Hội thảo Thị trường bán lẻ Việt Nam trong giai đoạn hội nhập

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MAREKTING  
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM  
TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP  
Tp. Hồ Chí Minh, 04/2015  
MꢀC LꢀC  
I
II  
III  
TRIỂN VỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM  
ThS. Trương Thị Thuý Vân  
Tóm tắt:  
Thị trường bán lẻ Việt Nam luôn được đánh giá là giàu tiềm năng, thuộc  
nhóm năm thị trường hấp dẫn nhất thế giới. Theo báo cáo nghiên cứu mới nhất  
về thị trường bán lẻ Việt Nam đến cuối năm 2014 của Tổ chức tư vấn AT  
Kearney (Mỹ), thị trường bán lẻ Việt Nam – một thị trường đang phát triển với  
hơn 90 triệu dân – được coi là có mức tăng trưởng rất hấp dẫn. Rất nhiều các  
doanh nghiệp nước ngoài, các tập đoàn lớn trên thế giới đều đã gia nhập thị  
trường bán lẻ Việt Nam. Tất cả những điều đó đã tạo nên một bức tranh khá sôi  
động về thị trường bán lẻ Việt Nam.  
Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa năm 2014, tổng dân số Việt  
Nam đạt gần 90.5 triệu người, trong đó nam chiếm hơn 49%, nữ chiếm gần 51%.  
Kết quả được Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc công bố ngày  
17/12/2014 tại Hà Nội. Trong đó lực lượng dân số trẻ chiếm hơn một nửa. Mức  
GDP trung bình của nước ta đang xấp xỉ gần 2.000 USD/người. Trong tương lai  
giá trị này sẽ ngày càng tăng lên và trở thành tiền đề cho sự phát triển của thị  
trường bán lẻ Việt Nam.  
Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ từ ngày 01/01/2009 và suốt những  
năm qua vẫn luôn được đánh giá là giàu tiềm năng, thuộc nhóm năm thị trường  
hấp dẫn nhất thế giới. Việc này đồng nghĩa là sự cạnh tranh sẽ tăng lên rất nhiều  
và thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ có sự thay đổi cả về lượng và chất.Thống kê  
của Bộ Công Thương, thị phần bán lẻ hiện đại ở Việt Nam chiếm khoảng 25%  
tổng mức bán lẻ. Cả nước hiện có khoảng 724 siêu thị và 132 trung tâm thương  
mại, số cửa hàng tiện lợi hoạt động đúng nghĩa (có thương hiệu và vận hành theo  
chuỗi) mới chỉ dừng lại ở con số hàng trăm. Trong đó có 22 doanh nghiệp 100%  
vốn đầu tư nước ngoài đang kinh doanh tại Việt Nam. Các kênh bán lẻ hiện đại  
đã chiếm khoảng 20% thị trường bán lẻ và dự kiến năm nay sẽ tăng lên 40%.  
Tuy nhiên, phần lớn các siêu thị và trung tâm thương mại này lại chỉ tập trung tại  
các thành phố lớn và khu vực nội thành. Khu vực nông thôn, ngoại thành hầu  
như vắng bóng các hệ thống bán lẻ, chỉ chủ yếu phân phối hàng theo từng đợt.  
Theo Quy hoạch của Bộ Công Thương, đến năm 2020 cả nước sẽ có khoảng  
1.200 – 1.500 siêu thị, tức cần thêm 550 siêu thị so với hiện tại, 180 trung tâm  
thương mại và 157 trung tâm mua sắm. Chính vì thế, có thể nói thị phần bán lẻ  
Việt Nam còn đang bị bỏ ngỏ khá nhiều.  
Tổng mức bán lẻ của Việt Nam tăng trưởng mạnh hơn trong năm 2014,  
cho thấy sức tiêu thụ hàng hóa của người tiêu dùng trong nước có phần được cải  
1
   
thiện.Tổng cục Thống kê cho biết tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch  
vụ tiêu dùng trong cả năm 2014 đạt 2,95 triệu tỷ đồng, tăng 10,6% so với năm  
2013. Nếu loại trừ yếu tố giá, tổng mức bán lẻ của Việt Nam tăng 6,3% so với  
cùng kỳ, cao hơn mức tăng 5,5% của năm 2013.  
Xét về ngành hoạt động, tổng mức bán lẻ của khu vực kinh doanh bán lẻ  
hàng hóa đạt 2.216,2 nghìn tỷ đồng, tăng11,3%; dịch vụ lưu trú ăn uống đạt  
352,8 nghìn tỷ đồng, tăng 7,4%; dịch vụ khác đạt 347,3 nghìn tỷ đồng, tăng  
9,4%; du lịch lữ hành đạt 28,9 nghìn tỷ đồng, tăng15,3%.  
Dễ dàng nhận thấy, năm 2014 là một năm hết sức sôi động của thị trường  
bán lẻ Việt Nam, đặc biệt là trong hoạt động mua bán sáp nhập, liên kết, liên  
doanh…cả về sản xuất lẫn kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ như: Kinh  
Đô, Citimart, Metro… và mới nhất là Nguyễn Kim. Theo báo cáo nghiên cứu về  
thị trường bán lẻ Việt Nam đến cuối năm 2014 của Tổ chức tư vấn AT Kearney  
(Mỹ), thị trường bán lẻ Việt Nam được coi là có mức tăng trưởng rất hấp dẫn  
(lên đến 23%/năm).  
Rất nhiều các doanh nghiệp nước ngoài, ngoại trừ tập đoàn Walmart (Mỹ)  
đang trong giai đoạn thăm dò thì hầu hết các tập đoàn lớn trên thế giới đều đã gia  
2
nhập thị trường bán lẻ Việt Nam với Lotte, BigC, Metro, Parkson, Aeon…Mới  
đây nhất, tập đoàn bán lẻ số một tại Hàn Quốc – Lotte - đặt mục tiêu 60 siêu thị  
tại Việt Nam vào năm 2020 và Aeon – cũng là một "ông lớn" khác trong ngành  
bán lẻ Nhật Bản thông báo sẽ mở trung tâm thương mại thứ hai vào tháng  
10/2015 cũng đã không giấu giếm ý định thống lĩnh thị trường Việt. Họ dự kiến  
tới 2020 sẽ mở 20 trung tâm thương mại tại Việt Nam. Tận dụng tâm lý tin cậy  
và thích dùng hàng Nhật của người tiêu dùng Việt, Aeon sử dụng phương án  
dùng 1/3 hàng Nhật, 1/3 hàng Việt Nam và 1/3 hàng nhập từ các nước khác. Các  
doanh nghiệp ngoại tham gia vào thị trường Việt Nam bằng nhiều con đường  
khác nhau: liên doanh, liên kết, hợp tác chuyển nhượng.... Trong khi đó, các tập  
đoàn bán lẻ nước ngoài vào Việt Nam từ trước như chuỗi siêu thị Big C và nhất  
là các chuỗi cửa hàng tiện lợi quốc tế đang không ngừng mở rộng quy mô đầu  
tư. Tất cả những điều đó đã tạo nên một bức tranh khá sôi động về thị trường bán  
lẻ Việt Nam trong năm 2014 vừa qua.  
Năm 2015 này và cả những năm tới thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ tiếp tục  
sôi động và chứng kiến những cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp,  
đặc biệt là giữa doanh nghiệp nội và ngoại. Chúng ta vẫn sẽ tiếp tục được chứng  
kiến cuộc đổ bộ của các doanh nghiệp ngoại vào thị trường Việt Nam.  
Năm 2015 cũng sẽ là một năm đầy cơ hội và thách thức với ngành bán lẻ  
Việt Nam. Kể từ ngày 01/11/2015, Việt Nam sẽ cho phép thành lập các công ty  
bán lẻ 100% vốn đầu tư nước ngoài theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập  
WTO. Bên cạnh đó, năm 2015 là năm khu vực kinh tế chung ASEAN (AEC)  
chính thức có hiệu lực cho phép các dòng tài nguyên, hàng hóa, vốn nhân lực…  
di chuyển tự do và thuận lợi. Chưa kể tới việc hiệp định TPP với 12 nước tham  
gia sẽ có thể được ký kết trong năm 2015. Với hiệp định này hơn 10.000 loại  
hàng hóa từ các nước thành viên sẽ được loại bỏ hoàn toàn thuế quan. Việc này  
sẽ gây nhiều khó khăn bất lợi cho hàng hóa trong nước nhưng cũng là động lực  
thúc đẩy được tình hình sản xuất và phân phối, nâng cao sức cạnh tranh của các  
doanh nghiệp Việt Nam.  
Việc nhiều tập đoàn bán lẻ lớn của nước ngoài thâm nhập mạnh mẽ vào  
thị trường Việt Nam nên được nhìn nhận như một chuyện bình thường. Là thành  
viên của WTO, chúng ta ở chung trong một sân chơi với mọi người. Và khi thị  
trường của chúng ta hấp dẫn thì mọi người kéo đến làm ăn. Thậm chí, sáp nhập  
và thâu tóm (M&A) là cách tạo tăng trưởng mà các công ty lớn vẫn thường làm  
ở mọi thị trường. Ngay các công ty lớn trong nước của chúng ta cũng làm như  
vậy, trường hợp Masan là một ví dụ. Nếu một thương hiệu thật sự tốt thì sẽ khó  
mất đi, chỉ có chủ của thương hiệu có thể thay đổi.  
Các doanh nghiệp Việt có nên ngăn chặn “làn sóng” này hay không là  
một việc cần suy nghĩ thêm. Có rất nhiều doanh nhân gầy dựng sự nghiệp không  
phải để kéo dài từ đời này qua đời khác mà chỉ để chứng minh năng lực của  
3
mình. Bán được doanh nghiệp do mình tạo ra với giá trị cao cũng có thể là mục  
tiêu mà doanh nhân đặt ra. Còn buộc phải bán vì thua lỗ, thất thế đương nhiên là  
một thất bại, nhưng lại có thể là sự khởi đầu của một doanh nghiệp mới, một  
thương hiệu mới. Nếu nền kinh tế tiếp tục phát triển, đời sống người dân ngày  
một tốt hơn thì những chuyện mua bán như vậy trong thị trường cũng là điều hết  
sức tự nhiên.  
Theo các chuyên gia kinh tế, đã đến lúc nhìn nhận việc có mặt các liên  
doanh với doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường bán lẻ như một tín hiệu tích  
cực chứ không phải theo hướng bị thôn tính. Các doanh nghiệp nên coi đây là  
những cuộc mua bán, sáp nhập bình thường, có hiệu quả cho doanh nghiệp và  
toàn thị trường. Vấn đề là doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài hoạt động ở thị  
trường Việt Nam tuân thủ đúng quy định của pháp luật và thực hiện đúng nghĩa  
vụ kinh doanh. Còn đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, phải nỗ lực hơn  
để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa nếu không rất khó đứng  
vững trên thị trường.  
Tháng 01/2015, thị trường bán lẻ Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn. Đây là  
một trong những nội dung mà nước ta cam kết khi gia nhập WTO. Khi mà giờ G  
đã điểm thì hàng loạt "đại gia" thị trường nước ngoài đã và vẫn đang ồ ạt đầu tư  
vào Việt Nam để giành thị phần. Miếng bánh thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn  
đang rất hấp dẫn, vấn đề là các doanh nghiệp Việt Nam cần ý thức rõ về các vấn  
đề mà mình sẽ phải đối diện để nắm bắt được thời cơ và làm chủ được trên  
thương trường.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
4
HÀM Ý PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG  
Ở NÔNG THÔN HIỆN NAY  
PGS.TS. Đào Duy Huân  
Tóm tắt:  
Phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là cần thiết để đáp  
ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của trên 60 triệu dân cư nông thôn. Để phát triển  
thị trường bán lẻ này cần: gia tăng thu nhập bằng tiền của dân cư; phát triển nhu  
cầu của dân cư nông thôn; phát triển các chủ thể tham gia bán lẻ trên thị trường  
nông thôn; đặc biệt phát triển kết cấu hạ tầng bán lẻ trên địa bàn nông thôn; và  
tăng cường công tác quản lý phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông  
thôn…  
Lời mở đầu:  
Thực tế, khu vực nông thôn hiện nay với khoảng 70% dân số sinh sống,  
chiếm trên 60% tổng GDP và có số lượng người tiêu dùng nhiều gấp hơn 2 lần khu  
vực thành thị. Số người có thu nhập trên 2,0 triệu đồng/tháng ngày càng tăng, đủ  
khả năng chi tiêu cho những vật dụng khác ngoài thực phẩm. Theo ước tính của  
chúng tôi, với đà tăng trưởng kinh tế trong tương lài, thì tại khu vực nông thôn sẽ có  
98% hộ gia đình nông thôn sẵn sàng mua tivi, 95% có thể mua bếp điện, bếp gas,  
40% có thể mua máy cassette/radio, 35% muốn mua tủ lạnh, 20% muốn mua máy  
vi tính, 10% muốn kết nối internet... Sự gia tăng nhu cầu mua của dân cư trên địa  
bàn nông thôn đã và đang mang lại cơ hội phát triển thị trường bán lẻ. Tuy nhiên,  
do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là về phương diện tổ chức thị trường, cung  
ứng hàng hóa, nên thị trường bán lẻ ở nông thôn hiện nay vẫn phát triển chậm và  
thiếu bền vững. Nhân hội thảo khoa học về thị trường bán lẽ do khoa quản trị  
kinh doanh tổ chức, chúng tôi, xin viết bài với chủ đề “Phát triển thị trường bán  
lẻ hàng hóa tiêu dùng ở nông thôn hiện nay”. Mục tiêu của bài viết là hàm ý các  
giải pháp góp phần thúc đẩy phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông  
thôn. Phương pháp sử dụng để hoàn thành bài viết là thống kê mô tả, diễn dịch –  
qui nạp và kế thừa có chọn lọc các bài viết của các tác giả đã đăng trên các  
phương tiện thông tin, trong đó tham chiếu bài viết của tác giả Phạm Hồng Tú  
với chủ đề “giải pháp phát triển thị trường bán lẻ”.  
1. Vài nét khái quát về thị trường bán lẻ nông thôn  
Tuy cách diễn đạt có thể khác nhau, song thị trường là tổng thể các quan  
hệ mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có  
quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào. Khái niệm  
này cũng đúng với thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, trong khái niệm  
thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng, ngoại diên đã được thu hẹp và nội hàm được  
5
   
mở rộng hơn. Cụ thể, người bán là người bán lẻ, họ không chỉ bán hàng hóa mà  
còn cung cấp cho người người mua các dịch vụ hỗ trợ, bổ sung có liên quan đến  
hàng hóa; người mua là người tiêu dùng cuối cùng, họ không chỉ mua hàng hóa  
mà còn quan tâm đến cả dịch vụ do người bán cung cấp; hàng hóa cũng được  
xác định cụ thể là những hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và  
hộ gia đình.  
Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có những đặc trưng cơ  
bản:  
Một, Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có mức độ phân tán  
cao, qui mô nhỏ và mang đậm tính mùa vụ. Đặc trưng này gắn liền với điều kiện  
sản xuất, khả năng gia tăng thu nhập, cũng như đặc điểm phân bố và mật độ dân  
cư ở khu vực nông thôn, nhất là các vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng  
xa.  
Hai, Người bán lẻ hàng tiêu dùng trên thị trường nông thôn phổ biến chỉ  
có một cửa hàng bán lẻ duy nhất, qui mô nhỏ với các mặt hàng bán lẻ quan trọng  
là các mặt hàng lương thực - thực phẩm, may mặc, giầy dép, đồ gia dụng. Trong  
đó, những sản phẩm được đưa trực tiếp từ “đồng ruộng” hoặc từ “nơi” sản xuất  
của các hộ gia đình ra thị trường chiếm tỷ trọng không nhỏ. Tính cá biệt cao của  
hàng hóa về qui cách, chất lượng sản phẩm, về giá thành sản xuất,… Số lượng  
hàng hóa nông sản và sản phẩm làng nghề có mức độ dao động lớn theo ngày,  
mùa, vụ.  
Ba, Quan hệ mua – bán trên thị trường bán lẻ ở nông thôn vẫn chủ yếu là  
quan hệ mua - bán hàng hóa. Các dịch vụ trong hoạt động bán lẻ yếu về chất và  
thiếu về lượng, đồng thời mang tính “tự phát” và “cá biệt” cao. Điều này, trước  
hết do năng lực cung cấp dịch vụ của người bán lẻ trên thị trường bị hạn chế.  
Các đối tượng tham gia hoạt động bán lẻ trên thị trường nông thôn thường chủ  
yếu là các hộ sản xuất trực tiếp bán lẻ và các hộ buôn bán nhỏ, hoạt động tương  
đối độc lập với nhau và thiếu tính chuyên nghiệp. Các điều kiện cơ sở vật chất –  
kỹ thuật để thực hiện hoạt động bán lẻ của các đối tượng tham gia thị trường  
thường khá đơn giản. Thứ hai do thu nhập thấp, người tiêu dùng ở nông thôn  
thường quan tâm đến hàng hóa hóa hơn là các dịch vụ bán lẻ kèm theo. Vì vậy,  
chính người tiêu dùng cũng chưa tạo ra động lực cho người bán lẻ trên thị trường  
gia tăng cung cấp dịch vụ.  
Bốn, Trên thị trường nông thôn, nhất là tại các chợ, sự cạnh tranh diễn ra  
đồng thời giữa người mua và người bán, giữa những người bán lẻ và giữa những  
người mua với nhau. Trong đó, giữa người mua và người bán trên thị trường bán  
lẻ ở nông thôn thường diễn ra thỏa thuận “tay đôi” về giá cả hàng hóa và các  
dịch vụ khác. Cạnh tranh giữa những người bán lẻ trên thị trường nông thôn chủ  
yếu bằng biện pháp giá cả (giảm giá) hơn là các biện pháp phi giá (quảng cáo,  
khuyến mại, các dịch vụ bán hàng,…). Cạnh tranh giữa những mua với nhau  
6
thường diễn ra thỏa thuận cả về giá và lượng mua. Canh tranh làm cho giá cả  
trên thị trường bán lẻ ở nông thôn thường có tính linh động cao theo thời gian và  
theo đối tượng mua bán.  
Các tiêu chí đánh giá sự phát triển của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng  
nông thôn:  
• Khối lượng và giá trị hàng hóa được bán ra (doanh số) trong một  
khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm so với năm trước đó.  
• Phát triển khi chủng loại hàng hóa được tiêu thụ trên thị trường ngày  
càng phong phú đa dạng và mở rộng …  
• Số lượng cơ sở bán lẻ của từng loại hình, hoặc tổng diện tích kinh  
doanh của từng loại hình, hoặc thị phần bán ra của từng loại hình,… tăng nhanh  
và ngày càng chiếm tỷ lệ cao.  
• Chỉ số hài lòng của khách hàng về: chất lượng hàng hóa, khả năng lựa  
chọn hàng hóa, sự mong đợi của khách hàng về các dịch vụ trước trong và sau  
khi bán hàng, sự cảm nhận về chất lượng hàng hóa và dịch vụ so với giá của  
hàng hóa…  
• Tình trạng cạnh tranh trên thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng. …  
2. Những kết quả đạt được của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở  
nông thôn:  
Một, Tốc độ tăng trưởng của tổng cầu về hàng hóa tiêu dùng trên thị  
trường nông thôn đã tăng nhanh, bình quân 22,73%/năm trong giai đoạn 2010 -  
2013 do sự cải thiện về thu nhập bình quân đầu người (tăng 19,51%/năm) và xu  
hướng tăng chi mua hàng hóa (từ 65,9% lên 70,6% tổng thu nhập).  
Hai, Cơ cấu tiêu dùng theo nhóm hàng hóa của dân cư nông thôn đã có  
sự chuyển dịch theo hướng giảm chi mua cho các mặt hàng ăn uống hút, từ  
50,7% năm 2002 còn 68,4% năm 2013. Đồng thời, nhu cầu của người tiêu dùng  
nông thôn ngày càng đa dạng hơn về chủng loại hàng hóa, đặc biệt đang có xu  
hướng mở rộng sang các mặt hàng giá trị cao như điện thoại, máy điều hòa nhiệt  
độ, máy tính, máy giặt...Khối lượng nhu cầu của dân cư nông thôn về các hàng  
hóa lâu bền tăng với tốc độ cao và cao hơn so với tốc độ tăng chung của cả nước.  
Tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền tăng nhanh.  
Ba, Trên thị trường bán lẻ ở nông thôn, bên cạnh loại hình chợ vẫn còn  
tồn tại phổ biến, nhưng các loại hình bán lẻ khác cũng đã tăng nhanh, nhất là các  
cửa hàng bán lẻ của tư nhân. Tại các thị trấn, huyện lỵ, nhiều loại hình bán lẻ  
tiến bộ đang phát triển nhanh, như cửa hàng tự chọn, siêu thị…  
Bốn, Các doanh nghiệp phân phối trên thị trường nông thôn đã phát  
triển nhanh và đang tích cực tham gia vào quá trình hình thành các kênh  
phân phối hàng hóa khác nhau trên thị trường, phát triển các loại hình bán lẻ  
hiện đại, chú trọng gia tăng các dịch vụ bán lẻ như bao gói, tiếp thị, đảm bảo  
7
giao hàng…  
Năm, Tính cạnh tranh trên thị trường bán lẻ ở nông thôn cũng đã có xu  
hướng tăng lên, đặc biệt là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bán lẻ. Cùng với xu  
hướng gia tăng tính cạnh tranh, các doanh nghiệp đã áp dụng nhiều biện pháp  
khác nhau để cung cấp nhiều hơn về thông tin sản phẩm, về chủng loại hàng hóa,  
về các dịch vụ bán lẻ,…  
Sáu, Thị trường bán lẻ ở nông thôn đã phát triển ổn định hơn cùng với xu  
hướng gia tăng thu nhập, quĩ mua của của người dân ở tốc độ cao và ổn định; xu  
hướng gia tăng nhanh của các nguồn cung hàng hóa trong nước và nhập khẩu.  
3. Những hạn chế và nguyên nhân  
Những hạn chế  
Một, Mặc dù qui mô thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn đã tăng  
nhanh trong giai đoạn vừa qua, nhưng qui mô thị trường nông thôn vẫn còn nhỏ.  
Nếu tính theo bình quân đầu người, thì qui mô và mật độ phân bố cầu về hàng  
hóa tiêu dùng ở nông thôn nhỏ và phân tán cao.  
Hai, Trong cơ cấu quĩ mua của dân cư nông thôn, tỷ lệ chi mua hàng hóa  
cho nhu cầu ăn, uống hút vẫn cao, nhất là khu vực nông thôn miền núi, vùng sâu,  
vùng xa. Đồng thời, tuy quĩ mua đồ dùng lâu bền của dân cư nông thôn đã tăng  
nhanh, nhưng quĩ mua bình quân đầu người vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức  
bình quân đầu người ở khu vực đô thị.  
Ba, Cơ sở hạ tầng nông thôn nói chung, hạ tầng thương mại nói riêng còn  
rất thiếu và yếu. Trên thị trường nông thôn vẫn tồn tại phổ biến các loại hình  
bán lẻ truyền thống (chợ, cửa hàng tư nhân), loại hình cửa hàng tự chọn  
chiếm 1,9% và siêu thị mới chỉ chiếm 0,42% số lượng cơ sở bán lẻ. Hơn nữa,  
qui mô của các cửa hàng bán lẻ phổ biến là qui mô hộ gia đình, sử dụng ít lao  
động và thiếu tính chuyên nghiệp. Chợ ở địa bàn nông thôn phân bố không  
đều, phần lớn chợ tập trung ở vùng nông thôn đồng bằng, còn tại địa bàn  
miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người thì mạng lưới chợ còn rất  
thưa thớt. Phần lớn chợ nông thôn có qui mô nhỏ, cơ sở vật chất - kỹ thuật lạc  
hậu, nghèo nàn, số chợ tạm còn nhiều; số chợ hoạt động kém, hoặc không hiệu  
quả.  
Bốn, Cùng với những hạn chế về phát triển loại hình bán lẻ và năng lực  
kinh doanh, khả năng cung cấp các dịch vụ bán lẻ của các cơ sở bán lẻ, kể cả các  
loại hình bán lẻ tiên tiến cũng chưa mang lại khả năng thỏa mãn tốt hơn nhu cầu  
mua sắm của người dân nông thôn. Đồng thời, người tiêu dùng nông thôn vẫn có  
thói quen mua sắm hàng hóa ở các cơ sở bán lẻ truyền thống, chưa quan tâm  
nhiều đến dịch vụ được cung cấp của các cơ sở bán lẻ.  
Năm, Áp lực cạnh tranh trên thị trường bán lẻ ở nông thôn hiện nay còn  
thấp. Trong khi lĩnh vực dịch vụ phân phối được xem là một trong những lĩnh  
vực có tính cạnh tranh cao, thì có đến 42,2% số đơn vị bán lẻ ở khu vực nông  
8
thôn hiện nay cho rằng sức ép cạnh tranh trên thị trường là bình thường.  
Sáu, Tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng quá hạn sử dụng, không rõ  
nguồn gốc xuất xứ,… vẫn còn khá phổ biến. Đây là những rủi ro mà người tiêu  
dùng ở nông thôn phải gánh chịu. Đồng thời, mối liên kết giữa các thương nhân  
bán buôn và bán lẻ, nhất là các hộ bán lẻ chưa chặt chẽ, do đó, mức độ rủi ro khi  
phát triển liên kết kinh doanh của các doanh nghiệp phân phối còn khá cao.  
Nguyên nhân  
Một, Mức GNP bình quân đầu người cả nước nói chung và của dân cư  
nông thôn thấp, ngưỡng thu nhập trung bình thấp. Theo phân loại mức thu nhập  
bình quân đầu người của Ngân hàng thế giới (WB): thu nhập “trung bình thấp”  
(bình quân từ 996 đến 3.945 USD/người/năm); thu nhập “trung bình cao” (bình  
quân từ 3.946 đến 12.195 USD/người/năm). Do đó, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa  
của dân cư nông thôn vẫn ở bậc thấp (theo thang nhu cầu của Maslow) – tỷ lệ chi  
cho nhu cầu cho ăn uống, hút cao, tập trung vào các mặt hàng giá rẻ, chất lượng  
thấp,...  
Hai, Qui mô dân số nông thôn đông gấp hơn 2 lần qui mô dân số đô thị,  
nhưng được phân bố trên diện tích lãnh thổ rộng lớn hơn nhiều lần. Hơn nữa,  
đặc điểm phân bố dân cư nông thôn, nhất là tại các vùng sâu, vùng xa mang tính  
phân tán cao.  
Ba, Các doanh nghiệp phân phối trong nước, nhất là các doanh nghiệp  
phân phối ở nông thôn phổ biến phát triển từ hoạt động kinh doanh của gia đình,  
có qui mô nhỏ, năng lực tài chính yếu, lao động phổ biến chưa qua đào tạo, năng  
lực cung cấp dịch vụ thấp,...Vai trò của thương mại nhà nước chỉ được phát huy  
ở cuối kênh tiêu thụ nông sản và mở đầu kênh phân phối hàng vật tư phục vụ sản  
xuất nông nghiệp. Hoạt động của thương mại tập thể chủ yếu là tham gia cung  
ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, một số hàng tiêu dùng thiết yếu; số  
hợp tác xã thương mại tham gia tiêu thụ nông sản và cung ứng hàng tiêu dùng  
còn ít. Số lượng thương nhân tại thị trường nông thôn (chủ yếu là cá nhân, hộ  
kinh doanh) phát triển nhanh, nhưng nặng về tự phát. Hầu hết các chủ thể tham  
gia thị trường đều trong tình trạng thiếu vốn, dẫn đến chậm đầu tư đổi mới trang  
thiết bị, thuê mua mở rộng mặt bằng sản xuất kinh doanh theo hướng quy mô  
lớn, văn minh hiện đại.  
Bốn, Lực lượng thương mại tư nhân, bên cạnh những mặt tích cực trong  
việc tiếp cận người tiêu dùng, cũng phát sinh không ít tiêu cực. Số vụ phát hiện  
bán hàng giả, hàng cấm sử dụng, hàng không bảo đảm chất lượng, không bảo  
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm... trên địa bàn nông thôn phần lớn thuộc khu vực  
thương mại tư nhân.  
9
4. Dự báo khối lượng nhu cầu một số mặt hàng lương thực-thực phẩm  
Bảng 1. Dự báo tổng khối lượng tiêu dùng một số mặt hàng lương thực,  
thực phẩm của khu vực nông thôn giai đoạn 2015-2020  
Tốc độ tăng  
Đơn  
2010  
2015  
2020  
vị  
11’-15’ 16’-20’  
Gạo các loại  
L.thực khác (quy gạo)  
Thịt các loại  
Mỡ, dầu ăn  
Tấn  
“
8380.1 7693.7 6200.8 -1.69% -4.22%  
655.8 641.1 645.9 -0.45% 0.15%  
1020.2 1139.8 1162.7 2.24% 0.40%  
“
1000l 218.6 213.7 193.8 -0.45% -1.94%  
Tấn 1020.2 1068.6 904.3 0.93% -3.28%  
1000q 1894.6 2350.8 2519.1 4.41% 1.39%  
Tôm, cá  
Trứng gia cầm  
Đậu phụ  
Tấn  
291.5 285.0 258.4 -0.45% -1.94%  
364.4 391.8 387.6 1.46% -0.22%  
Đường, mật, bánh kẹo,… Tấn  
Nước mắm, nước chấm  
Chè, cà phê  
Rượu, bia  
1000l 255.0 235.1 193.8 -1.62% -3.79%  
Tấn 72.9 71.2 64.6 -0.45% -1.94%  
1000l 510.1 498.7 516.7 -0.45% 0.71%  
1000l 291.5 356.2 516.7 4.09% 7.73%  
Đồ uống khác  
Đỗ các loại  
Tấn  
Tấn  
Tấn  
Tấn  
72.9  
72.9  
71.2  
71.2  
64.6  
64.6  
-0.45% -1.94%  
-0.45% -1.94%  
Lạc, vừng  
Rau các loại  
Quả chín  
1603.1 1638.5 1679.4 0.44% 0.49%  
583.0 605.5 645.9 0.76% 1.30%  
Nguồn: Phạm Hồng Tú, Dự báo chỉ để tham khảo  
Trong giai đoạn 2011 – 2020, khối lượng nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng  
lương thực, thực phẩm của dân cư nông thôn sẽ có xu hướng tăng, giảm theo  
từng mặt hàng cụ thể phù hợp với qui luật tiêu dùng các mặt hàng này khi thu  
nhập tăng. Cụ thể, tiêu dùng các sản phẩm lương thực tính bình quân đầu người  
tiếp tục giảm, trong đó tiêu dùng lương thực chưa qua chế biến tiếp tục giảm  
mạnh, nhưng lương thực đã qua chế biến tiếp tục có xu hướng tăng; tiêu dùng  
thịt và trứng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia đình  
và khối lượng tiêu dùng bình quân nhân khẩu tăng, tiếp đến là các loại khác như  
quả chín, rau, đồ uống…  
Trong giai đoạn 2011 – 2020, tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền và số lượng đồ  
dùng lâu bền tính trên 100 hộ ở nông thôn sẽ tiếp tục gia tăng do:  
10  
+ Các điều kiện cơ sở hạ tầng ở nông thôn tiếp tục được cải thiện cùng  
việc triển khai thực hiện chương trình nông thôn mới của Chính phủ và chiến  
lược phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành dịch  
vụ cơ sở hạ tầng như: cung cấp điện, nước, đường giao thông, đường truyền  
internet,...;  
+ Thu nhập và kiến thức tiêu dùng của người dân nông thôn tiếp tục được  
cải thiện tạo điều kiện để tăng nhanh quĩ mua hàng hoá lâu bền;  
+ Vòng đời sản phẩm của các hàng hoá lâu bền ngày càng rút ngắn do tốc  
độ áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ cao ngày càng nhanh hơn. Điều đó, một  
mặt sẽ góp phần hạ giá thành sản phẩm và giảm giá bán các mặt hàng thế hệ cũ,  
mặt khác thúc đẩy các nhà sản xuất kinh doanh phải đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ  
sản phẩm, đầu tư phát triển kênh phân phối sản phẩm ở khu vực nông thôn.  
Bảng 2. Dự báo khối lượng nhu cầu mua sắm một số đồ dùng lâu bền của  
các hộ gia đình ở nông thôn  
Đơn vị: 1000 chiếc  
2010  
14.7  
2015  
16.1  
2020  
Ô tô  
17.6  
638.1  
2332.8  
359.9  
359.6  
2688.7  
653.2  
820.6  
185.5  
560.7  
706.8  
Xe máy  
2714.8  
5028.5  
1164.3  
1205.2  
2196.6  
602.6  
424.6  
75.9  
983.4  
2908.5  
646.5  
599.0  
2287.5  
632.1  
677.8  
123.0  
506.8  
586.4  
Máy điện thoại  
Tủ lạnh  
Đầu video  
Tivi màu  
Dàn nghe nhạc các loai  
Máy vi tính  
Máy điều hòa nhiệt độ  
Máy giặt  
340.3  
317.0  
Bình tắm nước nóng  
Nguồn: Phạm Hồng Tú, Dự báo chỉ để tham khảo  
Tất cả những điều đó sẽ thúc đẩy nhu cầu mua sắm đồ dùng lâu bền của  
các hộ gia đình ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, tổng khối lượng sản phẩm lâu  
bền được mua sắm của các hộ gia đình ở nông thôn qua các năm sẽ tăng chậm,  
thậm chí giảm dần.  
5. Hàm ý Phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn  
Một, Phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn phù hợp với  
điều kiện và trình độ phát triển của từng vùng;  
Hai, Tái cơ cấu thị trường bán lẻ ở nông thôn bao gồm: Tái cơ cấu lực  
lượng tham gia bán lẻ trên thị trường nông thôn, Tái cơ cấu các kênh phân phối  
11  
theo ngành hàng trên thị trường; Tái cơ cấu các loại hình bán lẻ trên thị trường  
nông thôn;  
Ba, Tổ chức không gian thị trường bán lẻ ở nông thôn bao gồm: Một là,  
lấy đơn vị thôn, xóm, làng, bản làm không gian cơ sở để phát triển mạng lưới  
bản lẻ trên địa bàn nông thôn, lấy các trục giao thông liên thôn, liên xã có điều  
kiện và tiềm năng phát triển thương mại, tiếp tục phát triển các khu vực thị tứ  
(hoặc có điều kiện trở thành thị tứ) trở thành các điểm sáng trên thị trường nông  
thôn cả về tiêu thụ sản phẩm;  
Bốn, nâng cao thu nhập bằng tiền của dân cư khu vực nông thôn thông  
qua: Phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, qui mô lớn, Đẩy mạnh  
phát triển các ngành sản xuất phi nông nghiệp, tạo việc làm và nâng cao thu  
nhập của dân cư nông thôn; Đẩy mạnh phát triển các ngành sản xuất phi nông  
nghiệp, tạo việc làm và nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn  
Năm, phát triển cầu về hàng hóa tiêu dùng trên thị trường nông thôn  
thông qua: nâng cao mức độ tập trung cầu trên thị trường nông thôn, Hình thành  
các điểm nóng tiêu dùng để trở thành hạt nhân kích thích tiêu dùng hàng hóa và  
dịch vụ của dân cư ở khu vực nông thôn, Nâng cao hiểu biết về hàng hóa tiêu  
dùng, kiến thức tiêu dùng cho dân cư nông thôn, Khuyến khích người tiêu dùng  
ở nông thôn mở rộng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ bán lẻ…  
Lời kết:  
Phát triển nông nghiệp, nâng cao mức sống cho nông dân và xây dựng  
nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế -  
xã hội ở nước ta. Trong định hướng kinh tế thị trường, mục tiêu đề ra phải phát  
triển thị trường nông thôn nói chung và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông  
thôn nói riêng dựa trên các cơ sở khoa học và thực tiễn mới. Tuy nhiên, do nhiều  
nguyên nhân khác nhau, nhất là về phương diện tổ chức thị trường và cung ứng  
hàng hóa, nên thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn vẫn còn phát triển  
chậm và thiếu bền vững  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Công Thương (2010), Báo cáo tình hình thực hiện cuộc vận động  
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” 6 tháng đầu năm và kế hoạch  
triển khai 6 tháng cuối năm 2010, Hà Nội.  
2. Bộ Công Thương (2010), Đề án phát triển thương mại nông thôn giai  
đoạn 2009-2015 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội  
3. Bộ Thương mại (2006), Đề án phát triển thương mại trong nước đến  
năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội.  
4. Phạm Hồng Tú, 2010, Nghiên cứu giải pháp phát triển thị trường bán  
lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn thời kỳ 2010 - 2020, Đề tài khoa học cấp Bộ,  
2010, chủ nhiệm đề tài.  
12  
THAY ĐỔI THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ  
ThS. Nguyễn Thanh Lâm  
Trước sự phát triển nhanh của các nhà bán lẻ nước ngoài qua nhiều hình  
thức đầu tư khác nhau, đặc biệt là mua bán - sáp nhập, các nhà bán lẻ trong  
nước ngày càng tỏ ra “đuối sức”. Với tiềm lực tài chính còn hạn chế và thiếu  
kinh nghiệm so với doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp bán lẻ trong  
nước đang phải mở rộng hợp tác để tồn tại. Trong khi đó, các nhà đầu tư nước  
ngoài thì tận dụng mặt bằng và giấy phép của doanh nghiệp trong nước để mở  
rộng kinh doanh Thị trường bán lẻ Việt Nam năm 2014 và những ngày đầu năm  
nay đứng trước nhiều thông tin khác nhau, từ các thương vụ mua bán - sáp  
nhập, liên kết, bán cổ phần đến... đóng cửa.  
Siêu thị điện máy cạnh tranh dữ dội  
Tin Power Buy thuộc tập đoàn Central Group (Thái Lan), mua lại 49% cổ  
phần của Công ty Đầu tư phát triển công nghệ và giái pháp mới (NKT), thành  
viên của Nguyễn Kim Group - đơn vị đang sở hữu 21 trung tâm điện máy trong  
nước đã thu hút sự chú ý của nhiều doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đặt mục  
tiêu trở thành nhà bán lẻ điện máy hàng đầu Việt Nam với mức tăng trưởng từ  
30-50%, từ năm 2011 Nguyễn Kim lựa chọn chiến lược mở rộng hệ thống nhanh  
chóng. Cùng với quá trình “phình to” của mình, Nguyễn Kim hướng đến tham  
vọng doanh thu tăng lên 2 tỉ đô la Mỹ vào năm 2015 so với khoảng 400 triệu đô  
la Mỹ của năm 2011.  
Mục tiêu này của Nguyễn Kim đối mặt với nhiều khó khăn do thị trường  
điện máy trong nước năm 2012 suy thoái đến -20%, và hiện tại vẫn chưa hồi  
phục. Hầu hết các trung tâm kinh doanh điện máy rơi vào khủng hoảng.  
Cách để tồn tại, loại bỏ nhau mà các doanh nghiệp ngành này quen làm  
trong những năm qua và hiện nay là bán phá giá liên tục khiến những đối thủ yếu  
không chịu nổi. Việc này khiến giá nhiều sản phẩm thấp hơn giá niêm yết, bất  
chấp điều đó trái quy định của bên cung cấp.  
Hệ quả là từ năm 2013 đến nay khá nhiều siêu thị điện máy tầm cỡ cũng  
đổ gục: Ebest phải đóng cửa hai siêu thị điện máy ở Sài Gòn và Đà Nẵng, Home  
One lâm vào tình cảnh tương tự, trong khi hàng loạt siêu thị điện máy lớn khác  
như Pico, Việt Long, Trần Anh, Mediamart... thường xuyên chịu lỗ hoặc phải  
thu hẹp kinh doanh.  
Giới kinh doanh cho biết hiện còn nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh  
doanh điện máy có hệ thống siêu thị tại TPHCM, Hà Nội, Đà Nẵng và một số  
tỉnh thành khác đang ngắc ngoải với những khoản nợ lớn, bị ngân hàng cảnh  
báo, nhà cung cấp phong tỏa, nợ tiền thuê mặt bằng, hàng tồn kho cao... Điều  
13  
   
này sớm muộn sẽ dẫn đến việc đóng cửa hoặc chuyển nhượng cho đơn vị khác  
mà những doanh nghiệp nước ngoài luôn chiếm ưu thế mạnh về tài chính, kinh  
nghiệm.  
Vì vậy, với những người am hiểu mô hình kinh doanh điện máy, quyết  
định bán gần phân nửa cổ phần của Nguyễn Kim cho nước ngoài được xem khôn  
ngoan và không mấy bất ngờ. Sự kết hợp của hai nhà bán lẻ hàng đầu trong cùng  
ngành hàng này sẽ tạo một thế mạnh hơn và sẽ là đối thủ đáng gờm đối với các  
nhà bán lẻ điện máy trong nước hiện nay.  
Trung tâm thương mại để quảng bá sản phẩm?  
Việc Trung tâm Thương mại (TTTM) Parkson Landmark (Hà Nội) đột  
ngột đóng cửa ngay trong những ngày đầu năm mới nhằm cắt lỗ đã ảnh hưởng  
không nhỏ đến thương hiệu Parkson, làm nhiều người nghi ngờ về khả năng tồn  
tại của những trung tâm Parkson khác ở Việt Nam.  
Tuy nhiên, giới quan sát nhìn nhận trường hợp Parkson Landmark thực ra  
chỉ góp phần nối dài danh sách trung tâm mua sắm ở Hà Nội và TPHCM kinh  
doanh khó khăn phải đóng cửa, thu hẹp diện tích hoặc chuyển mục đích kinh  
doanh trong gần ba năm qua do tình trạng ế ẩm. Đơn cử như TTTM Thiên Sơn  
Plaza (quận 7, TPHCM) đã phải cơ cấu lại công năng sử dụng sau gần ba năm  
đeo bám và TTTM Pico Sài Gòn thì cho Lotte Mart thuê lại để kinh doanh siêu  
thị. Ngay cả Zen Plaza - một trong những TTTM hiện đại đầu tiên của TPHCM  
được nhà đầu tư Nhật Bản đặt nhiều tâm huyết để phát triển thành trung tâm thời  
trang lớn nhưng sau nhiều năm hoạt động cũng đã quyết định giảm phần lớn diện  
tích thương mại chuyển sang cho thuê văn phòng và tăng diện tích cho kinh  
doanh ẩm thực...  
Nguyên nhân thường được giới chuyên môn chỉ ra là do nhà quản lý của  
các TTTM này không chuyên nghiệp, vị trí kinh doanh không thuận lợi, định vị  
đối tượng khách hàng không phù hợp... Tuy nhiên, lý giải này xem ra không  
đúng trong trường hợp của Parkson Landmark hay Zen Plaza.  
Vậy lý do gì dẫn đến nhiều TTTM khó khăn? Kinh tế suy giảm, thu nhập  
tăng chậm đã khiến cho người tiêu dùng hạn chế chi tiêu cho mặt hàng thời trang  
và làm đẹp mà chỉ dồn lực vào những mặt hàng thiết yếu. Những mặt hàng thiết  
yếu này thường được bán ở các siêu thị hơn. Đại diện của một nhà kinh doanh  
TTTM lớn lâu năm cũng xác nhận thị trường bán lẻ Việt Nam được các tổ chức  
tư vấn đánh giá tăng trưởng khá và nhiều tiềm năng là chỉ đối với mảng kinh  
doanh siêu thị tổng hợp. Doanh nghiệp này cho hay, việc các doanh nghiệp thuê  
mặt bằng kinh doanh ở các TTTM phần lớn là làm thương hiệu, quảng bá sản  
phẩm chứ thực chất kinh doanh thua lỗ rất nhiều.  
Các TTTM còn gặp một số khó khăn khác là sản phẩm thời trang hàng  
hiệu ở Việt Nam giá cao hơn nhiều nước trong khu vực do bị đánh thuế nhập  
khẩu cao. Theo doanh nghiệp này, cùng dòng sản phẩm nhưng sản phẩm hàng  
14  
hiệu gồm quần áo, giày dép bán ở Việt Nam giá cao hơn các nước như Thái Lan,  
Malaysia, Singapore từ 25-35%. Đã thế phần lớn những sản phẩm bán ra thị  
trường trong nước còn lỗi mốt hơn các nước khác, trong khi những người có khả  
năng mua sắm những mặt hàng này thì rất sành điệu và nắm rõ được xu hướng  
thời trang của thế giới. Do đó, không ít người Việt sẵn sàng chi tiền vé bay đi  
Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, vừa mua được hàng giá rẻ, hợp mốt, vừa được  
chuyến du lịch.  
Một khó khăn nữa, theo các chuyên gia, tâm lý của đa phần người tiêu  
dùng là ngại mua hàng tại TTTM vì lo giá sẽ cao hơn so với mua ở ngoài do phải  
chịu phí thuê mặt bằng và phí dịch vụ cao hơn.  
Siêu thị tổng hợp không dành cho doanh nghiệp yếu  
Trong lĩnh vực phân phối hiện đại, mô hình kinh doanh siêu thị tổng hợp  
được xem là đang có phát triển nhanh và có sức mua tốt nhất hiện nay. Tuy  
nhiên, giới quan sát nhìn nhận mô hình kinh doanh này đang có cạnh tranh gay  
gắt giữa các nhà bán lẻ lớn trong và ngoài nước, không thích hợp cho những  
doanh nghiệp yếu về tài chính, thương hiệu lẫn kinh nghiệm. Điều này đã lý giải  
vì sao hàng loạt doanh nghiệp kinh doanh siêu thị chưa tạo được thương hiệu lớn  
đang dần rút lui khỏi thị trường trong thời gian gần đây hoặc chuyển hướng hợp  
tác với những đối thủ mạnh hơn để tồn tại.  
Đơn cử như Công ty Ocean Retail (ORC) - đơn vị có hệ thống bán lẻ  
Ocean Mart gồm chín siêu thị và bốn cửa hàng tiện lợi ở khu vực phía Bắc đã  
bán đến 70% vốn cho tập đoàn Vingroup để đổi thành hệ thống siêu thị VinMart.  
Với tiềm lực tài chính mạnh, mới đây, Vingroup tiếp tục mua lại cả hệ thống  
kinh doanh 79 Mart của Alphanam.  
Hay chuỗi siêu thị Citimart với gần 30 điểm bán được đổi thành Aeon  
Citimart khi quyết định hợp tác với “lão làng” bán lẻ Nhật Bản, tập đoàn Aeon,  
với việc hợp tác này, Aeon sở hữu 49% cổ phần của Citimart. Lãnh đạo hệ thống  
kinh doanh có 20 năm kinh nghiệm này khẳng định trong bối cảnh cạnh tranh  
khốc liệt với các tập đoàn bán lẻ trong và ngoài nước hiện nay, Citimart không  
thể đứng độc lập mà phải liên kết với doanh nghiệp khác để tạo ra sự khác biệt  
và chuyên nghiệp hơn.  
Các nhà đầu tư nước ngoài đang muốn mua lại hoặc hợp tác để tận dụng  
mặt bằng và giấy phép của doanh nghiệp trong nước. Giới quan sát cho rằng nếu  
việc hợp tác không thuận lợi, chuyện các nhà bán lẻ nước ngoài mua luôn phần  
góp của doanh nghiệp trong nước là khó tránh khỏi.  
Bên cạnh việc cung ứng hàng hóa đảm bảo chất lượng, thì yếu tố giá bán  
được xem là cạnh tranh nhất để kéo khách hàng.  
Để có được hàng hóa với giá bán thấp, không phải hệ thống siêu thị nào  
cũng làm được nếu không mạnh về thương hiệu, kinh doanh tốt và đặc biệt là có  
hệ thống bán hàng rộng khắp  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 176 trang Thùy Anh 14740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Hội thảo Thị trường bán lẻ Việt Nam trong giai đoạn hội nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoi_thao_thi_truong_ban_le_viet_nam_trong_giai_doan_hoi_nhap.pdf