại tham gia tiêu thụ nông sản và cung ứng hàng tiêu dùng  
còn ít. Số lượng thương nhân tại thị trường nông thôn (chủ yếu là cá nhân, hộ  
kinh doanh) phát triển nhanh, nhưng nặng về tự phát. Hầu hết các chủ thể tham  
gia thị trường đều trong tình trạng thiếu vốn, dẫn đến chậm đầu tư đổi mới trang  
thiết bị, thuê mua mở rộng mặt bằng sản xuất kinh doanh theo hướng quy mô  
lớn, văn minh hiện đại.  
Bốn, Lực lượng thương mại tư nhân, bên cạnh những mặt tích cực trong  
việc tiếp cận người tiêu dùng, cũng phát sinh không ít tiêu cực. Số vụ phát hiện  
bán hàng giả, hàng cấm sử dụng, hàng không bảo đảm chất lượng, không bảo  
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm... trên địa bàn nông thôn phần lớn thuộc khu vực  
thương mại tư nhân.  
9
4. Dự báo khối lượng nhu cầu một số mặt hàng lương thực-thực phẩm  
Bảng 1. Dự báo tổng khối lượng tiêu dùng một số mặt hàng lương thực,  
thực phẩm của khu vực nông thôn giai đoạn 2015-2020  
Tốc độ tăng  
Đơn  
2010  
2015  
2020  
vị  
11’-15’ 16’-20’  
Gạo các loại  
L.thực khác (quy gạo)  
Thịt các loại  
Mỡ, dầu ăn  
Tấn  
“
8380.1 7693.7 6200.8 -1.69% -4.22%  
655.8 641.1 645.9 -0.45% 0.15%  
1020.2 1139.8 1162.7 2.24% 0.40%  
“
1000l 218.6 213.7 193.8 -0.45% -1.94%  
Tấn 1020.2 1068.6 904.3 0.93% -3.28%  
1000q 1894.6 2350.8 2519.1 4.41% 1.39%  
Tôm, cá  
Trứng gia cầm  
Đậu phụ  
Tấn  
291.5 285.0 258.4 -0.45% -1.94%  
364.4 391.8 387.6 1.46% -0.22%  
Đường, mật, bánh kẹo,… Tấn  
Nước mắm, nước chấm  
Chè, cà phê  
Rượu, bia  
1000l 255.0 235.1 193.8 -1.62% -3.79%  
Tấn 72.9 71.2 64.6 -0.45% -1.94%  
1000l 510.1 498.7 516.7 -0.45% 0.71%  
1000l 291.5 356.2 516.7 4.09% 7.73%  
Đồ uống khác  
Đỗ các loại  
Tấn  
Tấn  
Tấn  
Tấn  
72.9  
72.9  
71.2  
71.2  
64.6  
64.6  
-0.45% -1.94%  
-0.45% -1.94%  
Lạc, vừng  
Rau các loại  
Quả chín  
1603.1 1638.5 1679.4 0.44% 0.49%  
583.0 605.5 645.9 0.76% 1.30%  
Nguồn: Phạm Hồng Tú, Dự báo chỉ để tham khảo  
Trong giai đoạn 2011 – 2020, khối lượng nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng  
lương thực, thực phẩm của dân cư nông thôn sẽ có xu hướng tăng, giảm theo  
từng mặt hàng cụ thể phù hợp với qui luật tiêu dùng các mặt hàng này khi thu  
nhập tăng. Cụ thể, tiêu dùng các sản phẩm lương thực tính bình quân đầu người  
tiếp tục giảm, trong đó tiêu dùng lương thực chưa qua chế biến tiếp tục giảm  
mạnh, nhưng lương thực đã qua chế biến tiếp tục có xu hướng tăng; tiêu dùng  
thịt và trứng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia đình  
và khối lượng tiêu dùng bình quân nhân khẩu tăng, tiếp đến là các loại khác như  
quả chín, rau, đồ uống…  
Trong giai đoạn 2011 – 2020, tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền và số lượng đồ  
dùng lâu bền tính trên 100 hộ ở nông thôn sẽ tiếp tục gia tăng do:  
10  
+ Các điều kiện cơ sở hạ tầng ở nông thôn tiếp tục được cải thiện cùng  
việc triển khai thực hiện chương trình nông thôn mới của Chính phủ và chiến  
lược phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành dịch  
vụ cơ sở hạ tầng như: cung cấp điện, nước, đường giao thông, đường truyền  
internet,...;  
+ Thu nhập và kiến thức tiêu dùng của người dân nông thôn tiếp tục được  
cải thiện tạo điều kiện để tăng nhanh quĩ mua hàng hoá lâu bền;  
+ Vòng đời sản phẩm của các hàng hoá lâu bền ngày càng rút ngắn do tốc  
độ áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ cao ngày càng nhanh hơn. Điều đó, một  
mặt sẽ góp phần hạ giá thành sản phẩm và giảm giá bán các mặt hàng thế hệ cũ,  
mặt khác thúc đẩy các nhà sản xuất kinh doanh phải đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ  
sản phẩm, đầu tư phát triển kênh phân phối sản phẩm ở khu vực nông thôn.  
Bảng 2. Dự báo khối lượng nhu cầu mua sắm một số đồ dùng lâu bền của  
các hộ gia đình ở nông thôn  
Đơn vị: 1000 chiếc  
2010  
14.7  
2015  
16.1  
2020  
Ô tô  
17.6  
638.1  
2332.8  
359.9  
359.6  
2688.7  
653.2  
820.6  
185.5  
560.7  
706.8  
Xe máy  
2714.8  
5028.5  
1164.3  
1205.2  
2196.6  
602.6  
424.6  
75.9  
983.4  
2908.5  
646.5  
599.0  
2287.5  
632.1  
677.8  
123.0  
506.8  
586.4  
Máy điện thoại  
Tủ lạnh  
Đầu video  
Tivi màu  
Dàn nghe nhạc các loai  
Máy vi tính  
Máy điều hòa nhiệt độ  
Máy giặt  
340.3  
317.0  
Bình tắm nước nóng  
Nguồn: Phạm Hồng Tú, Dự báo chỉ để tham khảo  
Tất cả những điều đó sẽ thúc đẩy nhu cầu mua sắm đồ dùng lâu bền của  
các hộ gia đình ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, tổng khối lượng sản phẩm lâu  
bền được mua sắm của các hộ gia đình ở nông thôn qua các năm sẽ tăng chậm,  
thậm chí giảm dần.  
5. Hàm ý Phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn  
Một, Phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn phù hợp với  
điều kiện và trình độ phát triển của từng vùng;  
Hai, Tái cơ cấu thị trường bán lẻ ở nông thôn bao gồm: Tái cơ cấu lực  
lượng tham gia bán lẻ trên thị trường nông thôn, Tái cơ cấu các kênh phân phối  
11  
theo ngành hàng trên thị trường; Tái cơ cấu các loại hình bán lẻ trên thị trường  
nông thôn;  
Ba, Tổ chức không gian thị trường bán lẻ ở nông thôn bao gồm: Một là,  
lấy đơn vị thôn, xóm, làng, bản làm không gian cơ sở để phát triển mạng lưới  
bản lẻ trên địa bàn nông thôn, lấy các trục giao thông liên thôn, liên xã có điều  
kiện và tiềm năng phát triển thương mại, tiếp tục phát triển các khu vực thị tứ  
(hoặc có điều kiện trở thành thị tứ) trở thành các điểm sáng trên thị trường nông  
thôn cả về tiêu thụ sản phẩm;  
Bốn, nâng cao thu nhập bằng tiền của dân cư khu vực nông thôn thông  
qua: Phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, qui mô lớn, Đẩy mạnh  
phát triển các ngành sản xuất phi nông nghiệp, tạo việc làm và nâng cao thu  
nhập của dân cư nông thôn; Đẩy mạnh phát triển các ngành sản xuất phi nông  
nghiệp, tạo việc làm và nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn  
Năm, phát triển cầu về hàng hóa tiêu dùng trên thị trường nông thôn  
thông qua: nâng cao mức độ tập trung cầu trên thị trường nông thôn, Hình thành  
các điểm nóng tiêu dùng để trở thành hạt nhân kích thích tiêu dùng hàng hóa và  
dịch vụ của dân cư ở khu vực nông thôn, Nâng cao hiểu biết về hàng hóa tiêu  
dùng, kiến thức tiêu dùng cho dân cư nông thôn, Khuyến khích người tiêu dùng  
ở nông thôn mở rộng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ bán lẻ…  
Lời kết:  
Phát triển nông nghiệp, nâng cao mức sống cho nông dân và xây dựng  
nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế -  
xã hội ở nước ta. Trong định hướng kinh tế thị trường, mục tiêu đề ra phải phát  
triển thị trường nông thôn nói chung và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông  
thôn nói riêng dựa trên các cơ sở khoa học và thực tiễn mới. Tuy nhiên, do nhiều  
nguyên nhân khác nhau, nhất là về phương diện tổ chức thị trường và cung ứng  
hàng hóa, nên thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn vẫn còn phát triển  
chậm và thiếu bền vững  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Công Thương (2010), Báo cáo tình hình thực hiện cuộc vận động  
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” 6 tháng đầu năm và kế hoạch  
triển khai 6 tháng cuối năm 2010, Hà Nội.  
2. Bộ Công Thương (2010), Đề án phát triển thương mại nông thôn giai  
đoạn 2009-2015 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội  
3. Bộ Thương mại (2006), Đề án phát triển thương mại trong nước đến  
năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội.  
4. Phạm Hồng Tú, 2010, Nghiên cứu giải pháp phát triển thị trường bán  
lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn thời kỳ 2010 - 2020, Đề tài khoa học cấp Bộ,  
2010, chủ nhiệm đề tài.  
12  
pdf 8 trang Thùy Anh 12540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hàm ý phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfham_y_phat_trien_thi_truong_ban_le_hang_tieu_dung_o_nong_tho.pdf